Tháng 9/1971, trong lá thư gửi người bạn gái thời học sinh, một tân binh mười chín tuổi hẹn rằng đến ngày 30/4/1975 anh sẽ trả lời câu hỏi “hạnh phúc là gì”. Người viết lá thư ấy là Nguyễn Văn Thạc (1952 – 1972), liệt sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, sinh viên khoa Toán – Cơ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tác giả cuốn nhật ký Chuyện đời, in năm 2005 với nhan đề Mãi mãi tuổi hai mươi. Anh hy sinh ở Quảng Trị ngày 30/7/1972, chưa tròn hai mươi tuổi, gần ba năm trước cái ngày đã hẹn.
Cậu học trò làng Bưởi giỏi văn nhất miền Bắc

| Tên | Nguyễn Văn Thạc |
| Năm sinh – năm mất | 14/10/1952 – 30/7/1972 |
| Quê quán | Làng Bưởi, Hà Nội; thời chiến gia đình sơ tán về Cổ Nhuế (Từ Liêm) |
| Học vấn | Giải Nhất học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc năm học 1969 – 1970; sinh viên năm thứ nhất khoa Toán – Cơ, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội |
| Thể loại | Nhật ký, thư |
| Tác phẩm | Nhật ký Chuyện đời (viết 1971 – 1972), in thành sách Mãi mãi tuổi hai mươi (NXB Thanh niên, 2005; Đặng Vương Hưng sưu tầm, giới thiệu) |
| Ghi nhận | Mãi mãi tuổi hai mươi: Giải Đặc biệt, Giải thưởng Sách Việt Nam lần thứ nhất; một trong 10 sự kiện văn hóa tiêu biểu năm 2005 |
| Trong SGK | Mãi mãi tuổi hai mươi (Ngữ văn 10 KNTT); Trên những chặng đường hành quân (Ngữ văn 12 CTST) |
Theo Wikipedia, anh là con thứ mười trong một gia đình thợ thủ công đông con. Khi chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc, gia đình phải bán xưởng dệt nhỏ, sơ tán về quê ở Cổ Nhuế, rồi nhanh chóng sa sút. Cậu học trò vừa đi học vừa làm thêm giúp bố mẹ, ngày ngày đi bộ đến trường cấp III Yên Hòa B, ngày nghỉ lại đi bộ hàng chục cây số lên Thư viện Hà Nội đọc sách.
Anh học giỏi đều nhưng mê nhất môn văn, có thơ văn in báo từ thời phổ thông. Năm học 1969 – 1970, năm cuối cấp, anh đoạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc. Báo VietTimes khi giới thiệu ảnh tư liệu về lớp lính sinh viên cũng nhắc lại chi tiết anh từng là học sinh giỏi văn nhất miền Bắc. Vậy mà người giỏi văn ấy lại thi vào khoa Toán – Cơ, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa 15.
Từ giảng đường Toán – Cơ đến đường ra Quảng Trị
Năm 1971, chiến trường miền Nam cần thêm quân cho các chiến dịch năm 1972. Từ năm 1970 đến 1972, theo báo Pháp luật Việt Nam, hơn mười nghìn sinh viên các trường đại học ở Hà Nội lên đường, và hơn một nửa không trở về. Ngày 6/9/1971, Nguyễn Văn Thạc nhập ngũ cùng nhiều bạn cùng khóa. Trong nhật ký, anh ghi lại buổi ra quân hôm ấy, khi Hà Nội mưa trắng trời.
Sau mấy tháng huấn luyện ở các làng quê Bắc Giang, Bắc Ninh, tháng 4/1972 đơn vị anh lên tàu vào Nam. Theo Wikipedia, ở ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), trước khi vào chiến trường Quảng Trị, anh gửi cuốn nhật ký cùng nhiều lá thư về cho người anh trai ở Hà Nội. Ngày 30/7/1972, anh hy sinh trong những ngày chiến đấu ác liệt ở Quảng Trị; báo Pháp luật Việt Nam viết anh là chiến sĩ thông tin, trúng một loạt đạn pháo. Anh nhập ngũ chưa được mười một tháng.
Chuyện đời: hai trăm bốn mươi trang viết dọc đường hành quân
Cuốn sổ anh đặt tên Chuyện đời dày khoảng 240 trang viết tay. Trang đầu đề ngày 2/10/1971. Về ngày cuối thì các nguồn ghi hơi khác: Wikipedia và VietTimes ghi những dòng cuối viết ngày 3/6/1972 ở ngã ba Đồng Lộc, báo Sài Gòn Giải Phóng và An ninh Thủ đô ghi “đến cuối tháng 5/1972”. Dù tính theo cách nào, đó là gần tám tháng, từ lúc nhập ngũ đến trước ngày vào trận.
Báo An ninh Thủ đô cho biết anh viết khi nghỉ chân ở các làng Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tĩnh, trên tàu, giữa những đêm gác. Đọc nhật ký, người ta gặp một sinh viên Toán viết văn như một nhà thơ: những trang tả trăng, tả cánh đồng, tả những gia đình cho bộ đội ở nhờ xen với những trang tự vấn rất nghiêm về lẽ sống, về trách nhiệm của tuổi trẻ. Có những đoạn như lời trăng trối, như câu anh tự hỏi nếu mình không trở lại thì ai sẽ thay anh viết tiếp những dòng sau, và ước rằng những trang giấy còn lại sẽ toàn những dòng vui vẻ.
Nhận xét của người biên tập, không trích của ai: điều làm cuốn nhật ký sống lâu có lẽ là sự không hoàn hảo của nó. Đây không phải một tác phẩm được viết để in. Nó có lúc vụng, lúc lặp, lúc lý tưởng đến ngây thơ, nhưng chính vì thế mà đáng tin.
Như Anh và lời hẹn ngày 30/4/1975
Người con gái trong nhiều trang nhật ký và thư là Phạm Thị Như Anh, bạn gái thời học sinh của anh. Trong những đoạn thư được báo Pháp luật Việt Nam trích lại, anh nhắc nơi hai người hẹn gặp là ô cửa sổ sơn xanh của thư viện, và chiếc áo màu xanh da trời anh hay mặc trở thành một hình ảnh trở đi trở lại. Lá thư mà Wikipedia ghi ngày 18/9/1971, được báo Pháp luật Việt Nam trích lại, có lời hẹn kỳ lạ về ngày 30/4/1975, như thể người viết đoán trước ngày đất nước thống nhất.
Chị Như Anh sau đó đi học ở Liên Xô. Báo Pháp luật Việt Nam kể chị chuyển nhà khoảng năm mươi lần qua nhiều nước, nhưng luôn mang theo một chiếc va li nhỏ đựng kỷ vật của anh: thư, nhật ký, chiếc áo xanh. Wikipedia ghi thư và nhật ký được gia đình anh cùng chị Như Anh lưu giữ, đến năm 2005 mới được công bố.
Ba mươi ba năm sau: Chuyện đời thành Mãi mãi tuổi hai mươi
Đầu năm 2005, nhà văn, đại tá Đặng Vương Hưng đang làm bộ sách “Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam”. Trả lời báo Nhân Dân, ông kể người thân của liệt sĩ gửi đến bản photo cuốn sổ 240 trang, và ông nhận ra đó là những trang tuyệt bút. Để biến cuốn sổ tay thành sách, ông biên tập, viết lời giới thiệu và đặt cho nó tên mới: Mãi mãi tuổi hai mươi. Nhà xuất bản Thanh niên in sách năm 2005, kèm nhiều thư và ảnh của tác giả.
Cuốn sách lập tức thành hiện tượng. Cùng với Nhật ký Đặng Thùy Trâm ra đời cùng năm, nó được Bộ Văn hóa – Thông tin chọn là một trong mười sự kiện văn hóa tiêu biểu năm 2005, rồi nhận Giải Đặc biệt của Giải thưởng Sách Việt Nam lần thứ nhất. Báo Sài Gòn Giải Phóng và An ninh Thủ đô cùng dẫn lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Tôi tin rằng tấm gương của hai liệt sĩ (Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc) sẽ góp phần trau dồi thêm lý tưởng và tình cảm cách mạng cho mỗi người chúng ta”.
Năm 2025, đúng hai mươi năm sau lần in đầu, Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản cuốn nhật ký, có chỉnh lý và bổ sung hình ảnh, thư tay, tư liệu do gia đình cung cấp.
Nhật ký Nguyễn Văn Thạc trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Nội dung chính | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Mãi mãi tuổi hai mươi (trích) | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 9 (Hành trang cuộc sống), đọc mở rộng | Kỷ niệm ngày nhập ngũ, chia tay bạn bè; suy nghĩ về lẽ sống của tuổi trẻ | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Trên những chặng đường hành quân | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 4 (Sự thật và trang viết) | Hai trang nhật ký ngày 2/10/1971 và 10/4/1972: buổi gác đầu tiên, chuyến tàu vào Nam | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
Ở lớp 12, đoạn trích được học trong bài về phóng sự và nhật ký, nên câu hỏi trọng tâm là tính xác thực: người viết ghi lại những gì mình thực sự thấy, nghĩ, theo ngày tháng cụ thể. Trang ngày 10/4/1972 có những chi tiết rất đời: đơn vị dừng ở ga Quán Hành (Nghệ An), ở nhờ nhà dân và bất ngờ biết đó là nhà của thầy giáo dạy Toán cũ của anh. Ở lớp 10, đoạn trích lại được đặt trong chủ đề hành trang cuộc sống, gợi học sinh nghĩ về cách sống của chính mình.
Học xong hai đoạn trích, nên đọc thêm Nhật kí Đặng Thùy Trâm, văn bản trong Ngữ văn 12 Cánh diều. Một người là sinh viên Toán ra trận ở Quảng Trị, một người là nữ bác sĩ ở chiến trường Quảng Ngãi; hai cuốn nhật ký ra mắt cùng năm 2005 và thường được nhắc cùng nhau. Đặt cạnh nhau, chúng cho thấy cùng một thế hệ nhưng hai giọng viết, hai số phận rất khác.
Xem thêm: