Phân tích truyện ngắn Làng của Kim Lân là đề văn quen thuộc với học sinh lớp 9, nhất là khi truyện được đưa vào Bài 4 “Truyện ngắn” sách Ngữ văn 9 Cánh diều. Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu với độ dài, góc nhìn khác nhau: từ bài ngắn gọn đến bài dành cho học sinh khá giỏi.
Để nắm chắc hoàn cảnh sáng tác, bố cục và giá trị tác phẩm trước khi viết, em nên đọc lại bài Làng (Kim Lân): tác giả, tác phẩm.

Dàn ý phân tích truyện ngắn Làng
1. Mở bài
– Giới thiệu Kim Lân, nhà văn viết truyện ngắn hiểu sâu đời sống thôn quê.
– Giới thiệu truyện ngắn Làng (1948) và vấn đề nghị luận: tình yêu làng thống nhất với tình yêu nước của ông Hai.
2. Thân bài
a. Khái quát
+ Hoàn cảnh: những năm đầu kháng chiến chống Pháp, người dân nhiều vùng phải đi tản cư.
+ Nhân vật ông Hai: người nông dân làng Chợ Dầu, yêu làng, hay khoe làng.
b. Tình huống truyện
+ Ông Hai, người yêu và tự hào về làng kháng chiến, nghe tin làng theo giặc.
+ Tình huống bất ngờ, đặt tình yêu làng và tình yêu nước vào thế xung đột.
c. Diễn biến tâm trạng ông Hai
+ Khi nghe tin: sững sờ, nghẹn ngào, xấu hổ, lảng tránh đám đông.
+ Về nhà: tủi nhục, thương con, căm giận, hoài nghi rồi đau đớn chấp nhận.
+ Những ngày sau: sống trong sợ hãi, thu mình; bị chủ nhà đuổi khéo, rơi vào bế tắc.
+ Cuộc đấu tranh nội tâm: thoáng nghĩ về làng, gạt ngay; quyết định làng theo Tây thì phải thù.
+ Trò chuyện với thằng Húc: giãi bày tấm lòng với kháng chiến, với Cụ Hồ.
+ Khi tin được cải chính: vui sướng, khoe nhà bị đốt như khoe chiến công.
⇒ Tình yêu làng gắn bó máu thịt và thống nhất với tình yêu nước.
d. Đặc sắc nghệ thuật
+ Tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính.
+ Khắc họa tâm lí tinh tế qua cử chỉ, hành động, lời tự nói và dòng suy nghĩ thầm kín.
+ Ngôn ngữ nhân vật đậm khẩu ngữ, mang cá tính riêng.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị của truyện: hình tượng người nông dân mới trong kháng chiến.
– Liên hệ bản thân: tình cảm với quê hương và trách nhiệm với đất nước hôm nay.
Phân tích truyện ngắn Làng ngắn gọn – mẫu 1
Quê hương là đề tài quen thuộc của văn học, nhưng ít truyện ngắn nào viết về tình yêu làng sâu sắc như Làng của Kim Lân. Qua nhân vật ông Hai, nhà văn cho thấy tình yêu làng của người nông dân trong kháng chiến chống Pháp đã hòa làm một với tình yêu nước.
Ông Hai là một lão nông yêu làng Chợ Dầu đến mức gặp ai cũng khoe. Phải đi tản cư, ông vẫn ngày ngày ra phòng thông tin nghe tin kháng chiến, lòng phơi phới tự hào. Thế rồi tác giả đặt nhân vật vào một tình huống trớ trêu: ông nghe chính miệng người tản cư nói cả làng mình theo Tây. Phản ứng đầu tiên của ông là sững sờ đến nghẹt thở: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân.” Xấu hổ trước đám đông, ông kiếm cớ bỏ về, mặt cúi gằm.
Về nhà, nhìn đàn con, ông tủi thân trào nước mắt, rồi căm giận những kẻ đã bôi nhọ làng. Mấy ngày liền ông không dám thò mặt ra đường, cứ ngỡ như ai cũng đang chỉ trỏ mình. Khi bà chủ nhà ngỏ ý đuổi khéo, ông bị dồn đến chân tường. Ý nghĩ quay về làng vừa nhen lên đã bị ông dập tắt, vì với ông về làng nghĩa là quay lưng với cách mạng. Ông chọn con đường khó khăn hơn: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Câu nói mộc mạc cho thấy trong lòng ông, Tổ quốc đã đứng trên làng.
Đoạn cuối truyện, khi tin đồn được cải chính, ông Hai vui sướng đi khoe nhà mình bị Tây đốt nhẵn. Chi tiết tưởng nghịch lí ấy lại rất thật: ngôi nhà mất đi, nhưng danh dự của làng được trả lại.
Bằng tình huống bất ngờ và ngòi bút soi vào lòng người tài tình, Kim Lân đã xây dựng thành công hình tượng người nông dân mới. Truyện Làng nhắc em hiểu rằng yêu quê hương là cội nguồn của tình yêu đất nước.
Phân tích truyện ngắn Làng đầy đủ – mẫu 2
Kim Lân không phải là nhà văn viết nhiều, nhưng ông có biệt tài hiểu thấu người nông dân, từ dáng đi, lời nói cho đến những rung động thầm kín nhất trong lòng họ. Truyện ngắn Làng, viết năm 1948 khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bước sang năm thứ hai, là minh chứng rõ nhất cho biệt tài ấy. Tác phẩm khắc họa thành công một vẻ đẹp mới trong tâm hồn người nông dân: tình yêu làng gắn liền với tình yêu nước và tinh thần theo kháng chiến.
Trước hết, Kim Lân đã tạo ra một tình huống truyện độc đáo. Ông Hai là người yêu làng tha thiết, thích khoe làng, coi làng như một phần máu thịt của mình. Vậy mà chính ông lại phải nghe tin làng mình làm Việt gian. Cái tin ấy không phải lời đồn vu vơ mà được những người vừa từ dưới ấy lên kể lại có đầu có đuôi, có cả tên thằng chánh Bệu khuân của cải lên xe giặc. Tình huống đẩy nhân vật vào một cuộc giằng co gay gắt giữa hai tình cảm vốn thống nhất: yêu làng và yêu nước. Chính trong thử thách này, chiều sâu tâm hồn ông Hai mới được bộc lộ.
Những trang viết về tâm trạng ông Hai khi nghe tin dữ là những trang hay nhất của truyện. Trước đó, ông đang vui, đang gật gù tán thưởng cảnh dân ta vừa đánh giặc vừa sản xuất. Niềm vui ấy bị cắt đứt đột ngột. Ông lặng đi, phải cố lắm mới hỏi lại được bằng một giọng lạc hẳn. Rồi để che giấu nỗi nhục, ông vươn vai nói một câu lảng: “Hà, nắng gớm, về nào …”. Lời chửi rủa chua ngoa của người phụ nữ tản cư còn đuổi theo sau lưng, và ông chỉ biết cúi gằm mặt mà bước. Nhà văn không cần bình luận; những cử chỉ ngượng ngập ấy đã nói hộ nỗi đau của nhân vật.
Về đến nhà, nỗi đau càng lớn. Ông nằm vật ra giường, nhìn lũ con mà thương: những đứa trẻ vô tội bỗng thành con cái của làng phản bội. Kim Lân để nhân vật tự hỏi mình: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?”. Câu hỏi tu từ chứa đầy cay đắng. Sau đó là cơn giận bùng lên, rồi lại là sự hoài nghi khi ông kiểm điểm từng người ở làng mà không tin họ có thể đốn mạt như vậy. Nhưng những bằng chứng quá rõ khiến ông lại đau đớn chấp nhận. Diễn biến tâm lí lên xuống liên tục, rất thật với một người đang bị dày vò.
Mấy ngày sau, ông Hai sống như một kẻ có lỗi. Ông không dám đi đâu, chỉ ru rú trong nhà nghe ngóng, hễ thấy tiếng cười nói hay đám đông là chột dạ. Nỗi sợ lớn nhất của ông là mụ chủ nhà, và điều ông sợ đã đến: mụ nói ngọt mà rõ ý muốn đuổi gia đình đi. Ông Hai bị dồn tới đường cùng, thấy đâu đâu người ta cũng xua đuổi dân Chợ Dầu. Đúng lúc ấy, một ý nghĩ lóe lên: “Hay là quay về làng?…”. Nhưng ông lập tức phản đối, bởi về làng tức là chấp nhận làm nô lệ cho giặc. Cuộc đấu tranh nội tâm kết thúc bằng một quyết định dứt khoát: yêu làng, nhưng làng đã theo giặc thì phải thù. Tình yêu nước đã thắng, dù ông phải trả giá bằng nỗi đau mất đi chỗ dựa tinh thần lớn nhất đời mình.
Cảnh ông Hai trò chuyện với thằng Húc là một trong những đoạn cảm động nhất. Ông hỏi con là con ai, nhà ở đâu, ủng hộ ai, như để chính mình được nghe lại những điều thiêng liêng. Khi đứa bé giơ tay đáp ủng hộ Cụ Hồ, nước mắt ông chảy ròng. Những lời thủ thỉ sau đó là lời tự minh oan, là lời thề trung thành của một người nông dân với kháng chiến: “Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai.”
Kết thúc truyện, tin làng theo giặc được cải chính. Ông Hai như sống lại: mặt mày rạng rỡ, mua quà cho con, rồi đi khắp nơi khoe. Điều ông khoe thật lạ: nhà mình bị Tây đốt nhẵn. Người ta thường khóc khi mất nhà, ông Hai lại vui vì đó là bằng chứng làng mình vẫn kháng chiến. Chi tiết ấy khép lại câu chuyện một cách đầy thuyết phục: với ông, danh dự của làng, của kháng chiến quý hơn cả cơ nghiệp riêng.
Thành công của truyện còn nằm ở ngôn ngữ. Lời ông Hai đậm chất nông thôn, khi gắt gỏng cụt lủn, khi vui thì liến thoắng, lặp lại. Lời kể và lời nhân vật hòa quyện, khiến người đọc như đang đứng cạnh ông mà nghe ông nghĩ.
Hơn bảy mươi năm đã qua, Làng vẫn được yêu mến bởi nó nói đúng điều sâu xa trong tâm hồn người Việt: yêu làng, yêu quê là khởi đầu của yêu nước. Hình ảnh ông Hai múa tay khoe nhà bị đốt sẽ còn ở lại mãi trong lòng người đọc.
Phân tích tình huống truyện và nghệ thuật trong Làng – mẫu 3
Một truyện ngắn hay thường bắt đầu từ một tình huống hay. Với Làng, Kim Lân đã tìm được một tình huống vừa đời thường vừa éo le, đủ sức làm bật lên vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trong kháng chiến.
Tình huống ấy được chuẩn bị rất khéo. Truyện mở ra khi ông Hai đang ở đỉnh điểm của niềm vui: vừa nghe tin thắng trận ở phòng thông tin, ông thong thả ngồi quán, ngắm cảnh ruộng lúa, nghe tiếng người tản cư cười nói. Nhà văn cố ý dựng một nền yên bình, phấn chấn, để rồi tin dữ ập đến như một nhát cắt. Sự tương phản giữa trước và sau làm cho cú sốc của nhân vật trở nên dữ dội hơn bao giờ hết.
Tình huống còn được tăng sức nặng bằng những chi tiết khiến ông Hai không thể không tin. Người đưa tin là dân tản cư từ dưới ấy lên, nói chắc nịch, lại kể cả chuyện Tây vào làng thì người ta vác cờ thần ra đón. Ông Hai, vốn biết rõ người làng, lại càng không thể chối cãi khi nghe nhắc đến chánh Bệu. Như vậy, nỗi đau của nhân vật không phải sự hoảng hốt nhất thời mà là một nỗi đau có thật, kéo dài.
Từ tình huống ấy, Kim Lân lần lượt mở ra từng lớp tâm trạng. Ông dùng độc thoại nội tâm để người đọc nghe được những câu hỏi dồn dập trong đầu nhân vật: tại sao lại có tin ấy, không có lửa sao có khói, rồi sẽ làm ăn ra sao. Ông dùng cử chỉ để diễn tả những gì nhân vật không nói ra: trằn trọc cả đêm, trở mình liên tục, nín thở nghe tiếng mụ chủ nhà. Ông dùng đối thoại để đẩy xung đột lên cao: lời bóng gió của mụ chủ nhà khiến ông Hai rơi vào thế cùng đường. Mỗi chi tiết đều làm rõ thêm một sắc thái của nỗi đau.
Đỉnh điểm của tình huống là khoảnh khắc ông phải lựa chọn giữa làng và nước. Kim Lân không để nhân vật nói những lời lớn lao; ông Hai chỉ nghĩ theo cách của một người nông dân, giản dị mà quyết liệt. Về làng thì là bỏ kháng chiến, là chịu làm nô lệ, nên ông không về. Sự lựa chọn đến tự nhiên, không gượng ép, vì nó xuất phát từ một nhận thức mới mà cách mạng đã đem lại cho ông.
Tình huống được tháo gỡ cũng rất tự nhiên. Tin cải chính đến qua chính ông chủ tịch làng, một người có trách nhiệm, nên niềm vui của ông Hai trọn vẹn. Cách ông khoe nhà bị đốt vừa buồn cười vừa cảm động, cho thấy tình yêu làng trong ông đã được thanh lọc, gắn với danh dự kháng chiến.
Như vậy, tình huống truyện trong Làng không chỉ tạo sự hấp dẫn mà còn là chìa khóa để nhà văn khám phá nhân vật. Cùng với lối khắc họa nội tâm sắc sảo và ngôn ngữ giàu chất sống, tình huống ấy làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm.
Phân tích truyện ngắn Làng (bài học sinh giỏi) – mẫu 4
Trong văn học Việt Nam, làng không chỉ là nơi chốn mà còn là một phần nhân cách của người nông dân. Họ sinh ra ở làng, sống chết với làng, coi vinh nhục của làng là vinh nhục của mình. Kim Lân hiểu điều đó hơn ai hết. Nhưng điều làm nên tầm vóc của truyện ngắn Làng là nhà văn đã phát hiện một bước chuyển lớn trong tình cảm ấy: khi cả dân tộc đứng lên kháng chiến, tình yêu làng của người nông dân đã mở rộng thành tình yêu nước.
Ông Hai yêu làng theo một cách rất riêng: ông khoe làng. Trước cách mạng, ông khoe những thứ hào nhoáng của làng; sau cách mạng, ông khoe làng mình kháng chiến. Sự thay đổi trong nội dung “khoe” đã báo hiệu sự thay đổi trong nhận thức. Đi tản cư, ông vẫn mang làng theo trong lòng, và niềm vui lớn nhất mỗi ngày là được nghe tin kháng chiến thắng lợi. Nói cách khác, khi truyện mở ra, tình yêu làng và tình yêu nước trong ông Hai đang hòa hợp trọn vẹn.
Tin làng theo giặc phá vỡ sự hòa hợp ấy. Nếu ông Hai chỉ yêu làng một cách hẹp hòi, ông có thể bênh làng bằng mọi giá. Nếu ông thờ ơ với kháng chiến, tin ấy chẳng làm ông đau đến thế. Nỗi đau của ông Hai chính là nỗi đau của người mang hai tình yêu cùng lúc, và bị buộc phải thấy hai tình yêu ấy chống lại nhau. Vì thế, Kim Lân đã dành phần lớn trang viết cho những giằng xé nội tâm. Ông Hai tự hỏi, tự trả lời, tự chửi, tự an ủi. Một chi tiết đáng chú ý: ông không chỉ đau vì làng mà còn lo cho “bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa”. Nỗi lo của ông không ích kỉ; nó là nỗi lo của một người coi cả cộng đồng làng như máu thịt.
Lựa chọn cuối cùng của ông Hai mang ý nghĩa của một bước trưởng thành. Câu nói “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” không hề nhẹ nhàng; đó là lời một người đang tự cắt đi một phần trái tim mình. Nhưng ông vẫn nói, vì với ông, cách mạng và Cụ Hồ là lẽ sống. Ở đây, Kim Lân đã khám phá một chân lí: tình yêu nước của người nông dân không trừu tượng, nó được xây trên nền tình yêu làng, nhưng khi cần, nó đủ mạnh để đặt lên trên tình yêu làng.
Chi tiết ông Hai trò chuyện với thằng Húc vì thế mang ý nghĩa sâu xa. Ông không thể nói với ai, nên nói với đứa con nhỏ, và qua đứa con, nói với chính lòng mình. Những câu hỏi lặp đi lặp lại như một nghi thức tự nhắc nhở. Lời đứa trẻ ngây thơ vang lên như tiếng nói của lương tri trong sạch, và nước mắt ông Hai là nước mắt của một người vừa đau vừa được an ủi.
Kết thúc có hậu không làm giảm giá trị của truyện mà ngược lại, giúp tình yêu làng được trở về đúng vị trí của nó. Ông Hai khoe nhà bị đốt, rồi kể chuyện làng đánh giặc rành rọt như người trong cuộc. Tình yêu làng giờ đây đã thấm đẫm niềm tự hào kháng chiến. Nhân vật từ chỗ là một lão nông thích khoe khoang đã trở thành hình ảnh tiêu biểu cho người nông dân mới, biết đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết.
Nếu so với những người nông dân trong văn học trước Cách mạng, vốn quẩn quanh với nỗi lo miếng ăn và thân phận, ông Hai cho thấy một tầm vóc khác. Ông vẫn nghèo, vẫn chất phác, nhưng đời sống tinh thần của ông đã gắn với vận mệnh đất nước. Đó là đóng góp riêng của Kim Lân: ông không tô vẽ người nông dân thành anh hùng, mà để họ hiện lên chân thật với cả những nét tính cách đáng yêu lẫn đáng cười, và chính sự chân thật ấy làm vẻ đẹp tâm hồn họ thêm thuyết phục.
Đọc Làng hôm nay, em nhận ra tình yêu quê hương không bao giờ cũ. Mỗi người đều có một “làng Chợ Dầu” của riêng mình để nhớ, để tự hào. Và như ông Hai, yêu quê hương thật sự là biết đặt nó trong tình yêu rộng lớn hơn với Tổ quốc.
Phân tích đoạn ông Hai nghe tin làng theo giặc trong truyện Làng – mẫu 5
Trong truyện ngắn Làng, đoạn ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc là đoạn văn bản lề, nơi câu chuyện bắt đầu bước vào cao trào. Chỉ trong vài trang ngắn, Kim Lân đã cho người đọc chứng kiến một sự đảo lộn dữ dội trong tâm hồn nhân vật.
Đoạn văn mở ra bằng không khí nhẹ nhõm. Ông lão rời phòng thông tin với bao điều vui thích, ngồi quán hút thuốc, uống chè, nhìn ruộng lúa xanh lấp loáng dưới nắng. Ông hỏi han những người tản cư như hỏi người nhà, rồi tự nhủ thầm thán phục cảnh dân ta: “Hừ, đánh nhau cứ đánh nhau, cày cấy cứ cày cấy, tản cư cứ tản cư … Hay đáo để.”. Câu độc thoại cho thấy ông Hai đang mang một niềm tin hồn nhiên vào cuộc kháng chiến.
Rồi câu chuyện chuyển hướng khi có người nhắc đến Chợ Dầu. Ông Hai quay ngoắt lại, hỏi dồn bằng giọng lắp bắp, và điều đầu tiên ông muốn biết là quân ta diệt được bao nhiêu tên giặc. Phản xạ ấy đáng quý: ông mặc nhiên tin làng mình đang đánh giặc. Chính vì vậy, câu trả lời của người đàn bà như một đòn giáng thẳng vào niềm tin ấy.
Kim Lân miêu tả phản ứng của ông Hai bằng những chi tiết thuộc về cơ thể: cổ nghẹn lại, da mặt tê dại, hơi thở như ngừng. Nỗi đau chưa kịp thành suy nghĩ đã thành cảm giác thể xác. Ông hỏi lại một câu yếu ớt, như mong được nghe điều ngược lại, nhưng người kia càng kể càng chi tiết. Hi vọng cuối cùng tắt lịm.
Hành động tiếp theo của ông Hai rất đáng chú ý. Ông trả tiền nước, đứng dậy, cười nhạt và nói to một câu về cái nắng. Cử chỉ cố tỏ ra bình thường lại phơi bày sự bất thường; người đọc hiểu ông đang cố giấu nỗi nhục. Tiếng chửi Việt gian của người phụ nữ đang bế con đuổi theo sau lưng như những nhát roi, và ông chỉ còn biết cúi đầu bước đi. Câu văn khép đoạn nhắc đến mụ chủ nhà, như mầm mống của nỗi sợ sẽ lớn dần ở những phần sau.
Đoạn văn ngắn nhưng chứa đủ những gì làm nên tài năng Kim Lân: cách dựng cảnh tương phản, cách tả tâm lí qua cử chỉ, cách để lời nhân vật tự bộc lộ. Qua đó, người đọc thấy tình yêu làng của ông Hai sâu nặng đến mức nào: chỉ một tin xấu về làng cũng đủ khiến ông như mất đi một phần sự sống.
Kết luận
Khi phân tích truyện ngắn Làng, em cần bám vào tình huống truyện và diễn biến tâm trạng ông Hai, làm nổi bật sự thống nhất giữa tình yêu làng và tình yêu nước. Nên trích dẫn ngắn, có chọn lọc, và dành phần đáng kể cho tài năng khắc họa nội tâm của Kim Lân.
Xem thêm:
- Soạn bài Làng (Kim Lân) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Tóm tắt Làng ngắn gọn, đầy đủ – 8 mẫu
- Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng
- Làng (Kim Lân): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Mở bài Làng (Kim Lân) hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Làng (Kim Lân) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề