Soạn bài Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi (Trần Văn Toàn) gợi ý cách làm phần Trước khi đọc ở trang 95, các câu theo dõi trong lúc đọc, tám câu Sau khi đọc (trang 99 – 100) và đề Viết kết nối với đọc. Đây là văn bản nghị luận văn học thứ hai của Bài 4 Khám phá vẻ đẹp văn chương, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập một.
Tìm hiểu chung về văn bản Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn Nhật Ánh…
Văn bản khá dài và có nhiều khái niệm mới (nhân dạng, quy chuẩn, tồn tại khác), vì vậy em nên nắm khung chung trước.

- Tác giả: Trần Văn Toàn, người viết phê bình, nghiên cứu văn học.
- Xuất xứ: bài in trong cuốn Nguyễn Nhật Ánh – Hiệp sĩ của tuổi thơ, NXB ĐHQG Hà Nội, 2015; SGK trích phần trang 146 – 159.
- Thể loại: nghị luận văn học. Điểm đặc biệt: người viết không chỉ bàn về một tiểu thuyết mà còn mượn tác phẩm ấy làm điểm xuất phát để nêu yêu cầu chung cho văn học thiếu nhi.
- Tác phẩm được bàn: truyện dài Thằng quỷ nhỏ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, in lần đầu năm 1990, xoay quanh cậu học trò Quỳnh có ngoại hình khác thường.
- Luận đề: từ câu chuyện của Quỳnh, bàn về các phẩm chất mà một tác phẩm dành cho trẻ em cần có.
- Bố cục: ba phần đánh số trong văn bản. Phần (1): ngoại hình kì dị của Quỳnh và cách mọi người đối xử với cậu. Phần (2): nhân dạng con người được cộng đồng “định giá” ra sao. Phần (3): ba phẩm chất cần có ở tác phẩm viết cho thiếu nhi.
- Nghệ thuật: đi từ trường hợp cụ thể đến vấn đề khái quát; kết hợp phân tích văn bản với tri thức nhân học, văn hóa học; bằng chứng chọn lọc, có so sánh đối chiếu; giọng văn điềm tĩnh mà giàu cảm thông.
Trước khi đọc: chia sẻ về tác phẩm viết về người có ngoại hình khác lạ
Câu 1 (trang 95): Tác phẩm viết về con người có ngoại hình khác lạ
Em đã đọc tác phẩm văn học nào viết về những con người có ngoại hình khác lạ? Chia sẻ ngắn gọn cảm nhận của em về tác phẩm ấy.
Trả lời: Em nhớ nhất truyện cổ tích Sọ Dừa mà em được nghe từ nhỏ. Cậu bé sinh ra không tay không chân, tròn lông lốc, ai cũng chê. Vậy mà cậu chăn bò giỏi, thổi sáo hay, cuối cùng đỗ trạng nguyên, đi sứ và cứu được vợ. Truyện làm em hiểu: đừng vội đánh giá một người qua vẻ bề ngoài. Tuy vậy, khi lớn hơn, em lại băn khoăn: tại sao cuối truyện Sọ Dừa phải “lột xác” thành chàng trai khôi ngô thì mới được mọi người công nhận? Văn bản của Trần Văn Toàn giúp em trả lời câu hỏi ấy.
Đọc văn bản: gợi ý các câu hỏi theo dõi
Trong lúc đọc, SGK có một số câu hỏi bên lề. Em chỉ cần trả lời ngắn để nắm mạch văn bản.
- Cách tác giả giải thích nhan đề tiểu thuyết: chữ “quỷ” ở đây không mang nghĩa xấu về tính cách. Nó dùng để gọi một gương mặt dị thường: đôi tai to biết ve vẩy, chiếc mũi to đỏ lấm tấm mồ hôi.
- Lí lẽ, bằng chứng về cách các nhân vật khác nhìn Quỳnh: cả lớp coi Quỳnh là trò vui; cô lớp trưởng Hạnh tử tế nhưng vẫn ngồi cách xa; Luận đặt vè chế giễu; Nga, người bạn thân thiết nhất, lại hoảng sợ khi biết tình cảm của Quỳnh.
- Quan điểm về nhân dạng: hình dạng bên ngoài không đơn thuần là chuyện cơ thể, mà luôn bị đem ra so đo theo thước đo của số đông.
- Vì sao ta hay né tránh một gương mặt khác lạ: xã hội nào cũng đặt ra chuẩn, và cái chuẩn ấy ngầm đẩy những gì lệch ra ngoài vòng chấp nhận.
- Quan điểm về phẩm chất của tác phẩm thiếu nhi: tôn trọng “tồn tại khác”, không tô vẽ nhân vật hoàn hảo, viết bằng con mắt người lớn từng trải.
- Vì sao cần cái nhìn của người lớn: người lớn đã đi qua nhiều được mất, nhìn lại tuổi thơ sẽ thấy những giá trị mà khi còn bé ta chưa nhận ra.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 99 – 100
Câu 1 (trang 99): Vấn đề bàn luận và phạm vi so với văn bản về Người con gái Nam Xương
Văn bản bàn luận về vấn đề gì? Theo em, phạm vi của vấn đề bàn luận trong văn bản này có gì khác với văn bản Người con gái Nam Xương – một bi kịch của con người?
Trả lời:
- Vấn đề được bàn: lấy tiểu thuyết Thằng quỷ nhỏ làm điểm tựa, tác giả bàn về những yêu cầu mà người viết văn cho thiếu nhi cần đáp ứng. Nhan đề đã nói khá rõ điều này.
- Khác về phạm vi: bài của Nguyễn Đăng Na chỉ tập trung làm rõ bi kịch của Vũ Nương và các nhân vật trong một truyện truyền kì, tức là đóng khung trong một tác phẩm. Còn bài của Trần Văn Toàn đi xa hơn: phân tích một cuốn truyện chỉ là bước đầu, đích đến là một vấn đề lí luận chung của cả mảng văn học thiếu nhi. Có thể nói phạm vi bàn luận ở đây rộng hơn, mang tính khái quát hơn.
Em có thể xem lại văn bản đọc trước qua soạn bài Người con gái Nam Xương – một bi kịch của con người để thấy rõ sự khác biệt này.
Câu 2 (trang 99): Các luận điểm chính và quan hệ giữa chúng
Xác định các luận điểm chính của văn bản. Các luận điểm ấy có quan hệ với nhau như thế nào?
Trả lời:
| Phần | Luận điểm |
|---|---|
| (1) | Ngoại hình dị thường đã biến Quỳnh thành kẻ lạc loài; mọi người chỉ dừng lại ở bề ngoài nên không thấy phẩm chất tốt đẹp của cậu. |
| (2) | Nhân dạng là sản phẩm của văn hóa: nó bị cộng đồng đo đếm theo chuẩn mực, và chuẩn mực có sức mạnh loại trừ những gì khác biệt. |
| (3) | Tác phẩm cho thiếu nhi cần có ba phẩm chất: biết trân trọng “tồn tại khác”, không xây dựng nhân vật hoàn hảo, người viết cần có con mắt của người lớn sâu sắc. |
Quan hệ: ba luận điểm nối nhau theo hướng từ trường hợp riêng tới vấn đề chung. Phần (1) nêu hiện tượng trong tác phẩm; phần (2) giải thích nguyên nhân sâu xa của hiện tượng ấy bằng tri thức nhân học; phần (3) rút ra kết luận và đề xuất. Thiếu phần trước thì phần sau không có cơ sở, nên không thể đảo thứ tự.
Câu 3 (trang 99): Lí lẽ, bằng chứng ở phần (1)
Đọc phần (1) và cho biết tác giả bài nghị luận đã dùng những lí lẽ, bằng chứng nào để phân tích nhân dạng của Quỳnh và thái độ của các nhân vật khác đối với nhân dạng ấy. Em có nhận xét gì về các lí lẽ, bằng chứng được tác giả sử dụng?
Trả lời:
| Nội dung | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Nhân dạng của Quỳnh | Chữ “quỷ” chỉ sự kì dị về hình dáng; khiếm khuyết nằm ngay trên mặt nên không giấu được, thành dấu hiệu nhận diện; bề ngoài ấy chi phối cả vị thế của Quỳnh. | Đôi tai to cứ ve vẩy mỗi khi Quỳnh xúc động; cái mũi to, đỏ, rịn mồ hôi. |
| Thái độ của bạn bè | Quỳnh bị coi như anh hề mua vui; kể cả người tốt nhất lớp cũng giữ khoảng cách. | Hạnh ngồi chung bàn nhưng “Bàn có hai người, nhưng mỗi người ngồi tít một đầu, chừa khoảng trống ở giữa”; tác giả còn liên hệ truyện Bàn có năm chỗ ngồi để cho thấy chiếc bàn hai người là bất thường. |
| Phẩm chất bị che khuất | Không ai nhìn ra cái tốt của Quỳnh vì ai cũng dừng ở ngoại hình. | Quỳnh lặng lẽ sửa chân bàn lung lay; chỉ Nga tình cờ biết cậu giúp lũ trẻ nghèo. |
| Tình cảm bị coi là kệch cỡm | Cảm xúc bình thường nhất của Quỳnh cũng bị xem là lạ lùng. | Luận đặt vè trêu Quỳnh và Nga; Nga ngạc nhiên khi thấy Quỳnh chép thơ tình; Nga ghét Khải nhưng lại sợ Quỳnh. |
Nhận xét: mỗi lí lẽ đều kèm bằng chứng ngay sau để minh họa. Bằng chứng được lấy trực tiếp từ tiểu thuyết (có lúc dẫn nguyên câu, có lúc kể lại), lại có bằng chứng ngoài tác phẩm (truyện Bàn có năm chỗ ngồi). Đặc biệt, phép so sánh “ghét” với “sợ” rất sắc: ghét là xa cách với người cùng loại, sợ là xa cách với kẻ mình coi là khác loại. Nhờ đó, người đọc thấy rõ bi kịch của Quỳnh.
Câu 4 (trang 99): Quan điểm về nhân dạng con người ở phần (2)
Đọc phần (2) và cho biết tác giả có quan điểm như thế nào về nhân dạng của con người. Em hãy dẫn ra một vài lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản giúp làm sáng tỏ quan điểm của tác giả.
Trả lời:
- Quan điểm: nhân dạng không chỉ là lớp vỏ bên ngoài hay một tập hợp cơ quan sinh học. Nó là sản phẩm của văn hóa, luôn bị cộng đồng nhào nặn, cân đo theo những quy chuẩn thẩm mĩ chung.
- Lí lẽ tiêu biểu:
- Câu tục ngữ coi hình thức chỉ như “nước sơn” là chưa đủ, vì trong thực tế, người ta vẫn suy ra tâm hồn từ dung mạo.
- Nghiên cứu nhân học cho thấy mọi xã hội đều có chuẩn; chuẩn tạo ra cặp đối lập bình thường – bất bình thường, áp dụng cho cả trí tuệ, hành vi, giới tính lẫn ngoại hình.
- Chuẩn mực có quyền lực: cá nhân buộc phải theo, không được phản biện.
- Bằng chứng: trường hợp Quỳnh, bị bạn bè đối xử xa cách, trịch thượng mà chính cậu cũng coi điều đó là tự nhiên, chỉ buồn tủi chứ không phản kháng; và hiện tượng nhân vật cổ tích xấu xí cuối cùng phải trút bỏ lốt ngoài.
Câu 5 (trang 100): Lí giải về cách ứng xử trước nhân dạng đặc biệt; tác dụng của liên tưởng truyện cổ tích
Trong phần (2), tác giả đã lí giải như thế nào về cách ứng xử của chúng ta trước một nhân dạng đặc biệt? Việc liên tưởng đến truyện cổ tích trong đoạn cuối của phần này có tác dụng gì?
Trả lời:
- Lí giải: chúng ta tưởng tiêu chuẩn về cái đẹp là khách quan, nhân văn, nhưng thực chất đó là một thứ quyền lực ngầm. Nó vận hành bằng cách gạt ra ngoài những gì thuộc về thiểu số, những gì lệch khỏi khuôn mẫu. Vì vậy, gặp một gương mặt khác thường, ta dễ né tránh, giễu cợt hoặc sợ hãi mà không tự nhận ra.
- Tác dụng của liên tưởng cổ tích:
- Mở rộng phạm vi bằng chứng ra ngoài tiểu thuyết đang bàn, khiến lập luận có sức khái quát.
- Cho thấy quan niệm đẹp người thì đẹp nết đã ăn sâu vào văn hóa đến mức ngay truyện cổ tích, thể loại giàu tưởng tượng nhất, cũng không cho phép nhân vật chính diện mãi mãi xấu xí (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc… đều có cảnh “lột xác”).
- Gần gũi với hiểu biết của học sinh nên dễ tạo sự đồng tình.
Câu 6 (trang 100): Ba phẩm chất của tác phẩm viết cho thiếu nhi ở phần (3)
Trong phần (3), theo tác giả một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi cần có những phẩm chất gì? Những câu văn nào giúp em nhận ra điều đó?
Trả lời:
| Phẩm chất | Dấu hiệu nhận ra trong văn bản |
|---|---|
| Giúp trẻ nhận diện và tôn trọng những gì nằm ngoài chuẩn mực, coi ngoại lệ là “tồn tại khác” chứ không phải sai lạc | Đoạn mở đầu bằng từ “Trước tiên”, thừa nhận văn học thiếu nhi cần hình thành chuẩn mực nhưng cho rằng như thế “chưa đủ”; câu kết đoạn khẳng định văn chương có thể đánh thức, nuôi dưỡng tình thương và sự trân trọng. |
| Không biến nhân vật thành hình mẫu hoàn hảo | Câu mở đầu bằng “Thứ hai”; tiếp đó là phân tích Khải, Nga, Luận, những nhân vật vừa có ưu điểm vừa có giới hạn. |
| Viết từ cái nhìn của người lớn sâu sắc, từng trải | Câu mở đầu bằng “Cuối cùng” và câu khép lại văn bản về tuổi thơ được “chiếu sáng” qua lăng kính người lớn. |
Các từ nối “Trước tiên”, “Thứ hai”, “Cuối cùng” giúp người đọc nhận ra ngay ba ý lớn của phần (3).
Câu 7 (trang 100): Suy nghĩ về quan điểm viết từ cái nhìn người lớn
Trong đoạn cuối của bài nghị luận, tác giả cho rằng: “phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải”. Em có suy nghĩ gì về quan điểm này?
Trả lời:
- Hiểu quan điểm: người viết cho thiếu nhi không chỉ đóng vai một đứa trẻ, mà cần mang theo vốn sống, sự thấu hiểu và chiều sâu suy nghĩ của người lớn. Nhờ khoảng lùi ấy, tuổi thơ được nhìn lại, được soi sáng bằng những giá trị mà khi còn nhỏ ta chưa gọi được thành tên.
- Em đồng tình phần lớn, vì những cuốn sách thiếu nhi em nhớ lâu đều có tầng nghĩa sâu: đọc lúc nhỏ thấy vui, lớn lên đọc lại mới thấy buồn, thấy thương. Truyện của Nguyễn Nhật Ánh là ví dụ: những trang về trường lớp, bạn bè hồn nhiên nhưng luôn ẩn nỗi niềm của một người lớn nhìn về quá khứ (em có thể tham khảo thêm bài viết về phong cách sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh).
- Tuy nhiên, cái nhìn người lớn cần đi cùng sự tôn trọng trẻ em. Nếu người lớn chỉ đứng trên cao để giảng giải, tác phẩm sẽ thành bài học khô cứng. Cái khó là vừa có chiều sâu của người từng trải, vừa giữ được giọng kể trong trẻo, gần gũi với các em.
Câu 8 (trang 100): Nghệ thuật viết văn nghị luận của tác giả
Nhận xét về nghệ thuật viết văn nghị luận của tác giả thể hiện ở văn bản (cách đặt vấn đề, tổ chức luận điểm, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, ngôn ngữ…).
Trả lời:
- Đặt vấn đề: ngắn gọn, trực tiếp ngay câu đầu; chọn một tác phẩm quen thuộc với tuổi học trò làm điểm xuất phát nên dễ gây hứng thú.
- Tổ chức luận điểm: ba phần được đánh số rõ ràng, đi theo trình tự hiện tượng – nguyên nhân – đề xuất, chặt chẽ và mạch lạc.
- Lí lẽ, bằng chứng: phong phú, lấy từ nhiều nguồn: chính tiểu thuyết, truyện khác của Nguyễn Nhật Ánh, truyện cổ tích, tri thức nhân học, bối cảnh toàn cầu hóa. Lí lẽ thường mang tính đối thoại: tác giả thừa nhận quan niệm quen thuộc rồi chỉ ra chỗ “chưa đủ” của nó.
- Ngôn ngữ: chính xác, có nhiều khái niệm khoa học nhưng được giải thích dễ hiểu; có những câu ngắn giàu sức nặng; thấp thoáng giọng cảm thông với nhân vật.
Viết kết nối với đọc (trang 100)
Câu 1 (trang 100): Đoạn văn về ý kiến không nên xây dựng nhân vật hoàn hảo
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) chia sẻ suy nghĩ của em về ý kiến của Trần Văn Toàn: “Không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo”.
Trả lời: Dưới đây là hai đoạn văn tham khảo với hai cách vào đề khác nhau.
Đoạn văn tham khảo 1
Em rất tán thành khi Trần Văn Toàn khuyên người viết cho thiếu nhi đừng tạo ra những nhân vật toàn bích. Một nhân vật không có khuyết điểm nào giống như bức tượng đặt trong tủ kính: đẹp nhưng xa lạ, nhìn ngắm được mà không chạm tới được. Trẻ em đọc sách không chỉ để ngưỡng mộ, mà còn để thấy chính mình trong đó, với cả những lúc ích kỉ, nóng nảy hay sợ hãi. Dế Mèn trong truyện của Tô Hoài từng kiêu căng, xốc nổi, gây ra cái chết của Dế Choắt; chính lỗi lầm ấy khiến bài học của Dế Mèn thấm sâu vào biết bao thế hệ bạn đọc. Khi nhân vật biết sai và biết sửa, người đọc nhỏ tuổi cũng học được cách nhìn lại bản thân. Ngược lại, một hình mẫu hoàn hảo dễ khiến bài học trở nên lộ liễu, giống như lời giảng đạo đức được khoác áo truyện. Vì vậy, nhân vật có giới hạn mới là nhân vật biết dạy người đọc một cách tự nhiên nhất.
Đoạn văn tham khảo 2
Lời khuyên đừng biến nhân vật thiếu nhi thành người hoàn hảo thoạt nghe có vẻ lạ, bởi người lớn vẫn muốn trẻ em chỉ nhìn thấy những tấm gương đẹp. Nhưng đọc kĩ, em thấy đó là một quan niệm rất tôn trọng người đọc nhỏ tuổi. Trong Thằng quỷ nhỏ, Nga tốt bụng nhưng vẫn sợ hãi trước gương mặt của Quỳnh; chính sự thật ấy khiến em giật mình tự hỏi nếu là Nga, mình sẽ ứng xử ra sao. Một câu hỏi tự đặt ra cho bản thân có sức giáo dục mạnh hơn nhiều so với một lời khuyên. Nhân vật không hoàn hảo còn giúp trẻ em hiểu rằng mắc lỗi là chuyện bình thường, quan trọng là dám nhận ra và thay đổi. Tất nhiên, chưa hoàn hảo không có nghĩa là xấu xa hay tiêu cực; nhân vật vẫn cần được soi chiếu bằng tình thương của người viết. Đó có lẽ là lí do sách của Nguyễn Nhật Ánh luôn gần gũi, chân thật và được nhiều thế hệ học trò yêu mến.
Kết luận
Qua bài soạn, em cần nắm: văn bản của Trần Văn Toàn đi từ bi kịch của cậu bé Quỳnh, qua lời giải thích về sức mạnh loại trừ của các chuẩn mực nhân dạng, tới ba đề xuất cho văn học thiếu nhi: trân trọng những “tồn tại khác”, không tô vẽ nhân vật hoàn hảo và viết bằng con mắt của người lớn từng trải. Cách lập luận từ một tác phẩm cụ thể để nêu vấn đề chung là kĩ năng em có thể vận dụng khi viết bài nghị luận văn học của Bài 4.
Xem thêm: