Soạn bài Ngày xưa (Vũ Cao) giúp các em trả lời ngắn gọn, đầy đủ bốn câu hỏi SGK về bài thơ lục bát kể chuyện người bà ru cháu bằng những câu Kiều. Đây là văn bản đọc kết nối chủ điểm của Bài 4 “Khám phá vẻ đẹp văn chương” trong Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập 1 (câu hỏi ở trang 102), học sau hai văn bản nghị luận văn học của bài.
Tìm hiểu chung về bài thơ Ngày xưa
Nắm vài thông tin cơ bản dưới đây sẽ giúp em trả lời câu hỏi chính xác và có dẫn chứng.

Tác giả Vũ Cao
Vũ Cao (1922–2007), tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, quê ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ năm 1946, làm phóng viên báo quân đội trong kháng chiến chống Pháp, sau đó gắn bó lâu năm với Tạp chí Văn nghệ Quân đội (từng giữ chức Tổng Biên tập). Ông nổi tiếng với bài thơ Núi Đôi; các tập thơ tiêu biểu có Sớm nay, Đèo trúc. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Thơ Vũ Cao giản dị, giàu tính tự sự, cảm xúc chân thành.
Xuất xứ, thể thơ, bố cục
- Xuất xứ: bài thơ in trong Thơ với tuổi thơ (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2001).
- Thể thơ: lục bát, gồm 14 dòng; trong đó có 4 dòng là câu Kiều được người bà ru (đặt trong ngoặc kép).
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm kết hợp tự sự; người kể xưng “tôi”, là con của bà và là cha (mẹ) của em bé.
- Bố cục: phần 1 (từ đầu đến “mẹ ơi”): bà ru cháu bằng câu Kiều và thắc mắc của người con; phần 2 (còn lại): bà lặng lẽ ru tiếp, cháu ngủ ngon và lời bâng khuâng của bà về nàng Kiều.
Trả lời câu hỏi bài Ngày xưa (trang 102)
Văn bản có bốn câu hỏi sau khi đọc. Khi trả lời, em nên chú ý ba nhân vật thuộc ba thế hệ: người bà (“mẹ tôi”), người con (“tôi”) và em bé (“con tôi”).
Câu 1: Bà ru cháu bằng những câu Kiều dù cháu chưa hiểu, điều đó gợi suy nghĩ gì? (trang 102)
Đề bài: Bà ru cháu bằng những câu Kiều, mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được. Điều đó gợi cho em suy nghĩ gì?
Trả lời:
- Bà ru cháu bằng câu Kiều không phải để cháu hiểu nội dung, mà vì câu Kiều êm ái, ngân nga, rất hợp làm lời ru. Kết quả là “Con tôi đôi má tròn đầy / Lại ngon giấc ngủ thơ ngây chiều chiều”: nhạc điệu của Truyện Kiều đã đưa em bé vào giấc ngủ bình yên.
- Ru cháu cũng là lúc bà sống lại với Truyện Kiều. Những câu bà chọn đều nói về tình yêu, sự chia lìa, lời dặn dò của Kiều; qua lời ru, bà thưởng thức tác phẩm, đồng cảm với nhân vật và có lẽ gửi vào đó cả nỗi niềm của chính mình. Hát ru xưa nay vẫn có hai người nghe: em bé và chính người ru.
- Điều đó gợi cho em suy nghĩ: Truyện Kiều đã thấm sâu vào đời sống người Việt đến mức trở thành lời ru quen thuộc. Em bé tuy chưa hiểu nhưng đã được nghe, được thấm dần nhạc điệu tiếng Việt, tình yêu với câu thơ từ thuở nằm nôi; lớn lên, những câu Kiều ấy sẽ trở thành một phần kí ức và tâm hồn em.
Câu 2: Truyện Kiều đã được tiếp nhận theo những cách nào? (trang 102)
Đề bài: Bài thơ cho thấy “Truyện Kiều” đã được tiếp nhận theo những cách nào?
Trả lời: Bài thơ ngắn nhưng có tới ba người tiếp nhận Truyện Kiều, thuộc ba thế hệ, mỗi người một cách:
| Người tiếp nhận | Cách tiếp nhận |
| Người bà (“mẹ tôi”) | Thuộc lòng câu Kiều, dùng làm lời ru; thấm thía, đồng cảm với số phận nhân vật, bâng khuâng “thương phận cô Kiều ngày xưa”. Đây là cách tiếp nhận bằng cả tâm hồn và trải nghiệm sống. |
| Người con (“tôi”) | Tiếp nhận bằng lí trí, băn khoăn: câu thơ từ thuở xa xưa, em bé làm sao hiểu được (“Tôi rằng: cháu hiểu làm sao”). Người con nhìn Truyện Kiều như một tác phẩm có nội dung sâu xa, cần hiểu mới cảm được. |
| Em bé (“con tôi”) | Tiếp nhận vô thức qua âm thanh, nhịp điệu của lời ru; chưa hiểu nghĩa nhưng được vỗ về, ngủ ngon. Đó là cách Truyện Kiều đi vào tâm hồn con người từ rất sớm. |
Qua đó có thể thấy Truyện Kiều được tiếp nhận ở nhiều tầng: bằng cảm xúc, bằng suy nghĩ, bằng nhạc điệu; và được truyền nối từ thế hệ này sang thế hệ khác qua sinh hoạt đời thường như hát ru.
Câu 3: Suy nghĩ về sức sống của Truyện Kiều trong lòng người Việt (trang 102)
Đề bài: Bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về sức sống của Truyện Kiều trong lòng người dân Việt Nam?
Trả lời: Bài thơ cho thấy Truyện Kiều không chỉ nằm trên trang sách mà sống trong đời thường, trong lời ru của bà, của mẹ. Tác phẩm được truyền từ người già sang trẻ nhỏ, từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường tự nhiên nhất là hát ru, nên có sức sống bền bỉ qua hơn hai thế kỉ.
Ngoài hát ru, người Việt còn ngâm Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều, đố Kiều; nhiều câu Kiều đã thành thành ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày. Sức sống ấy đến từ giá trị nhân đạo sâu sắc (niềm thương cảm với thân phận con người, nhất là người phụ nữ) và vẻ đẹp ngôn ngữ, nhạc điệu lục bát của Nguyễn Du. Truyện Kiều đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống tinh thần của dân tộc; nhiều người thuộc Kiều dù chưa từng đọc trọn tác phẩm.
Câu 4: Nhận xét về hình thức nghệ thuật của bài thơ (trang 102)
Đề bài: Em có nhận xét gì về hình thức nghệ thuật của bài thơ (thể thơ, ngôn từ, hình ảnh, cách tổ chức, sắp xếp ý thơ…)?
Trả lời:
- Thể thơ: lục bát, cùng thể thơ với Truyện Kiều và với lời ru dân gian. Nhờ vậy, các câu Kiều được lồng vào tự nhiên, vần của lời thơ Vũ Cao bắt sang câu Kiều liền mạch (chữ “nghe” ở dòng 2 vần với chữ “the” trong câu Kiều ngay sau đó), cả bài vang lên như một khúc ru.
- Ngôn từ, hình ảnh: giản dị, đời thường, gần với lời kể chuyện: bà ru cháu, người con hỏi, bà không trả lời, cháu ngủ ngon, bà nói một điều. Hình ảnh em bé “đôi má tròn đầy”, giấc ngủ “thơ ngây” gợi sự bình yên, ấm áp.
- Cách tổ chức: bài thơ như một câu chuyện nhỏ có ba nhân vật; lời kể của người con đan xen với lời ru (câu Kiều trích nguyên vẹn), lời hỏi và lời bà nói. Nhiều giọng điệu cùng vang lên: giọng kể, giọng thơ Nguyễn Du, giọng băn khoăn, giọng bâng khuâng.
- Cách sắp xếp ý thơ: bài thơ không trả lời trực tiếp câu hỏi “cháu hiểu làm sao”; câu trả lời hiện ra qua hình ảnh giấc ngủ ngon của em bé và lời thương cảm của bà. Kết thúc bằng hai chữ “ngày xưa” trùng với nhan đề, để lại dư âm về một mạch nguồn văn hóa nối dài từ xưa đến nay.
Gợi ý luyện tập: đoạn văn cảm nhận bài thơ Ngày xưa
Sau khi soạn bài, em có thể luyện viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150–200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ. Tham khảo đoạn văn sau:
Đọc Ngày xưa của Vũ Cao, em như được ngồi cạnh người bà trong một buổi chiều yên ả, nghe bà ru cháu bằng những câu Kiều. Người con thắc mắc em bé còn nhỏ thế thì hiểu làm sao được những câu thơ từ thuở xa xưa; bà không trả lời, chỉ ôm cháu và cất tiếng ru tiếp. Câu trả lời nằm trong giấc ngủ ngon lành của em bé với đôi má tròn đầy. Hóa ra, Truyện Kiều không cần được hiểu ngay mới có thể đi vào lòng người; nó thấm vào tâm hồn trẻ thơ bằng nhạc điệu, bằng tình yêu thương của bà. Lời bà bâng khuâng thương “phận cô Kiều ngày xưa” khép lại bài thơ, cho thấy tác phẩm của Nguyễn Du đã trở thành một phần đời sống của người Việt. Bài thơ nhỏ nhắc em trân trọng lời ru của bà, của mẹ và những giá trị văn hóa được truyền lại qua bao thế hệ.
Kết luận
Soạn bài Ngày xưa giúp em hiểu rằng một tác phẩm văn chương lớn có thể sống mãi nhờ được tiếp nhận theo nhiều cách, qua nhiều thế hệ. Bài thơ lục bát giản dị của Vũ Cao là một minh chứng dễ thương cho sức sống của Truyện Kiều, rất phù hợp với chủ điểm “Khám phá vẻ đẹp văn chương” của bài học.
Xem thêm:
- Bài thơ Núi đôi (Vũ Cao)
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Soạn bài Trao duyên (trích Truyện Kiều)
- Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương