Vầng trăng của ngoại là bài đọc 2 của Bài 13 (Yêu kính ông bà) trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 1, trang 107–108. Bài giải gồm Đọc hiểu, Luyện tập và các mục học ngay sau bài đọc ở trang 109–111: Kể chuyện theo tranh, Bài viết 2 (việc em quan tâm, chăm sóc ông bà), Góc sáng tạo Quà tặng ông bà và Tự đánh giá.

Đọc: Vầng trăng của ngoại (trang 107–108)
Câu chuyện viết theo Lê Thanh Nga, có 2 đoạn. Đoạn 1: kì nghỉ hè, hai chị em My và Bin về quê ở với ông ngoại, cả ngày được làm bao việc vui cùng ông. Đoạn 2: một đêm My thức giấc, thấy ánh sáng bên bàn tưởng là trăng, hoá ra là ngọn đèn ông thắp để ngồi khâu quần cho em Bin.
Từ ngữ SGK giải nghĩa:
- Chõng: đồ dùng bằng tre nứa, để nằm hoặc ngồi, hình dáng giống cái giường nhưng hẹp và thấp hơn.
- Quầng sáng: vùng sáng toả rộng quanh một vật phát sáng trong đêm.
- Ngoại: ông ngoại hoặc bà ngoại (gọi tắt).
Gợi ý đọc: đoạn 1 đọc vui; đoạn 2 đọc chậm, nhẹ. Lời ông đọc khẽ, dịu dàng; câu cuối của My đọc vui, trìu mến.
Nội dung chính bài Vầng trăng của ngoại
Câu chuyện kể những ngày hè vui vẻ của hai chị em My bên ông ngoại. Ông vừa chơi, vừa dạy các cháu, lại lặng lẽ thức khuya khâu áo quần cho cháu. Bài đọc ca ngợi tình yêu thương, sự chăm sóc chu đáo của ông dành cho cháu; với My, ông dịu dàng, ấm áp như ánh trăng.
Đọc hiểu (trang 108)
Câu 1 (trang 108): Nghỉ hè, ba má cho chị em My về quê ở với ai?
Trả lời: Hai chị em về quê ở với ông ngoại.
Câu 2 (trang 108): Hằng ngày, ba ông cháu làm gì?
Trả lời:
- Sáng sớm: nghe gà gáy, hai chị em dậy gấp chăn màn rồi cùng ông tập thể dục ngoài sân.
- Sau bữa sáng: ông dẫn hai cháu ra vườn quét lá, vun gốc cho cây và tìm hái trái chín.
- Buổi tối: ông cháu mang chõng tre ra sân, ông chỉ cho hai cháu nhận ra từng ngôi sao trên bầu trời đến tận khuya.
Câu 3 (trang 108): Quầng sáng My nhìn thấy khi tỉnh giấc là gì? Chọn ý đúng:
a) Vầng trăng lọt vào nhà.
b) Ánh trăng chiếu vào nhà.
c) Ánh sáng từ chiếc đèn bàn của ông.
Trả lời: Ý đúng là c. Lúc đầu My tưởng là trăng, nhưng ông bảo đó là đèn bàn. Ông che đèn cẩn thận để ánh sáng không làm hai cháu thức giấc khi ông ngồi khâu quần.
Luyện tập (trang 108–109)
Câu 1 (trang 108): Đặt một câu nói về tình cảm của ông với hai cháu thể hiện qua câu chuyện trên.
Trả lời: Em có thể đặt một trong các câu:
- Ông ngoại rất yêu thương và chăm lo cho hai cháu.
- Ông thức khuya khâu quần cho Bin vì ông thương cháu lắm.
Câu 2 (trang 108): Dùng từ chỉ đặc điểm, nêu nhận xét của em về câu nói của bạn My: “Ngoại ơi, hoá ra đấy là vầng trăng của ngoại!”.
M: Câu nói của bạn My rất hay!
Trả lời: Em dùng một từ chỉ đặc điểm khác, ví dụ:
- Câu nói của bạn My rất dễ thương!
- Câu nói của bạn My thật ngộ nghĩnh!
- Câu nói của bạn My rất tình cảm, vì bạn ví ông như vầng trăng hiền dịu.
Câu 3 (trang 109): Dấu câu nào phù hợp với ô trống: dấu chấm hay dấu chấm hỏi?
Trung mới vào lớp 1 nên chưa biết viết☐ Em nhờ chị viết giúp lá thư thăm ông bà☐ Chị viết xong, hỏi:
– Em còn muốn thêm gì nữa không☐
– Chị viết thêm cho em: Cháu xin lỗi ông bà vì chữ cháu còn xấu ạ.
Trả lời:
- Ô 1: dấu chấm (câu kể, đã hết ý: Trung chưa biết viết).
- Ô 2: dấu chấm (câu kể việc Trung nhờ chị viết thư).
- Ô 3: dấu chấm hỏi (câu chị hỏi Trung).
Kể chuyện (trang 109)
Câu 1 (trang 109): Kể từng đoạn của câu chuyện Vầng trăng của ngoại theo tranh:
Tranh 1 (ông và hai cháu tập thể dục trước nhà): Ba má cho chị em My về quê ở với ông ngoại bao lâu? Sáng sớm, ba ông cháu làm gì?
Tranh 2 (My quét lá, ông xới đất vun cây, Bin nhặt quả): Ăn sáng xong, ba ông cháu làm gì?
Tranh 3 (ba ông cháu ngồi trên chõng tre ngắm sao): Buổi tối, ba ông cháu làm gì?
Tranh 4 (My nằm trên giường nhìn ông ngồi khâu bên đèn bàn): Một đêm, My tỉnh giấc, nhìn thấy gì? Hai ông cháu nói gì?
Trả lời: Ví dụ em kể:
- Tranh 1: Hè này, ba má cho My và em Bin về quê chơi với ông ngoại mười lăm ngày. Sáng nào gà gáy là hai chị em dậy ngay, cùng ông vươn vai tập thể dục ngoài sân.
- Tranh 2: Ăn sáng xong, ông dẫn hai cháu ra vườn. My cầm chổi quét lá, ông xới đất vun gốc, Bin chạy đi tìm những quả chín.
- Tranh 3: Tối đến, ông kê chiếc chõng tre ra giữa sân. Ông chỉ cho hai cháu từng vì sao lấp lánh. Chơi đến khuya, hai chị em vào nhà là ngủ say ngay.
- Tranh 4: Có đêm My thức dậy, thấy chỗ bàn sáng lên, tưởng trăng vào nhà, liền gọi ông. Ông khẽ bảo cháu ngủ đi, đó chỉ là đèn bàn. My nhìn kĩ thì thấy ông đang ngồi vá chiếc quần rách cho Bin. My cười, nói với ông rằng đó chính là vầng trăng của ông.
Câu 2 (trang 109): Kể lại toàn bộ câu chuyện.
Trả lời: Em nối 4 đoạn trên thành một câu chuyện liền mạch, thêm từ nối như Thế là, Rồi, Một đêm nọ. Khi kể, giọng My ngạc nhiên, giọng ông nhẹ nhàng.
Bài viết 2 (trang 110)
Câu 1 (trang 110): Kể một việc em đã làm thể hiện sự quan tâm, chăm sóc ông bà.
Gợi ý: – Việc đó là việc gì? – Em làm việc đó như thế nào? – Ông bà khen em thế nào? – Em đáp lại lời khen của ông bà thế nào?
Tranh: một bạn trai giơ bức tranh vẽ ong, chuồn chuồn cho ông bà xem, bà giơ tay khen.
Trả lời: Ví dụ: Hôm bà bị cảm, tớ lấy khăn ấm đắp lên trán bà, rót nước mời bà uống thuốc và ngồi quạt cho bà ngủ. Bà khen tớ ngoan, biết chăm bà như người lớn. Tớ nói: Cháu cảm ơn bà, bà mau khỏi ốm để kể chuyện cho cháu nghe nhé!
Câu 2 (trang 110): Dựa vào những điều vừa kể, viết 4 – 5 câu về một việc em đã làm thể hiện sự quan tâm, chăm sóc ông bà.
