Soạn bài Thúy Kiều báo ân, báo oán (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) dưới đây trả lời đầy đủ, ngắn gọn các câu hỏi Chuẩn bị đọc, Trải nghiệm cùng văn bản và Suy ngẫm và phản hồi (trang 131–135) của Bài 5 “Khát vọng công lí”, SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập một. Mỗi câu trả lời đều dẫn chứng từ văn bản để em dễ đối chiếu khi học trên lớp.
Tìm hiểu chung về văn bản Thúy Kiều báo ân, báo oán
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm mấy thông tin cốt lõi về tác giả, vị trí đoạn trích và bố cục văn bản.

Tác giả: Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là đại thi hào của dân tộc (xem thêm: tác giả Nguyễn Du).
Tác phẩm: Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát, gồm 3.254 câu, kể về mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều.
Vị trí đoạn trích: thuộc cuối phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi được Từ Hải cứu khỏi lầu xanh lần thứ hai và trở thành phu nhân của người anh hùng, Kiều kể lại những ngày oan khổ; Từ Hải cho quân đi bắt những kẻ bạc ác, mời những người có ơn đến để nàng xử. Văn bản trong SGK ứng với câu 2315 – 2396, lược bớt hai chỗ (câu 2339 – 2354 và câu 2389 – 2390, đánh dấu […]).
Bố cục: có thể chia văn bản thành bốn phần:
- Phần 1 (10 dòng đầu, từ “Trướng hùm mở giữa trung quân” đến “Việc ấy để cho mặc nàng”): Từ Hải mở phiên xử, trao cho Kiều toàn quyền báo ân, báo oán.
- Phần 2 (14 dòng tiếp, từ “Cho gươm mời đến Thúc lang” đến “Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm”): Kiều báo ân Thúc Sinh.
- Phần 3 (34 dòng tiếp, từ “Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra” đến “Thề sao thì lại cứ sao gia hình”): Kiều xử Hoạn Thư và trừng trị những kẻ bạc ác.
- Phần 4 (6 dòng cuối): lời bình của người kể chuyện về lẽ nhân quả, công lí.
Chuẩn bị đọc
Phần chuẩn bị giúp em hình dung trước câu chuyện qua nhan đề và bức tranh minh họa trong sách.
Câu 1: Dự đoán nội dung văn bản (trang 131)
Đề bài: Đọc nhan đề văn bản và quan sát tranh minh họa, dự đoán nội dung văn bản.
Trả lời:
Nhan đề có hai vế đối nhau: “báo ân” (đền đáp người có ơn) và “báo oán” (trả thù kẻ gây oan khổ). Kết hợp nhan đề với tranh minh họa trong SGK, em dự đoán: văn bản kể lại cảnh Thúy Kiều, khi đã được Từ Hải giúp đỡ và có quyền lực trong tay, mở một phiên xử để đền ơn những người từng cưu mang mình và trừng trị những kẻ đã hãm hại mình trong những năm lưu lạc.
Trải nghiệm cùng văn bản
Các câu hỏi dưới đây gắn với từng chỗ đánh dấu trong khi đọc văn bản (trang 132–133).
Câu 1: Theo dõi – từ ngữ miêu tả khung cảnh báo ân, báo oán (trang 132)
Đề bài: Xác định những từ ngữ dùng để miêu tả khung cảnh Kiều thực hiện việc báo ân, báo oán.
Trả lời:
Những từ ngữ miêu tả khung cảnh: “trướng hùm” (trướng của võ tướng), “trung quân” (doanh trại chỉ huy ở giữa), “tiên nghiêm” (hồi trống báo hiệu nghiêm chỉnh hàng ngũ), “trống chửa dứt hồi”, “điểm danh”, “cửa viên” (cửa doanh trại), về sau còn có “dưới cờ, gươm tuốt nắp ra”, “sân mây”, “ba quân đông mặt pháp trường”. Đó là khung cảnh một quân doanh, một pháp trường trang nghiêm, uy nghi.
Câu 2: Tóm tắt cuộc đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều (trang 132)
Đề bài: Tóm tắt nội dung cuộc đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều (từ dòng 2319 đến dòng 2324).
Trả lời:
Từ Hải nói rằng chuyện ân, oán của nàng với hai phía, nàng cứ tự mình xét xử, đền đáp cho rõ ràng. Kiều cảm ơn và xin nhờ uy thế của chồng để trước hết báo đáp những người có ơn, rồi sau mới trả thù. Từ Hải đồng ý, để mọi việc cho nàng quyết định.
Câu 3: Tưởng tượng – tâm trạng, giọng điệu của Kiều khi nói với Thúc Sinh (trang 133)
Đề bài: Đọc đoạn thơ từ dòng 2327 đến dòng 2332, em hình dung như thế nào về tâm trạng, giọng điệu của Kiều?
Trả lời:
Em hình dung Kiều nói với Thúc Sinh bằng tâm trạng xúc động, bồi hồi khi gặp lại “người cũ”. Giọng nàng ân cần, trang trọng mà thân tình: nàng nhắc kỉ niệm “Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?”, đánh giá ơn của chàng là “Nghĩa trọng nghìn non”. Nàng cũng tế nhị gỡ tội cho chàng: duyên vợ chồng không trọn (“Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng”) là tại hoàn cảnh chứ không phải chàng phụ bạc. Món quà “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” được nàng khiêm tốn gọi là “báo ân gọi là”. Giọng điệu ấy cho thấy lòng biết ơn chân thành, sâu nặng của Kiều.
Câu 4: Suy luận – cách xưng hô “tiểu thư” (trang 133)
Đề bài: Cách dùng từ “tiểu thư” để xưng hô trong lời thoại thể hiện thái độ gì của người nói đối với người nghe?
Trả lời:
“Tiểu thư” là cách gọi kính trọng dành cho con gái nhà quyền quý, đúng như cách Kiều từng phải gọi Hoạn Thư khi làm con hầu Hoa Nô. Nay vị thế đã đảo ngược – Kiều là người xử án, Hoạn Thư là tội nhân quỳ dưới trướng – mà Kiều vẫn “chào thưa” và gọi “tiểu thư”, nên lời chào ấy mang giọng mỉa mai, châm biếm sâu cay. Câu “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!” vừa nhắc lại quá khứ nhục nhã của Kiều, vừa cho thấy thái độ đay nghiến, hả giận của nàng trước kẻ đã hành hạ mình.
Câu 5: Suy luận – mục đích và lí lẽ trong lời Hoạn Thư (trang 133)
Đề bài: Mục đích của đoạn thoại từ dòng 2365 đến dòng 2372 là gì? Chỉ ra những lí lẽ mà nhân vật đã sử dụng trong đoạn thoại.
Trả lời:
Mục đích: đây là lời Hoạn Thư tự bào chữa để xin Kiều tha tội.
Những lí lẽ Hoạn Thư đưa ra:
- Mình cũng là đàn bà, mà ghen tuông là thường tình của đàn bà (“Tôi chút dạ đàn bà, / Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”): kéo Kiều về cùng giới để được cảm thông.
- Kể công với Kiều: đã cho Kiều ra gác Quan Âm viết kinh, khi Kiều bỏ trốn cũng không đuổi bắt (“Nghĩ cho khi gác viết kinh, / Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”).
- Trong lòng vẫn kính yêu Kiều, nhưng chuyện chồng chung thì khó ai nhường ai (“Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”): biến tội ác thành hệ quả của chế độ đa thê.
- Nhận lỗi và trông vào lòng khoan dung của Kiều (“Trót lòng gây việc chông gai, / Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”).
Suy ngẫm và phản hồi
Tám câu hỏi sau khi đọc (trang 135) giúp em hiểu sâu nhân vật, chủ đề và nghệ thuật kể chuyện bằng thơ lục bát.
Câu 1: Sự kiện chính, nhân vật, bố cục và nội dung bao quát (trang 135)
Đề bài: Xác định các sự kiện chính được kể trong văn bản trên và những nhân vật gắn liền với các sự kiện ấy. Từ đó, tìm bố cục và nêu nội dung bao quát của văn bản.
Trả lời:
| Sự kiện chính | Nhân vật gắn liền |
|---|---|
| Từ Hải mở trướng, trao quyền báo ân, báo oán cho Kiều | Từ Hải, Thúy Kiều |
| Kiều báo ân Thúc Sinh (phần lược bỏ còn kể việc đền ơn mụ quản gia và sư Giác Duyên) | Thúy Kiều, Thúc Sinh (mụ quản gia, Giác Duyên) |
| Kiều xử Hoạn Thư; Hoạn Thư bào chữa và được tha | Thúy Kiều, Hoạn Thư |
| Kiều trừng trị những kẻ bạc ác | Thúy Kiều, Bạc Hạnh, Bạc Bà, Ưng, Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh |
| Lời bình về lẽ nhân quả | Người kể chuyện |
Bố cục: 4 phần (10 dòng đầu – Từ Hải trao quyền; 14 dòng tiếp – báo ân Thúc Sinh; 34 dòng tiếp – báo oán Hoạn Thư và những kẻ bạc ác; 6 dòng cuối – lời bình của người kể chuyện).
Nội dung bao quát: văn bản kể lại việc Thúy Kiều, nhờ uy thế của Từ Hải, đền ơn người đã giúp mình và trừng trị những kẻ đã gây oan khổ cho mình; qua đó ca ngợi tấm lòng nhân nghĩa của Kiều và thể hiện ước mơ công lí “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.
Câu 2: Khung cảnh báo ân, báo oán và ý nghĩa (trang 135)
Đề bài: Nhận xét về khung cảnh nơi Thúy Kiều thực hiện việc báo ân, báo oán. Việc khắc họa khung cảnh đó có ý nghĩa gì đối với cuộc đời nàng Kiều?
Trả lời:
Nhận xét: khung cảnh là một phiên tòa đặt giữa quân doanh, vừa uy nghiêm vừa đầy sức mạnh: “Trướng hùm mở giữa trung quân”, trống “tiên nghiêm” nổi lên, phạm nhân được “điểm danh” dẫn vào “cửa viên”, gươm tuốt trần dưới cờ, “ba quân đông mặt pháp trường”. Kiều ngồi ngang hàng với Từ Hải (“Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi”).
Ý nghĩa: khung cảnh ấy đánh dấu sự đổi đời của Kiều. Người con gái từng bị mua bán, đánh đập, làm con ở, làm kĩ nữ, nay ngồi ở vị trí người cầm cán cân công lí, được xét xử chính những kẻ đã chà đạp mình. Không khí trang nghiêm cũng khiến việc báo ân, báo oán trở thành việc công, diễn ra “thanh thiên bạch nhật rõ ràng”, chứ không phải chuyện trả thù riêng lén lút.
Câu 3: Hành động, ngôn ngữ của Thúy Kiều và phẩm chất của nàng (trang 135)
Đề bài: Tìm một số chi tiết miêu tả hành động, ngôn ngữ của Thúy Kiều được thể hiện trong văn bản. Những chi tiết ấy cho thấy Thúy Kiều là người như thế nào?
Trả lời:
Chi tiết về hành động, ngôn ngữ của Kiều:
- Với Từ Hải: “Nhờ cậy uy linh, / Hãy xin báo đáp ân tình cho phu. / Báo ân rồi sẽ trả thù” – đặt việc trả ơn lên trước.
- Với Thúc Sinh: “mời” chàng đến; lời lẽ trang trọng, dùng từ Hán Việt và điển cố (“nghĩa trọng nghìn non”, “Sâm Thương”, “chữ tòng”, “cố nhân”); tặng “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”.
- Nói về Hoạn Thư với Thúc Sinh: dùng thành ngữ dân gian “kẻ cắp bà già gặp nhau”, “kiến bò miệng chén” – lời lẽ nôm na, sắc sảo.
- Với Hoạn Thư: “chào thưa”, gọi “tiểu thư”, mỉa mai “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”, cảnh cáo “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”; sau khi nghe bào chữa thì khen “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời” và tha ngay.
- Với những kẻ bạc ác: “Lồng lộng trời cao, / Hại nhân nhân hại, sự nào tại ta?”, cho “gia hình” đúng như lời chúng đã thề.
Những chi tiết ấy cho thấy Kiều là người trọng tình nghĩa, biết ơn sâu sắc; thông minh, sắc sảo, hiểu lẽ đời; rạch ròi, cương quyết với cái ác nhưng lại độ lượng, bao dung khi kẻ có lỗi biết nhận tội.
Câu 4: Suy nghĩ về việc Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư (trang 135)
Đề bài: Em có suy nghĩ gì về việc Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư? Sự việc ấy thể hiện nét tính cách gì của nhân vật Thúy Kiều?
Trả lời:
Việc Kiều tha Hoạn Thư là một kết cục bất ngờ, vì Hoạn Thư là “chính danh thủ phạm”, người gây cho Kiều nhiều đau khổ nhất. Tuy vậy, cách xử ấy hợp tình, hợp lí:
- Hoạn Thư đã nhận lỗi (“Trót lòng gây việc chông gai”); lời bào chữa của ả có phần đúng: ghen tuông là thường tình, ả cũng từng cho Kiều ra gác viết kinh và không đuổi theo khi Kiều trốn.
- Kiều hiểu rằng tha thì “may đời”, còn làm tội thì “ra người nhỏ nhen”. Nàng chọn cách ứng xử cao thượng, không để hận thù chi phối.
- Hoạn Thư là vợ của Thúc Sinh, người Kiều mang ơn; tha Hoạn Thư cũng là giữ yên gia đình ân nhân.
Sự việc cho thấy Kiều có tấm lòng nhân hậu, vị tha, bao dung; nàng hiểu người, hiểu đời và biết phân biệt người biết hối lỗi với kẻ bạc ác không thể dung thứ.
Câu 5: Tính cách Hoạn Thư và vai trò của Hoạn Thư, Từ Hải (trang 135)
Đề bài: Hành động, lời nói của Hoạn Thư thể hiện điều gì về tính cách nhân vật này? Theo em, nhân vật Hoạn Thư, Từ Hải có vai trò gì trong việc thể hiện chân dung nhân vật Thúy Kiều?
Trả lời:
Tính cách Hoạn Thư: dù “hồn lạc phách xiêu”, “khấu đầu dưới trướng”, ả vẫn tỉnh táo, lập luận chặt chẽ: tự nhận mình là đàn bà ghen tuông thường tình, kể công với Kiều, đổ lỗi cho cảnh “chồng chung”, rồi mới nhận lỗi và xin lượng thứ. Hoạn Thư là người khôn ngoan, sắc sảo, giỏi ăn nói, biết tùy cơ ứng biến – đúng như lời khen của Kiều “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”.
Vai trò của hai nhân vật đối với chân dung Thúy Kiều:
- Từ Hải: người trao quyền, tạo điều kiện để Kiều từ nạn nhân trở thành người phán xử. Sự tôn trọng của Từ Hải (“Mặc nàng xử quyết”) làm nổi bật vị thế mới và phẩm giá được khôi phục của Kiều.
- Hoạn Thư: đối thủ ngang tài, là “phép thử” đối với Kiều. Nhờ màn đối đáp với Hoạn Thư, Kiều bộc lộ đầy đủ sự sắc sảo, nỗi đau chưa nguôi và đặc biệt là tấm lòng bao dung khi tha tội.
Câu 6: Chủ đề của văn bản và căn cứ xác định (trang 135)
Đề bài: Xác định chủ đề của văn bản. Căn cứ vào đâu em có thể xác định như vậy.
Trả lời:
Chủ đề: ước mơ công lí, chính nghĩa – người bị áp bức được đứng lên đền ơn, trả oán, cái thiện được đền đáp, cái ác bị trừng trị; đồng thời ca ngợi tấm lòng nhân nghĩa, bao dung của Thúy Kiều.
Căn cứ xác định:
- Nhan đề “Thúy Kiều báo ân, báo oán” và chuỗi sự việc chính: đền ơn Thúc Sinh, xử Hoạn Thư, trừng trị bọn bạc ác.
- Cách xử của Kiều: ơn thì đền hậu, oán thì trả đúng tội, người biết hối lỗi thì tha.
- Lời bình của người kể chuyện ở cuối văn bản: “Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta”, “Mình làm mình chịu kêu mà ai thương”, “Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”.
- Văn bản được xếp trong Bài 5 “Khát vọng công lí”.
Câu 7: Nghệ thuật kể chuyện bằng thơ lục bát trong hai văn bản (trang 135)
Đề bài: Em có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuyện bằng thơ lục bát trong văn bản Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Nguyễn Đình Chiểu) và văn bản Thúy Kiều báo ân, báo oán (Nguyễn Du)?
Trả lời:
| Phương diện | Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga | Thúy Kiều báo ân, báo oán |
|---|---|---|
| Điểm chung | Đều dùng thể lục bát để kể chuyện, lời thơ nhịp nhàng, dễ nhớ; kết hợp lời người kể chuyện với lời đối thoại; nhân vật bộc lộ tính cách chủ yếu qua hành động và lời nói; cùng thể hiện khát vọng công lí, ước mơ cái thiện thắng cái ác. | |
| Cốt truyện, cách kể | Kể theo trình tự trực tiếp, sự việc nối tiếp nhanh (đánh cướp – hỏi han – từ chối lễ tạ), ít miêu tả nội tâm. | Sự việc được dựng thành “phiên tòa” có không khí, có lời bình của người kể chuyện; chú ý diễn biến tâm lí nhân vật (Thúc Sinh “mặt như chàm đổ”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”). |
| Ngôn ngữ | Mộc mạc, gần lời ăn tiếng nói Nam Bộ, đậm tính đạo lí. | Linh hoạt: trang trọng, nhiều điển cố với Thúc Sinh; nôm na, nhiều thành ngữ với Hoạn Thư; lập luận sắc sảo trong lời đối đáp. |
| Xây dựng nhân vật | Nhân vật mang tính lí tưởng, thiện – ác phân tuyến rõ. | Nhân vật có chiều sâu tâm lí, nhất là Kiều và Hoạn Thư. |
Nhìn chung, cả hai tác giả đều cho thấy thơ lục bát có khả năng kể chuyện rất linh hoạt; Nguyễn Đình Chiểu thiên về kể việc, nêu gương đạo lí, còn Nguyễn Du đặc biệt thành công trong khắc họa tâm lí nhân vật qua đối thoại. Em có thể xem lại bài soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga để so sánh.
Câu 8: Viết đoạn văn so sánh cách báo ân, báo oán (trang 135)
Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về cách Thúy Kiều báo ân, báo oán trong văn bản trên so với cách một nhân vật trong truyện cổ dân gian (mà em biết) ứng xử với những ân oán của họ.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo (so sánh với Thạch Sanh):
Cả Thúy Kiều trong Truyện Kiều và chàng Thạch Sanh trong truyện cổ tích cùng tên đều là những con người lương thiện từng bị hãm hại, và khi có cơ hội, cả hai đều ứng xử với ân oán theo lẽ công bằng. Thạch Sanh bị Lý Thông lừa đi canh miếu, bị cướp công giết chằn tinh, cứu công chúa, lại bị lấp cửa hang, rồi bị bắt oan vào ngục. Vậy mà khi sự thật sáng tỏ, chàng không trả thù, còn tha cho mẹ con Lý Thông về quê; việc trừng phạt được giao cho trời: sét đánh chết chúng trên đường về. Thúy Kiều cũng rộng lượng tha Hoạn Thư – người gây cho nàng nhiều đau khổ nhất – khi ả biết nhận lỗi. Tuy nhiên, Kiều không phó mặc cho trời: nàng tự tay đền ơn Thúc Sinh thật hậu, và kiên quyết trừng trị bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh bằng chính lời thề của chúng. Nếu truyện cổ tích gửi niềm tin công lí vào lực lượng siêu nhiên, thì Nguyễn Du để con người bị áp bức tự cầm cán cân công lí. Cách báo ân, báo oán của Kiều vì thế vừa nhân hậu, vừa rạch ròi, cho thấy ước mơ công lí của nhân dân đã trở nên chủ động và mạnh mẽ hơn.
Em có thể thay Thạch Sanh bằng cô Tấm (Tấm Cám) – nhân vật trừng trị mẹ con Cám rất quyết liệt – để thấy sự khác biệt: Kiều nghiêm khắc với kẻ bạc ác nhưng vẫn bao dung với người biết hối lỗi. Đọc lại truyện tại bài soạn bài Thạch Sanh.
Kết luận
Soạn bài Thúy Kiều báo ân, báo oán, em cần nhớ: khung cảnh phiên tòa uy nghiêm đánh dấu sự đổi đời của Kiều; cách nàng đền ơn Thúc Sinh, tha Hoạn Thư và trừng trị bọn bạc ác cho thấy một con người trọng nghĩa, sắc sảo mà bao dung; toàn đoạn thể hiện ước mơ công lí của nhân dân và tài xây dựng nhân vật qua đối thoại của Nguyễn Du.
Xem thêm: