Nhà văn Thanh Quế kể có lần gặp ông đi bộ thật chậm trên hè phố Lý Thường Kiệt, miệng lẩm nhẩm, đi một đoạn lại quay về, rồi bất chợt ngẩng lên cười và rảo bước về nhà: một truyện ngắn vừa thành hình trong đầu. Người đàn ông ấy là Nguyễn Thành Long (1925 – 1991), nhà văn chuyên viết truyện ngắn và bút ký, tác giả Lặng lẽ Sa Pa, truyện ngắn mà nhiều thế hệ học sinh đã học, và cũng là người từng dịch Hoàng tử bé sang tiếng Việt.
Người Quảng Nam lớn lên ở Quy Nhơn

| Tên | Nguyễn Thành Long |
| Bút danh khác | Lưu Quỳnh, Phan Minh Thảo |
| Năm sinh – năm mất | 1925 – 6/5/1991 (Wikipedia ghi ngày sinh 16/6/1925 ở phần tiểu sử, 16/11/1925 ở hộp thông tin) |
| Quê quán | Sinh ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; gốc gia đình và tuổi nhỏ ở Quy Nhơn, Bình Định |
| Thể loại | Truyện ngắn, bút ký, truyện vừa; dịch thuật |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bát cơm Cụ Hồ, Gió bấc gió nồm, Chuyện nhà chuyện xưởng, Giữa trong xanh (có Lặng lẽ Sa Pa), Nửa đêm về sáng, Lý Sơn mùa tỏi |
| Giải thưởng | Giải thưởng Phạm Văn Đồng của Chi hội Văn nghệ Liên khu V (1953); Huân chương Lao động hạng Nhì (truy tặng 2008) |
| Trong SGK hiện hành | Lặng lẽ Sa Pa (Ngữ văn 8 Kết nối tri thức) |
Ông sinh ở Duy Xuyên, Quảng Nam, trong một gia đình công chức nhỏ gốc Quy Nhơn. Báo Bình Định viết rằng tuy quê Quảng Nam, ông sống và đi học ở Quy Nhơn từ nhỏ nên có rất nhiều kỷ niệm với thành phố biển này. Nhà văn Thanh Quế thì kể ông là người làng Kim Bồng ven Hội An, cùng quê với Nhất Linh và Thạch Lam, và nhận thấy văn của Nguyễn Thành Long với Thạch Lam có chỗ giống nhau: êm đềm, man mác buồn như chính xứ sở của họ.
Từ báo Thanh Nghị đến Liên khu V
Năm mười tám tuổi, ông ra Hà Nội học và viết cho báo Thanh Nghị (1943). Trước Cách mạng tháng Tám, ông có viết theo khuynh hướng lãng mạn, nhưng những trang ấy chưa để lại dấu ấn gì đáng kể.
Sau Cách mạng, ông về Nam Trung Bộ, tham gia hoạt động văn nghệ suốt những năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) và thực sự bắt đầu sự nghiệp viết văn từ đây. Tập truyện ngắn Ta và chúng nó, truyện vừa Khúc hát của người cán bộ cùng ra năm 1950. Tập bút ký Bát cơm Cụ Hồ (1952) mang về cho ông Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Chi hội Văn nghệ Liên khu V trao năm 1953.
Tập kết ra Bắc: biên tập, viết và dạy viết văn
Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc, chuyên sáng tác và làm biên tập ở các báo, nhà xuất bản. Có thời gian ông dạy ở trường bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du. Hơn ba mươi năm ở miền Bắc là quãng ông viết đều nhất:
| Năm | Tác phẩm | Thể loại |
|---|---|---|
| 1956 | Gió bấc gió nồm | Bút ký |
| 1957 | Hướng điền | Tập truyện ngắn |
| 1962 | Chuyện nhà chuyện xưởng | Tập truyện ngắn |
| 1963 | Trong gió bão | Truyện vừa |
| 1964 | Gang ra | Bút ký |
| 1967 | Những tiếng vỗ cánh | Tập truyện ngắn |
| 1972 | Giữa trong xanh | Tập truyện ngắn |
| 1978 | Nửa đêm về sáng | Tập truyện ngắn |
| 1980 | Lý Sơn mùa tỏi | Tập truyện ngắn |
| 1984 | Sáng mai nào, xế chiều nào | Tập truyện ngắn |
Nhìn danh mục có thể thấy ông theo sát đời sống miền Bắc những năm xây dựng: nhà máy, công trường, hợp tác xã. Nhưng thứ ông quan tâm hơn cả vẫn là con người, nhất là những người lặng lẽ làm việc ở những nơi ít ai để ý.
Mùa hè 1970 ở Lào Cai và Lặng lẽ Sa Pa
Mùa hè năm 1970, ông có chuyến đi thực tế lên Lào Cai. Từ chuyến đi ấy ra đời truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, in trong tập Giữa trong xanh (1972). Wikipedia xếp đây là truyện ngắn tiêu biểu hơn cả cho lối viết của ông.
Truyện gần như không có biến cố. Trên chuyến xe lên Sa Pa, bác lái xe giới thiệu với ông họa sĩ già và cô kỹ sư trẻ một anh thanh niên hai mươi bảy tuổi, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu, sống một mình trên đỉnh núi cao 2.600 mét, từng chặn xe chỉ vì “thèm người”. Cuộc gặp kéo dài chừng ba mươi phút. Anh kể về công việc, khoe vườn hoa, biếu trứng, biếu tam thất, rồi từ chối để ông họa sĩ vẽ mình, giới thiệu những người khác đáng vẽ hơn.

Từ một cuộc gặp ngắn như thế, Nguyễn Thành Long dựng nên chân dung những người lao động thầm lặng, xa nhà, xa đám đông mà vẫn thấy công việc của mình có ý nghĩa. Cách kể nhẹ nhàng, nhiều chất thơ, để nhân vật hiện lên qua mắt người khác, là chỗ làm truyện sống lâu.
Lặng lẽ Sa Pa trong sách giáo khoa Ngữ văn 8
Lặng lẽ Sa Pa từng học ở lớp 9 trong chương trình cũ. Chương trình 2018 đưa truyện vào lớp 8:
| Văn bản | Sách – bài học | Đọc thêm trên Văn VN |
|---|---|---|
| Lặng lẽ Sa Pa | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 6 (Chân dung cuộc sống) | Soạn bài Lặng lẽ Sa Pa |
Muốn nắm nhanh xuất xứ, bố cục, nội dung, có bài Lặng lẽ Sa Pa: tác giả – tác phẩm và bài tóm tắt Lặng lẽ Sa Pa. Cần dàn ý, văn mẫu thì xem phân tích truyện Lặng lẽ Sa Pa; luyện viết đoạn đầu, đoạn cuối có các mẫu mở bài và kết bài Lặng lẽ Sa Pa.
Mang trái tim đi khắp nơi
Con gái ông, Nguyễn Thị Quê Hương, giáo sư vật lý ở Đại học Marshall (Mỹ), kể với báo Bình Định rằng cha hay nói làm nghề văn là mang trái tim mình đi khắp nơi, nghe phản ứng của nó, và viết. Đi thực tế, ông bước vào một căn nhà có treo ảnh anh bộ đội, ngồi xuống và hỏi câu đầu tiên: anh chị ở được với nhau bao lâu thì anh đi? Người phụ nữ òa khóc và kể hết. Bà nhớ những ngày ba mươi Tết, cha nằm dài buồn bã vì thấy cả năm mình chẳng làm được gì.
Nhà chật, xung quanh ồn, ông thường viết về đêm. Thanh Quế tả căn hộ nhỏ ở tầng hai phố Dã Tượng, nơi bốn người sống chung, và cách ông làm việc: viết tay, sửa, đánh máy, rồi lại sửa trên bản đánh máy, đến mức như thuộc lòng trang viết của mình. Ông chỉ đi bộ khi nghĩ truyện; ngày thường vẫn đạp xe và còn dặn đàn em phải giữ xe cẩn thận.
Văn ông trong trẻo, nhẹ, man mác buồn, nhân vật thường là những người cô độc trong những hoàn cảnh khác nhau. Thanh Quế cho rằng chính vì truyện ông không ồ ạt, phấn chấn mà có những lần ông bị hiểu lầm, bị phê phán đến lao đao. Ông cũng là người biên tập kỹ: tháng 7/1975 ở Đà Nẵng, ông góp ý với Thanh Quế nên bớt từ địa phương trong lời kể, chỉ dùng những chữ thật đắt trong đối thoại, vì Xuân Diệu, khi ấy là thư ký tòa soạn tạp chí Tác phẩm mới, đã nhờ ông đọc lại truyện của người viết trẻ.
Người dịch Hoàng tử bé
Ngoài sáng tác, Nguyễn Thành Long còn dịch văn học Pháp. Ông dịch hai tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry: Hoàng tử bé và Quê xứ con người (nguyên tác Terre des hommes). Báo Tuổi Trẻ, khi điểm lại các bản dịch Saint-Exupéry ở Việt Nam, nhắc tên ông cùng Bùi Giáng, Vĩnh Lạc, Trác Phong.
Đặt cạnh Lặng lẽ Sa Pa, lựa chọn ấy không có gì lạ. Cả hai đều kể về những cuộc gặp ngắn ngủi giữa người với người ở một nơi xa xôi, và đều tin rằng điều quan trọng nhất thường không nằm ở bề ngoài.
Căn gác phố Dã Tượng
Xa quê từ năm 1954, ông luôn khắc khoải về ông bà, cô chú còn ở Quy Nhơn; ông đặt tên con gái đầu là Quê Hương vì thế. Cuối tháng 3/1975, các phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam chạy đến báo tin Quy Nhơn sắp được giải phóng và xin bài gấp. Ông thức trắng đêm, năm giờ sáng đặt dấu chấm cuối cùng cho bài bút ký. Sau ngày 30/4, ông cùng vợ vào Nam tìm lại gia đình. Những năm sau, Quy Nhơn trở lại nhiều lần trong truyện của ông, như Lý Sơn mùa tỏi hay câu chuyện tình trên đảo cù lao Xanh ngoài khơi Quy Nhơn mà ông viết năm 1983.
Những năm cuối, ông thường đau ốm. Ông mất ngày 6/5/1991 tại Hà Nội, lặng lẽ như cách ông sống: lúc ấy vợ ông đang đi công tác ở nước ngoài, một cô con gái du học, cô còn lại vẫn đang đi học. Năm 2008, Nhà nước truy tặng ông Huân chương Lao động hạng Nhì. Hai người con gái của ông, Quê Hương và Hoa Hồng, đều trở thành nhà vật lý. Nhiều năm sau, Quê Hương vẫn nhớ tiếng bước chân chậm rãi của cha trên chiếc cầu thang cót két, như thể ngay cả lúc đi ông cũng đang nghĩ ngợi.