Trả lời: Đoạn văn mẫu:
Chủ nhật vừa rồi, ông nội em bị đau lưng. Em lấy dầu xoa lưng và bóp vai cho ông. Buổi trưa, em bưng cơm và lấy cốc nước ấm mời ông. Ông xoa đầu em, khen: Cháu ông ngoan quá, ông đỡ đau nhiều rồi! Em thưa với ông là em sẽ chăm sóc ông nhiều hơn nữa.
Góc sáng tạo: Quà tặng ông bà (trang 110–111)
Câu 1 (trang 110): Em hãy làm một món quà tặng ông bà.
Gợi ý: – Làm một tấm thiếp, trang trí bằng ảnh hoặc tranh vẽ ông (bà),… – Làm một sản phẩm thủ công từ đất sét nặn, tranh cắt dán,… – Viết lời tặng, lời chúc ông (bà) gắn vào sản phẩm.
Tranh gợi ý: hoa, chậu xương rồng, đĩa quả nặn bằng đất, tranh vẽ ông bà.
Trả lời: Ví dụ em làm thiếp: gấp đôi tờ giấy bìa màu, mặt ngoài vẽ ông bà đang cười, mặt trong viết lời chúc. Hoặc em nặn một đĩa quả bằng đất nặn (cam, nho, măng cụt) đặt lên tấm bìa nhỏ, bên cạnh dán mảnh giấy ghi: Cháu tặng ông bà đĩa quả may mắn. Chúc ông bà luôn mạnh khoẻ!
Câu 2 (trang 111): Các tổ (nhóm) trưng bày và giới thiệu sản phẩm.
M: Tấm thiếp có tranh ông và dòng chữ: Cháu chúc mừng sinh nhật ông. Ông ơi, cháu kính chúc ông thật khoẻ mạnh ạ! Cháu…
Hai bạn giới thiệu: “Còn 6 ngày nữa là sinh nhật ông tôi 70 tuổi. Tôi làm một tấm thiếp và vẽ………..” và “Tớ làm tặng bà một con gấu nặn bằng đất sét. Bà thường gọi tớ là “gấu con” mà……….”
Trả lời: Em giới thiệu ngắn gọn theo mẫu: món quà tặng ai, nhân dịp gì, em làm bằng gì, em viết lời chúc gì. Ví dụ: Tớ làm tặng bà ngoại một tấm thiếp có dán hoa giấy, vì tuần sau là ngày của ông bà. Bên trong tớ viết: Cháu chúc bà luôn vui, khoẻ và sống thật lâu với con cháu.
Câu 3 (trang 111): Cả lớp bình chọn những sản phẩm đẹp, có nội dung hay. Mang món quà của em về tặng ông bà.
Trả lời: Cả lớp xem các góc trưng bày, bình chọn sản phẩm đẹp, lời chúc hay. Về nhà, em hai tay trao quà và nói lời chúc với ông bà.
Tự đánh giá (trang 111)
Xem bài tự kiểm tra chi tiết kèm đáp án: Tự đánh giá trang 111 lớp 2: Em đã biết những gì, làm được những gì? – Cánh diều.
Sau Bài 12 và Bài 13, em tự đánh giá theo bảng trong SGK:
| Đã biết những gì? | Đã làm được những gì? |
| a) Các chữ hoa: K, L | a) Viết các chữ hoa K, L |
| b) Chúc, chúc mừng | b) Nói và đáp lại lời chúc, chúc mừng |
| c) Câu tả đặc điểm: Ai thế nào? | c) Hỏi và trả lời câu hỏi Ai thế nào? |
| d) Truyện, thơ, bài hát, tranh ảnh về ông bà; bài viết, tranh ảnh về cách chăm sóc ông bà | d) Chia sẻ ý kiến về một bài hát hay; viết, vẽ, làm quà tặng ông bà |
Việc nào chưa chắc (ví dụ đặt câu hỏi Thế nào?, viết chữ hoa K) thì xem lại bài Bà kể chuyện (Bài 12) và luyện thêm.
Bài đọc 1 của Bài 13 là bài thơ Bà nội, bà ngoại (trang 104–107). Các bài khác của chủ điểm Em ở nhà xem trong mục lục Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều.