Làng là truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kim Lân, được học ở Bài 4 “Truyện ngắn” sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập 1). Bài viết tổng hợp những điều cần nắm về tác giả, hoàn cảnh ra đời, tình huống truyện, bố cục đoạn trích, giá trị nội dung, nghệ thuật, kèm sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt ngắn.

Nội dung văn bản Làng
Văn bản trong sách Cánh diều được lược bớt phần mở đầu, nơi tác giả kể chuyện ông Hai rời làng đi tản cư và cái tật thích khoe làng của ông, bắt đầu từ lúc ông lão rời phòng thông tin với tâm trạng phấn khởi. Ở quán nước, ông nghe một người đàn bà tản cư nói cả làng Chợ Dầu đã theo Tây. Tin ấy giáng xuống như sét đánh: “Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được.”
Những ngày sau đó, ông Hai sống trong nỗi nhục nhã và sợ hãi, không dám ra khỏi nhà, nơm nớp lo người ta bàn tán. Mụ chủ nhà bóng gió đuổi khéo gia đình ông. Bế tắc, ông thoáng nghĩ quay về làng nhưng gạt ngay, vì trở về lúc này đồng nghĩa với quay lưng lại cuộc kháng chiến; ông tự nhủ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Ông chỉ biết thủ thỉ với thằng con út để giãi bày lòng mình với kháng chiến, với Cụ Hồ. Cuối truyện, ông chủ tịch làng lên cải chính tin đồn; ông Hai hớn hở đi khoe nhà mình bị Tây đốt nhẵn và lại say sưa kể chuyện làng đánh giặc. Lời giải chi tiết từng câu hỏi có trong bài Soạn bài Làng.
Thông tin tác giả Kim Lân
Kim Lân (1920 – 2007) có tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ra và lớn lên ở làng Phù Lưu thuộc vùng Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, một vùng quê giàu truyền thống văn hóa Kinh Bắc. Gia cảnh nghèo khiến ông phải sớm thôi học sau bậc tiểu học, đi làm thuê với đủ nghề, từ sơn guốc đến khắc tranh bình phong.
Ông đến với văn chương từ đầu những năm 1940, có truyện in trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật. Sáng tác thời kì này thường viết về sinh hoạt thôn quê với những thú chơi dân dã như đánh vật, chọi gà, nuôi chim. Sau Cách mạng tháng Tám, ông dấn thân vào công tác văn nghệ cho cuộc kháng chiến, vừa viết văn, làm báo, vừa diễn kịch và đóng phim; vai lão Hạc trong bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy là một vai diễn được nhiều người nhớ.
Kim Lân viết không nhiều nhưng hầu như mỗi truyện đều có chỗ đứng riêng. Gần như toàn bộ trang viết của ông dành cho làng quê và những người dân quê mà ông thực sự hiểu, thực sự gắn bó. Văn ông mộc mạc, đậm chất khẩu ngữ, đặc biệt sắc sảo khi lần theo từng biến chuyển trong lòng nhân vật.
Tác phẩm chính: tập truyện ngắn Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962), trong đó có truyện nổi tiếng Vợ nhặt. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Thông tin tác phẩm Làng
Những mục dưới đây trả lời các câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu truyện ngắn Làng.
Truyện ngắn Làng được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
Làng ra đời năm 1948, trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, và được in lần đầu trên tạp chí Văn nghệ cùng năm. Lúc ấy, theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến, rất nhiều người dân vùng địch tạm chiếm phải rời làng đi tản cư. Kim Lân đã lấy chất liệu từ chính đời sống của những người nông dân tản cư ấy, nắm bắt một nét tâm lí rất thật: tình yêu làng gắn với niềm tin vào kháng chiến.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: truyện ngắn.
- Phương thức biểu đạt: tự sự là chính, xen miêu tả và biểu cảm.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba, nhưng điểm nhìn chủ yếu đặt vào nhân vật ông Hai, nên người đọc theo sát được dòng suy nghĩ của ông.
Tình huống truyện Làng là gì?
Ông Hai vốn yêu làng và luôn tự hào về làng kháng chiến của mình thì bất ngờ nghe tin chính làng Chợ Dầu theo giặc. Tình huống này đặt tình yêu làng và tình yêu nước của nhân vật vào thế xung đột, buộc ông phải lựa chọn. Câu chuyện được giải quyết khi tin đồn được cải chính, tạo nên bước ngoặt vỡ òa ở cuối truyện.
Bố cục truyện Làng có mấy phần?
Văn bản trong sách Cánh diều chia làm 3 phần, đúng theo các số thứ tự đánh trong văn bản:
- Phần 1 (từ đầu đến chỗ ông Hai cúi gằm mặt đi về, thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà): ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc ở quán nước.
- Phần 2 (từ “Về đến nhà” đến chỗ nỗi khổ trong lòng ông vợi đi đôi phần): tâm trạng đau đớn, nhục nhã, bế tắc của ông Hai những ngày sau đó.
- Phần 3 (còn lại): tin làng theo giặc được cải chính, niềm vui sướng và tự hào của ông Hai.
Giá trị nội dung
Qua nhân vật ông Hai, truyện thể hiện chân thực, cảm động tình yêu làng gắn bó máu thịt với lòng yêu nước, với niềm tin theo cách mạng của người dân quê Việt Nam thời chống Pháp. Tình yêu làng ở ông Hai không còn là thứ tình cảm hẹp hòi, tự mãn mà đã được nâng lên, hòa vào tình yêu Tổ quốc: khi phải chọn, ông đặt kháng chiến lên trên làng. Truyện cũng cho thấy sự đổi mới trong nhận thức của người nông dân sau Cách mạng.
Giá trị nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính, thắt nút và mở nút tự nhiên.
- Khắc họa thế giới bên trong nhân vật sâu sắc qua ý nghĩ, cử chỉ, hành động, lời tự nói với mình và những dòng suy nghĩ thầm kín.
- Ngôn ngữ nhân vật đậm khẩu ngữ nông thôn Bắc Bộ, mang dấu ấn cá tính từng người.
- Cách kể chuyện linh hoạt, kết hợp lời người kể với lời nhân vật, giọng văn hóm hỉnh mà thấm thía.
Ý nghĩa nhan đề Làng
Nhà văn không đặt tên Làng Chợ Dầu mà chỉ gọi là Làng. Nhan đề khái quát ấy cho thấy truyện không chỉ kể chuyện một ngôi làng cụ thể, mà nói về tình cảm với làng quê của cả lớp người nông dân Việt Nam; đồng thời gợi chủ đề: tình yêu làng thống nhất với tình yêu nước.
Sơ đồ tư duy Làng
Sơ đồ dưới đây gom các ý chính về tác giả, hoàn cảnh, thể loại, bố cục, nội dung và nghệ thuật để em ôn nhanh.

Tóm tắt truyện Làng
Dưới đây là hai cách tóm tắt văn bản Làng trong sách, độ dài khác nhau để em chọn dùng. Muốn xem thêm nhiều mẫu, em đọc bài Tóm tắt Làng.
Mẫu 1 – Tóm tắt Làng ngắn nhất
Đang ở nơi tản cư, ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc nên đau khổ, nhục nhã, không dám đi đâu và bị chủ nhà đuổi khéo. Dù bế tắc, ông vẫn quyết không về làng vì không thể bỏ kháng chiến. Khi tin đồn được cải chính, ông vui sướng đi khoe nhà mình bị Tây đốt.
Mẫu 2 – Tóm tắt Làng đầy đủ
Ông Hai là người làng Chợ Dầu, rất yêu và hay khoe làng. Kháng chiến bùng nổ, ông phải theo gia đình đi tản cư, ngày ngày ra phòng thông tin nghe tin tức. Một hôm, ngồi ở quán nước, ông nghe người dưới xuôi lên nói cả làng mình theo Tây. Ông lặng người, lảng về nhà, nằm vật ra giường, vừa thương con vừa căm giận những kẻ phản bội. Suốt mấy ngày, ông chỉ ru rú trong nhà, sợ người ta bàn tán, sợ nhất là mụ chủ nhà; quả nhiên, mụ tìm cách đuổi khéo cả nhà ông. Không còn chỗ dung thân, ông thoáng muốn về làng nhưng gạt ngay, vì như thế là phản bội cách mạng và Cụ Hồ. Ông chỉ còn biết tâm sự với thằng con út để tỏ lòng mình. Rồi ông chủ tịch làng lên cải chính tin đồn. Ông Hai mừng rỡ, mua quà cho con và đi khắp nơi khoe nhà mình bị Tây đốt nhẵn, coi đó là bằng chứng làng mình vẫn kháng chiến.
Lời kết
Làng là truyện ngắn xuất sắc của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp. Khi học, em cần nắm chắc tình huống truyện, ba chặng tâm trạng của ông Hai và biệt tài soi vào lòng người của Kim Lân.
Xem thêm:
- Soạn bài Làng (Kim Lân) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Phân tích truyện ngắn Làng – Dàn ý và bài văn mẫu
- Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng
- Vợ nhặt (Kim Lân): tác giả, tác phẩm
- Mở bài Làng (Kim Lân) hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Làng (Kim Lân) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề