Tương truyền, có lần Lý Bạch lên lầu Hoàng Hạc, ngắm sông Hán Dương, định đề thơ, rồi thấy bài thơ đã đề sẵn trên lầu, bèn bỏ đi không viết nữa. Bài thơ ấy là Hoàng Hạc lâu, người viết là Thôi Hiệu. Thôi Hiệu (崔顥, khoảng 704 – 754) là nhà thơ thời thịnh Đường, người Biện Châu (nay là Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Ông chỉ còn để lại bốn mươi hai bài thơ, ít hơn rất nhiều so với những tên tuổi cùng thời, nhưng chỉ riêng Hoàng Hạc lâu đã đủ để tên ông đứng cạnh Lý Bạch, Đỗ Phủ trong mọi tuyển tập thơ Đường.
Biện Châu, khoa thi năm 723 và mấy dòng trong chính sử

| Tên | Thôi Hiệu (崔顥); có tài liệu phiên âm là Thôi Hạo |
| Năm sinh – năm mất | Khoảng 704 – 754 (năm sinh không chắc chắn) |
| Quê | Biện Châu (nay là Khai Phong, Hà Nam, Trung Quốc) |
| Đỗ đạt, chức vụ | Đỗ Tiến sĩ năm 723 (niên hiệu Khai Nguyên thứ 11; có tài liệu ghi 722); chức cuối cùng là Tư huân viên ngoại lang |
| Thể loại | Thơ Đường: cổ thể, nhạc phủ, luật thi; Toàn Đường thi chép 42 bài |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hoàng Hạc lâu, Trường Can khúc (còn gọi Trường Can hành), Hành kinh Hoa Âm, Nhạn Môn Hồ nhân ca |
| Trong SGK | Hoàng Hạc lâu (Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1) |
So với Lý Bạch hay Đỗ Phủ, những gì người ta biết chắc về Thôi Hiệu ít đến mức có thể kể trong vài dòng. Ông đỗ Tiến sĩ khi còn trẻ, vào năm Khai Nguyên thứ 11 (723) đời Đường Huyền Tông, có một thời gian làm việc trong quân phủ của tiết độ sứ Hà Đông ở vùng biên, làm quan ở nhiều nơi, cuối đời giữ chức Tư huân viên ngoại lang ở Trường An và mất năm 754, tức một năm trước loạn An Lộc Sơn. Tiểu sử ông được ghi rất ngắn trong mục “Văn uyển” của hai bộ sử nhà Đường (Cựu Đường thư và Tân Đường thư).
Những dòng ngắn ngủi ấy lại không mấy khen ngợi. Cựu Đường thư chép rằng ông có tài tuấn tú nhưng không giữ nết kẻ sĩ, mê cờ bạc rượu chè, cưới vợ thì chọn người đẹp, hơi không vừa ý là bỏ, trước sau đến mấy lần. Một người có tài mà tính nết bị chê như thế, thơ thời trẻ cũng bị đánh giá là nặng về lời lẽ đẹp đẽ.
Từ thơ diễm tình đến thơ biên tái
Theo các tài liệu Trung Quốc, Ân Phan, người cùng thời với Thôi Hiệu, trong tuyển tập Hà Nhạc anh linh tập có nhận xét rằng thuở trẻ thơ ông thiên về diễm lệ, nhiều bài nhẹ nhõm; về sau ông đổi hẳn lối viết, phong cốt mạnh mẽ, đi qua vùng biên ải là nói hết được chuyện quân lữ. Nhận xét ấy cho thấy có hai Thôi Hiệu: chàng trai kinh kỳ viết về những cô gái và cuộc chơi, và người từng trải viết về gió cát biên thùy.
Bài thứ nhất trong chùm bốn bài Trường Can khúc (Khúc hát Trường Can; Đường thi tam bách thủ chép là Trường Can hành) thuộc mảng thứ nhất nhưng không hề nặng nề son phấn. Chỉ bốn câu ngũ ngôn, một cô gái chèo thuyền trên sông hỏi bâng quơ người thuyền bên:
Quân gia hà xứ trú?
Thiếp trú tại Hoành Đường.
Đình thuyền tạm tá vấn,
Hoặc khủng thị đồng hương.
(Nhà anh ở chốn nào? Em ở Hoành Đường. Dừng thuyền hỏi tạm một câu, biết đâu lại là người cùng quê.) Lời hỏi hồn nhiên mà ý tứ kín đáo; bài thơ ngắn này vẫn thường có mặt trong các tuyển thơ Đường.
Mảng thứ hai là những bài như Nhạn Môn Hồ nhân ca (Bài ca người Hồ ở Nhạn Môn), viết về đời sống vùng biên, nơi ông từng sống những năm làm việc trong quân phủ Hà Đông. Rất tiếc số bài còn lại quá ít để người đọc hôm nay thấy hết con đường chuyển hướng ấy.
Giai thoại Lý Bạch gác bút trên lầu Hoàng Hạc
Chuyện mở đầu bài viết này là một giai thoại, không phải sự kiện có ghi trong chính sử. Chuyện được ghi trong Đường thi kỷ sự của Kế Hữu Công đời Nam Tống, rồi trong Đường tài tử truyện của Tân Văn Phòng đời Nguyên, tức nhiều trăm năm sau Thôi Hiệu. Theo Đường tài tử truyện, Lý Bạch đến lầu, nói hai câu: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (trước mắt có cảnh mà nói chẳng được, vì thơ Thôi Hiệu đã đề ở trên rồi), rồi không làm thơ mà đi. Chi tiết Lý Bạch vứt bút mà nhiều sách hay kể là phần thêm thắt về sau.
Câu chuyện có thật hay không, ngày nay không kiểm chứng được. Điều chắc chắn hơn là Lý Bạch có viết những bài thơ mang dấu vết của Hoàng Hạc lâu; cũng theo Đường thi kỷ sự, ông viết bài Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài cùng thể thất ngôn bát cú, cùng mở bằng một con chim thần đã bay đi và kết bằng nỗi buồn trông về Trường An, nên từ lâu người ta xem đó là bài Lý Bạch viết để so tài với Thôi Hiệu. Ở lầu Hoàng Hạc, Lý Bạch còn để lại bài tứ tuyệt tiễn Mạnh Hạo Nhiên rất nổi tiếng.
Giai thoại sống dai vì nó nói đúng một cảm nhận chung: có những cảnh mà một bài thơ đã nói trọn, người đến sau khó viết thêm.
Một bài thất ngôn luật “phá luật” được xếp đầu thơ Đường
Đời Tống, nhà phê bình Nghiêm Vũ trong sách Thương Lang thi thoại viết rằng thơ thất ngôn luật của người Đường nên lấy bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu làm đệ nhất. Lời xếp hạng ấy đến nay vẫn được nhắc lại, dù không phải ai cũng đồng ý.
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Bốn câu đầu này, nếu đem đo bằng luật thơ Đường thì phạm khá nhiều điều cấm: hai chữ “hoàng hạc” lặp ba lần trong ba câu liền nhau; câu thứ ba gần như toàn thanh trắc; câu thứ tư lại kết bằng ba thanh bằng “không du du”; hai câu 3 – 4 cũng không đối chỉnh như lệ thường. Thế nhưng chính chỗ “phá” ấy làm cho bốn câu đầu có giọng của một khúc ca cổ, cảm xúc trào ra tự nhiên chứ không bị gò. Đến bốn câu sau, bài thơ trở về khuôn phép: cây Hán Dương, bãi Anh Vũ đối nhau chỉnh chện, rồi kết bằng câu hỏi quê nhà ở đâu giữa khói sóng trên sông lúc chiều tà.
