Văn Cao (1923 – 1995) là nghệ sĩ đa tài của Việt Nam hiện đại: nhạc sĩ sáng tác Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam, đồng thời là họa sĩ và nhà thơ có bài Thời gian được học trong sách Ngữ văn 11, 12. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Cao, sinh ở Hải Phòng, quê gốc Nam Định; thơ ông ít về số lượng nhưng đi trước thời đại về cách viết. Bài viết của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp âm nhạc – thơ ca, phong cách và tác phẩm của Văn Cao trong sách giáo khoa.
Văn Cao là ai?
Văn Cao là người hiếm hoi để lại dấu ấn lớn ở cả ba ngành nghệ thuật: âm nhạc, hội họa và thơ. Công chúng biết ông trước hết qua Tiến quân ca và những tình khúc như Thiên Thai, Trương Chi, nhưng với người học văn, ông là tác giả của tập thơ Lá và bài thơ Thời gian. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

| Tên khai sinh | Nguyễn Văn Cao |
| Bút danh | Văn Cao (rút từ họ tên khai sinh) |
| Năm sinh – năm mất | 15/11/1923 – 10/7/1995 (mất tại Hà Nội) |
| Quê quán | Sinh tại Lạch Tray, Hải Phòng; quê gốc thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) |
| Thể loại | Thơ, trường ca; ca khúc, hành khúc, trường ca âm nhạc; hội họa |
| Tác phẩm tiêu biểu | Thơ: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Ngoại ô mùa đông 1946, Những người trên cửa biển, tập Lá, bài Thời gian. Nhạc: Tiến quân ca, Thiên Thai, Trương Chi, Trường ca Sông Lô, Mùa xuân đầu tiên |
| Giải thưởng | Huân chương Độc lập hạng nhất (1993); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, 1996) |
| Trong SGK hiện hành | Thời gian (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo; Ngữ văn 12 Cánh diều) |
Ông lớn lên ở thành phố cảng Hải Phòng, nơi cuối thập niên 1930 tập trung nhiều nhạc sĩ tân nhạc tiên phong. Biển và những người lao động ở cửa biển sau này trở thành đề tài của bản trường ca thơ quan trọng nhất đời ông.
Cuộc đời Văn Cao qua các mốc chính
Đời Văn Cao nhiều thăng trầm: nổi tiếng từ tuổi đôi mươi, dấn thân vào cách mạng, rồi có gần ba mươi năm lặng lẽ trước khi được công chúng đón nhận trở lại. Các mốc dưới đây đối chiếu giữa trang Bảo tàng Văn học Việt Nam, Wikipedia và báo Tuổi Trẻ.
- 1923: sinh ngày 15/11 tại Lạch Tray, Hải Phòng.
- Cuối thập niên 1930: tham gia nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng, viết ca khúc đầu tay Buồn tàn thu; bắt đầu làm thơ.
- Đầu thập niên 1940: lên Hà Nội, vừa vẽ tranh vừa sáng tác nhạc và thơ; tranh của ông có mặt ở triển lãm Salon Unique.
- Cuối năm 1944: tham gia Việt Minh; nhiệm vụ đầu tiên là viết một hành khúc, đó là Tiến quân ca.
- 1945: viết bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc về nạn đói.
- 1956: in trường ca thơ Những người trên cửa biển và bài Anh có nghe không (Giai phẩm mùa Xuân).
- Cuối thập niên 1950: vắng bóng trên báo chí văn nghệ, sống bằng vẽ minh họa, viết nhạc phim, nhạc không lời.
- 1988: “năm của Văn Cao”: hơn 60 đêm nhạc Văn Cao trên cả nước, tập thơ Lá và tập nhạc Thiên Thai ra mắt.
- 1993: được tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.
- 1995: mất ngày 10/7 tại Hà Nội.
- 1996: được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I.

Những năm im lặng giải thích phần nào vì sao thơ Văn Cao đến với bạn đọc muộn. Nhiều bài viết từ thập niên 1960, 1970 nằm trong sổ tay của ông, mãi đến năm 1988 mới in thành tập Lá. Cũng vì thế, nhiều người chỉ biết Văn Cao nhạc sĩ mà chưa biết Văn Cao nhà thơ.
Sự nghiệp sáng tác của Văn Cao
Âm nhạc. Văn Cao viết không nhiều ca khúc nhưng hầu như bài nào cũng thành kinh điển. Ở mảng tình ca có Buồn tàn thu, Suối mơ, Bến xuân, Thiên Thai, Trương Chi; ở mảng hùng ca có Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam, Trường ca Sông Lô. Sau ngày thống nhất, ca khúc Mùa xuân đầu tiên ra đời (thường ghi năm 1976, có tài liệu ghi viết cuối năm 1975), sau gần hai mươi năm ông hầu như không viết ca khúc mới. Theo báo Văn hóa, nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định Văn Cao đứng số một về tình ca lãng mạn, hành khúc và trường ca.
Hội họa. Văn Cao từng dự triển lãm Salon Unique với những bức sơn dầu như Cuộc khiêu vũ của những người tự tử (1944). Họa sĩ Tạ Tỵ cho rằng ông là người rất sớm đưa trường phái lập thể vào hội họa Việt Nam.
Thơ ca. Đây là mảng sáng tác kéo dài nhất của Văn Cao, từ những bài thơ đầu tay cuối thập niên 1930 đến những bài viết vào năm 1994, một năm trước khi ông mất. Toàn bộ di sản chỉ khoảng 60 bài thơ và vài trường ca, nhưng đi qua nhiều chặng: lãng mạn kiểu Thơ mới (1939 – 1941), hiện thực ám ảnh những năm 1945 – 1946, trường ca về người Hải Phòng (1956), rồi những bài thơ ngắn, cô đọng, nhiều tầng nghĩa của thời kỳ sau. Các tập thơ đã in gồm Lá (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1988) và Tuyển tập thơ Văn Cao (Nhà xuất bản Văn học, 1994).
Danh mục bài thơ và phần giới thiệu từng bài có trong bài tuyển tập thơ Văn Cao hay nhất.
Các tác phẩm tiêu biểu của Văn Cao
Thời gian (1987)
Bài thơ tự do rất ngắn, in trong tập Lá, đặt hai vế đối lập: thời gian làm khô lá, làm kỷ niệm rơi vào quên lãng, nhưng câu thơ, bài hát và đôi mắt người yêu thì “còn xanh”. Hai dòng mở đầu:
Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Đọc thêm tác giả, tác phẩm, bố cục bài Thời gian, bài phân tích Thời gian và toàn văn bài thơ.
Lá (1988)
Tập thơ gồm 28 bài viết trong gần nửa thế kỷ, từ 1941 đến 1987. Đây là tập thơ riêng đầu tiên của Văn Cao, ra đời khi ông đã 65 tuổi, gói lại những suy tư về thời gian, thân phận và cái đẹp của một người nghệ sĩ từng trải.
Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945)
Viết giữa nạn đói năm 1945, bài thơ dựng cảnh chiếc xe chở xác người chết đói lăn qua một khu phố ăn chơi. Hình ảnh ma quái, gần với siêu thực, cho thấy Văn Cao đã bước ra khỏi lối thơ lãng mạn để nhìn thẳng vào hiện thực đau thương.
Những người trên cửa biển (1956)
Trường ca thơ về Hải Phòng và người lao động nơi cửa biển, in năm 1956 trong tập thơ chung với Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt. Đây là một trong những tác phẩm dài hơi nhất của ông, cho thấy tư duy trường ca mà ông đã thử nghiệm trước đó trong âm nhạc.
Tiến quân ca (1944)
Hành khúc Văn Cao viết cuối năm 1944, khi vừa tham gia Việt Minh và được giao nhiệm vụ sáng tác một bài ca cho phong trào. Bài hát trở thành quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và từ năm 1976 là Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là tác phẩm âm nhạc gắn với tên tuổi ông nhiều nhất.
Phong cách nghệ thuật của Văn Cao
- Thơ – nhạc – họa hòa làm một: câu thơ giàu màu sắc, hình khối như tranh và có nhạc điệu bên trong; ngược lại, lời ca của ông nhiều chất thơ.
- Hình ảnh lạ, nhiều tầng nghĩa: từ cảnh ma quái trong Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc đến biểu tượng giếng cạn, giếng nước trong Thời gian.
- Ngắn, cô đọng ở chặng sau: thơ thời kỳ sau ít vần, ngắt dòng bất ngờ, dồn ý vào vài hình ảnh, buộc người đọc tự giải mã.
- Suy tư về thời gian và cái đẹp: tin rằng nghệ thuật và tình yêu là những gì còn lại sau sự tàn phai.
- Tư duy trường ca: ở cả nhạc (Trường ca Sông Lô) lẫn thơ (Những người trên cửa biển), ông là người mở đường cho thể loại dài hơi. Tham khảo thêm bài nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao.
Nhận định về Văn Cao
Nói về những bài thơ đầu tay Văn Cao viết trong khoảng 1939 – 1941 (Li khách, Ai về Kinh Bắc, Đêm mưa…), nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân có một cảm nhận được báo Văn hóa dẫn lại:
“Nó đẹp một nỗi buồn xa vắng.”
Lời nhận xét ấy chỉ đúng với chặng thơ lãng mạn đầu tiên. Có thể nói thêm (nhận xét của người biên tập, không trích của ai): từ năm 1945, thơ Văn Cao chuyển sang hiện thực và suy tưởng, rồi càng về sau càng ngắn, càng cô đọng; sự đổi mới không ngừng ấy làm ông trở thành một gương mặt tiên phong của thơ hiện đại Việt Nam.
Thơ của Văn Cao trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Bài thơ | Lớp – bộ sách | Bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Thời gian | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 2 – Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình (thực hành đọc) | Soạn bài Thời gian |
| Thời gian | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 8 – Cái tôi – Thế giới độc đáo (văn bản đọc) | Soạn bài Thời gian |
| Thời gian | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 2 | Bài 8 – Thơ hiện đại (thực hành đọc hiểu) | Thời gian: tác giả, tác phẩm |
Khi ôn tập, học sinh nên ghi nhớ năm sáng tác (1987, in trong tập Lá năm 1988) và cấu tứ đối lập giữa sức tàn phá của thời gian với những giá trị “còn xanh”.
Tóm tắt tiểu sử Văn Cao ngắn gọn
Văn Cao (1923 – 1995), tên khai sinh Nguyễn Văn Cao, sinh ở Lạch Tray, Hải Phòng, quê gốc thôn An Lễ, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông là nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, tác giả Tiến quân ca (1944) – Quốc ca Việt Nam – cùng nhiều tình khúc như Thiên Thai, Trương Chi và Trường ca Sông Lô. Về thơ, ông có Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945), trường ca Những người trên cửa biển (1956), tập Lá (1988) với bài Thời gian. Sau nhiều năm lặng lẽ, năm 1988 âm nhạc và thơ ông được công chúng đón nhận trở lại. Ông mất ngày 10/7/1995 tại Hà Nội và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Câu hỏi thường gặp về Văn Cao
Văn Cao tên thật là gì?
Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Cao.
Văn Cao quê ở đâu?
Ông sinh ở Lạch Tray, Hải Phòng; quê gốc thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình).
Văn Cao sinh năm bao nhiêu, mất năm nào?
Ông sinh ngày 15/11/1923 và mất ngày 10/7/1995 tại Hà Nội.
Văn Cao là nhạc sĩ hay nhà thơ?
Cả hai, và còn là họa sĩ. Ông nổi tiếng nhất với âm nhạc (Tiến quân ca, Thiên Thai), nhưng làm thơ suốt đời và có tập thơ Lá cùng bài Thời gian được học trong chương trình Ngữ văn.
Bài thơ Thời gian của Văn Cao viết năm nào?
Bài thơ được viết năm 1987 và in trong tập Lá (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1988).
Văn Cao được nhận giải thưởng gì?
Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996, trước đó được tặng Huân chương Độc lập hạng nhất (1993).
Lời kết
Người ta hát nhạc Văn Cao nhiều hơn đọc thơ ông, nhưng chính thơ mới là nơi tác giả Văn Cao gửi gắm những suy tư sâu kín nhất về thời gian và con người. Đọc thêm các bài thơ tiêu biểu trong tuyển tập thơ Văn Cao.
Xem thêm: Giới thiệu tác giả Nguyễn Đình Thi · Tiểu sử nhà thơ Quang Dũng · Giới thiệu nhà thơ Huy Cận