Bài chiếu chỉ có 214 chữ Hán, vậy mà nó quyết định nơi đặt kinh đô của nước Việt suốt nhiều thế kỷ sau. Lý Công Uẩn (974 – 1028), tức vua Lý Thái Tổ, là người sáng lập triều Lý và là tác giả của Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), văn bản ông tự tay viết năm 1010 để bàn với triều thần việc rời Hoa Lư ra thành Đại La. Ông không để lại thơ văn nào khác được ghi nhận chắc chắn, nên nói tới Lý Công Uẩn như một tác giả cũng là nói tới câu chuyện quanh một bài chiếu duy nhất.
Cậu bé được nuôi trong chùa ở Cổ Pháp

| Tên thật | Lý Công Uẩn |
| Miếu hiệu, niên hiệu | Lý Thái Tổ; niên hiệu Thuận Thiên (1010 – 1028) |
| Năm sinh – năm mất | 974 (ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất) – tháng 3 năm Mậu Thìn (1028) |
| Quê quán | Châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay thuộc vùng Từ Sơn, Bắc Ninh) |
| Thể loại | Chiếu (văn bản nhà vua ban xuống), viết bằng chữ Hán |
| Tác phẩm | Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô, năm 1010) |
| Trong SGK hiện hành | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1; Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 (thực hành đọc) |
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, mẹ ông họ Phạm. Khi lên ba tuổi, cậu bé được mẹ bế đến nhà Lý Khánh Văn, người về sau nhận cậu làm con nuôi. Thuở nhỏ, Công Uẩn theo học ở chùa Lục Tổ; nhà sư Vạn Hạnh gặp cậu đã khen là người khác thường, sau này có thể làm chủ thiên hạ. Lớn lên, sử chép ông không chăm việc làm ăn, chỉ thích đọc qua kinh sử, khảng khái có chí lớn.
Chi tiết “đọc qua kinh sử” đáng nhớ khi đọc Chiếu dời đô: bài chiếu mở đầu bằng điển tích nhà Thương, nhà Chu, cho thấy người viết thuộc sử sách Trung Hoa đủ để dùng chúng làm lý lẽ.
Từ Điện tiền chỉ huy sứ đến ngôi vua năm 1009
Lý Công Uẩn làm quan dưới triều Tiền Lê. Khi vua Lê Trung Tông bị em là Lê Long Đĩnh giết, các quan bỏ chạy cả, chỉ mình ông ôm xác vua mà khóc. Long Đĩnh lại khen ông là người trung, giao chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, sau thăng lên Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, tức chỉ huy quân túc vệ trong cung.
Mùa đông năm Kỷ Dậu 1009, Lê Long Đĩnh (người đời gọi là Lê Ngọa Triều) mất. Triều thần, do Đào Cam Mộc khởi xướng, tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Ông đại xá thiên hạ, lấy năm sau làm năm Thuận Thiên thứ nhất. Toàn thư còn chép những lời sấm, điềm lạ quanh việc ông lên ngôi; các sử gia đời sau như Ngô Thì Sĩ đã nghi rằng đó là dư luận được tạo ra từ phía nhà chùa. Dù sao, việc thay triều diễn ra êm, không có đổ máu lớn.
Hoa Lư chật hẹp và một quyết định lớn
Kinh đô Hoa Lư thời Đinh và Tiền Lê nằm giữa núi đá vôi, dễ phòng thủ nhưng khó mở mang. Toàn thư ghi rằng vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của bậc đế vương, muốn dời đô đi nơi khác, nên tự tay viết chiếu.
Sử không ghi rõ tháng ban chiếu. Trong Toàn thư, bài chiếu đứng sau mục tháng 2 và trước mục tháng 7 năm Canh Tuất (1010), nên nhiều tài liệu ghi “mùa xuân năm 1010”. Chỉ biết chắc rằng chiếu ra trước, rồi đến mùa thu tháng 7 cùng năm thì việc dời đô được thực hiện. Đọc trong bối cảnh ấy, Chiếu dời đô không phải bản tổng kết sau sự việc, mà là một lời đề nghị, một lập luận gửi tới những người còn có thể phản đối.
214 chữ của Thiên đô chiếu
Bài chiếu được chép sớm nhất trong Đại Việt sử ký toàn thư. Đếm theo bản chữ Hán, toàn văn có 214 chữ, con số mà báo VnExpress cũng nêu khi đưa tin về mộc bản năm 2010. Bố cục chia làm ba đoạn rõ ràng:
| Đoạn | Nội dung | Cách lập luận |
|---|---|---|
| 1 | Các triều đại xưa ở Trung Hoa đã nhiều lần dời đô | Dẫn chứng lịch sử: nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần |
| 2 | Hai nhà Đinh, Lê cứ đóng yên ở Hoa Lư nên triều đại ngắn ngủi | Đối chiếu với thực tế nước mình, bày tỏ nỗi đau xót của người viết |
| 3 | Thành Đại La có thế đất tốt nhất, nên định đô ở đó | Phân tích địa lợi, rồi hỏi ý kiến bề tôi |
Câu mở đầu, phiên âm Hán Việt:
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên,
Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ.
Đoạn tả thành Đại La là đoạn đẹp nhất. Nói gọn bằng lời hôm nay: vùng đất ấy nằm ở trung tâm, có thế long bàn hổ cứ (rồng cuộn hổ ngồi), có sông trước núi sau, mặt đất vừa rộng phẳng vừa cao ráo nên dân không phải lo lụt, sản vật dồi dào. Lý lẽ địa lý, kinh tế và cả quan niệm phong thủy được gói trong vài câu biền ngẫu.
Thể chiếu, nhưng giọng của người bàn bạc
Chiếu là thể văn nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Thông thường nó mang giọng ra lệnh, từ trên xuống. Chiếu dời đô thì khác. Toàn thư gọi đây là “thủ chiếu”, tức chiếu vua tự tay viết, và cái dấu ấn cá nhân ấy hiện rõ trong câu chữ. Ở đoạn hai, người viết xưng “trẫm” và nói mình rất đau xót về vận nước ngắn ngủi của hai triều trước (nguyên văn: Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ, đại ý: trẫm đau lòng lắm, buộc phải dời đi).
Câu kết lại càng lạ: sau khi đưa đủ lý lẽ, nhà vua không ra lệnh mà hỏi: trẫm muốn dựa vào thế đất thuận lợi ấy mà đặt kinh đô, ý các khanh ra sao? Một bản chiếu khép lại bằng câu hỏi khiến lời vua giống một cuộc bàn bạc hơn là mệnh lệnh. Theo Toàn thư, quần thần đều tâu rằng bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế lâu dài, ai dám không theo.
Muốn so sánh, có thể đọc một bài chiếu ra đời gần tám trăm năm sau là Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm, cũng là lời vua (vua Quang Trung) nhưng mục đích là kêu gọi người tài ra giúp nước.
Rồng vàng hiện, Đại La thành Thăng Long
Mùa thu tháng 7 năm 1010, vua từ Hoa Lư dời đô ra thành Đại La. Toàn thư kể khi thuyền vua vừa ghé chân thành, người ta thấy rồng vàng hiện lên bên thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành là Thăng Long, nghĩa là rồng bay lên. Cùng lúc, quê ông là châu Cổ Pháp được đổi làm phủ Thiên Đức, còn Hoa Lư đổi làm phủ Trường Yên.
Năm 2010, dịp kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV ở Đà Lạt công bố phát hiện một ván khắc in toàn văn bài chiếu, nằm trong kho Mộc bản triều Nguyễn. Hà Nội ngày nay có tượng đài Lý Thái Tổ bên hồ Hoàn Kiếm. Về ý nghĩa văn hóa của vùng đất ấy qua nghìn năm, học sinh lớp 12 có thể đọc thêm bài Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: một hằng số văn hóa Việt Nam.
Sử thần nhìn vị vua mở đầu nhà Lý
Lý Thái Tổ ở ngôi đến năm 1028 thì mất tại điện Long An, thọ 55 tuổi, táng ở Thọ Lăng. Các sử thần đời sau đánh giá ông không hoàn toàn một chiều. Ngô Sĩ Liên khen việc vua nhận mệnh, dời đô yên nước, có lòng nhân thương dân, coi đó là mưu lược của bậc đế vương, nhưng chê ông quá ham chuộng đạo Phật, đạo Lão. Lê Văn Hưu thì phê phán nặng hơn: mới lên ngôi được hai năm đã cho dựng tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, tốn kém sức dân. Hai nhận xét ấy giúp ta nhìn ông như một con người cụ thể chứ không chỉ là biểu tượng.
Với văn học, vị trí của ông gắn với một văn bản. Nhưng đó là văn bản mà người Việt nhắc tới mỗi lần nói về lịch sử Thăng Long, và là một trong những bài văn chính luận chữ Hán sớm nhất còn giữ được nguyên vẹn.
Chiếu dời đô trong sách giáo khoa
| Sách – bài học | Vị trí | Bài trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1 – Bài 5 (Nghị luận xã hội) | Thực hành đọc hiểu | Soạn bài Chiếu dời đô |
| Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3 (Lời sông núi) | Thực hành đọc | Soạn bài Chiếu dời đô |
Ở cả hai bộ sách, Chiếu dời đô đứng cạnh Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, nên học sinh hay phải so sánh hai thể văn: chiếu là lời vua ban xuống, hịch là lời chủ tướng kêu gọi. Bài chiếu có nhiều bản dịch, câu chữ khác nhau đôi chút, chẳng hạn câu kết; khi làm bài nên trích đúng bản in trong sách mình học.