Cũng cần biết rằng câu mở đầu có dị bản. Một số tuyển tập cổ chép “Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ” (người xưa đã cưỡi mây trắng đi), nhiều bản về sau chép “hoàng hạc”. Sách giáo khoa và phần lớn tài liệu ở Việt Nam dùng bản “hoàng hạc khứ”.
Lầu Hoàng Hạc: từ truyền thuyết tiên cưỡi hạc đến tòa lầu năm 1985

Lầu Hoàng Hạc đứng bên bờ Trường Giang ở Vũ Xương, nay thuộc thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Tên lầu gắn với truyền thuyết về một người tu tiên cưỡi hạc vàng bay đi từ nơi này; các sách chép khác nhau về tên vị tiên ấy. Theo tư liệu Trung Quốc, lầu được dựng lần đầu năm 223 thời Đông Ngô, ban đầu là một vọng lâu quân sự, về sau thành chốn thưởng ngoạn của văn nhân.
Qua các triều đại, lầu bị cháy và xây lại nhiều lần; lần cháy cuối cùng là năm 1884. Tòa lầu khách du lịch thấy ngày nay được xây mới bằng bê tông cốt thép, hoàn thành năm 1985, trên núi Xà Sơn, cách vị trí cũ khoảng một cây số vì nền cũ đã dành cho chân cầu Trường Giang. Nói cách khác, lầu Hoàng Hạc mà Thôi Hiệu nhìn thấy không còn nữa; cái còn lại nguyên vẹn qua hơn mười hai thế kỷ chính là bài thơ.
Hoàng Hạc lâu trong sách giáo khoa Ngữ văn 12
Bài thơ được chọn làm văn bản đọc trong sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, học cùng các bài thơ cổ điển và lãng mạn. Sách in nguyên văn, dịch nghĩa và bản dịch thơ lục bát của Tản Đà, bản dịch mà câu kết “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” đã thành câu thơ quen thuộc của tiếng Việt.
| Bộ sách | Vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 1 (Những sắc điệu thi ca – Thơ cổ điển và lãng mạn) | Soạn bài Hoàng Hạc lâu · Phân tích Hoàng Hạc lâu |
Một đề bài hay gặp là đặt nỗi buồn trên sông của Thôi Hiệu cạnh nỗi buồn sông nước của Huy Cận; em có thể tham khảo bài so sánh Hoàng Hạc lâu và Tràng giang, vì câu kết của Tràng giang về khói hoàng hôn và nỗi nhớ nhà vẫn thường được đặt cạnh câu kết về khói sóng trên sông của Thôi Hiệu. Còn nếu muốn đọc thêm một bài thơ khác viết tại chính ngôi lầu này, có thể xem Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch.
Những câu hỏi thường gặp khi học Thôi Hiệu
Thôi Hiệu là nhà thơ thời nào?
Ông sống thời thịnh Đường, dưới triều Đường Huyền Tông, cùng thời với Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch; mất năm 754, trước loạn An Sử một năm.
Thôi Hiệu còn để lại bao nhiêu bài thơ?
Bộ Toàn Đường thi chép thơ ông thành một quyển, gồm 42 bài; sách giáo khoa ghi là hơn 40 bài. Ngoài Hoàng Hạc lâu, các bài còn được đọc nhiều là Trường Can khúc và Hành kinh Hoa Âm.
Chuyện Lý Bạch không dám đề thơ có thật không?
Đó là giai thoại được chép trong sách đời Nam Tống và đời Nguyên, nhiều thế kỷ sau sự việc; không có tài liệu đời Đường nào xác nhận. Nên kể như một giai thoại, không nên khẳng định là sự thật lịch sử.
Vì sao bài thơ lại có hai cách đọc câu đầu?
Thơ Đường được truyền chép qua nhiều tuyển tập; ở câu đầu, một số bản cổ chép “bạch vân” (mây trắng), nhiều bản sau chép “hoàng hạc” (hạc vàng). Khi làm bài, em theo văn bản trong sách giáo khoa.
Xem thêm: