Soạn bài Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng giúp em chuẩn bị và trả lời đủ 13 câu hỏi trong khi đọc cùng 6 câu hỏi cuối bài ở phần Thực hành đọc hiểu, Bài 4 “Truyện ngắn”, sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập 1 (trang 92 – 98). Lời giải bám sát đoạn trích trong sách, tập trung vào cuộc gặp gỡ éo le của cha con ông Sáu, diễn biến tâm lí bé Thu và kỉ vật chiếc lược ngà.
Chuẩn bị đọc truyện ngắn Chiếc lược ngà
Trước giờ học, em ôn lại phần Kiến thức ngữ văn của Bài 4 (cốt truyện, người kể chuyện, lời dẫn trực tiếp và gián tiếp), đọc trọn đoạn trích và chú ý các từ địa phương Nam Bộ được giải thích ở chân trang.

Yêu cầu chuẩn bị (trang 92)
Đọc trước truyện ngắn Chiếc lược ngà, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Nguyễn Quang Sáng; tìm một số bài viết về tác phẩm; suy nghĩ về mối quan hệ giữa quê hương của nhà văn và sắc thái Nam Bộ trong truyện; chia sẻ suy nghĩ về một tác phẩm văn học thể hiện tình cha con để lại ấn tượng sâu sắc cho em.
Trả lời:
Về tác giả Nguyễn Quang Sáng:
- Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014), người Chợ Mới, An Giang (làng Mỹ Luông). Từ năm 1946, khi mới mười bốn tuổi, ông đã vào bộ đội làm liên lạc.
- Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, bắt đầu viết văn; năm 1966 trở lại chiến trường miền Nam làm cán bộ sáng tác. Sau năm 1975, ông về sống tại TP. Hồ Chí Minh, nhiều năm đứng đầu Hội Nhà văn thành phố.
- Ông viết truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản phim, hầu như chỉ về đất và người Nam Bộ. Tác phẩm chính: tiểu thuyết Đất lửa, Mùa gió chướng; tập truyện Chiếc lược ngà; kịch bản phim Cánh đồng hoang. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Bài viết về tác phẩm: em có thể tìm đọc các bài phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà, bài viết về nghệ thuật xây dựng tình huống truyện hoặc về cách nhà văn miêu tả tâm lí trẻ em. Có thể dùng thêm các bài mở bài và kết bài Chiếc lược ngà để tham khảo cách nhận xét về tác phẩm.
Quê hương nhà văn và sắc thái Nam Bộ: sinh ra, lớn lên và chiến đấu ở miền Tây Nam Bộ nên Nguyễn Quang Sáng am hiểu sâu sắc cảnh sắc, tính cách, lời ăn tiếng nói của con người nơi đây. Vì vậy truyện có không gian sông nước (vàm kinh, xuồng, bến sông), nhân vật bộc trực, mạnh mẽ, giàu tình cảm như bé Thu, ông Sáu, và dùng nhiều từ địa phương: má, kêu, vô, chén, cái vá, thẹo, nói trổng, lui cui, méc…
Một tác phẩm về tình cha con: em ấn tượng với truyện “Bố của Xi-mông” (Mô-pa-xăng). Cậu bé Xi-mông không có bố, bị bạn bè chế giễu đến mức muốn tự tử, rồi được bác thợ rèn Phi-líp nhận làm bố. Tình cha con không cùng huyết thống nhưng đầy bao dung ấy giúp em hiểu rằng làm cha trước hết là biết che chở, yêu thương một đứa trẻ.
Đọc hiểu: trả lời câu hỏi trong khi đọc
Mười ba câu hỏi bên lề văn bản bám theo bốn đoạn đánh số trong sách. Câu trả lời ngắn gọn, dựa sát vào chi tiết ở đoạn văn có câu hỏi.
Câu 1: Bối cảnh xảy ra câu chuyện (trang 92)
Chú ý bối cảnh xảy ra câu chuyện.
Trả lời:
Truyện mở ra vào lúc hoà bình vừa lập lại sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí vào tháng 7 năm 1954. Hai cán bộ kháng chiến ở chiến trường miền Đông là bác Ba (người kể) và anh Sáu được về thăm quê ở một vùng sông nước gần vàm kinh đổ ra sông Cửu Long, sau gần tám năm đi kháng chiến. Thời gian nghỉ phép rất ngắn, họ lại chưa rõ sẽ phải tập kết ra Bắc hay ở lại miền Nam; chính bối cảnh chiến tranh chia cắt ấy làm nên tình huống éo le của truyện.
Câu 2: Hình dung cuộc gặp gỡ ban đầu của hai cha con (trang 93)
Hình dung cuộc gặp gỡ ban đầu của hai cha con.
Trả lời:
Xuồng chưa cập bến, anh Sáu đã nhảy lên bờ, bước vội về phía đứa bé đang chơi dưới gốc xoài, vừa khom người vừa dang tay chờ con chạy đến. Nhưng bé Thu chỉ giật mình, ngơ ngác nhìn người lạ. Càng xúc động, vết thẹo trên má anh càng đỏ lên trông dễ sợ. Khi anh run run gọi con, bé tái mặt, bỏ chạy và kêu má. Có thể hình dung một cuộc gặp lỡ dở, đầy hụt hẫng: người cha thì đứng sững, mặt sầm lại đau đớn, hai tay buông thõng; đứa con thì hoảng sợ như gặp người xa lạ.
Câu 3: Ngôn ngữ đối thoại trong văn bản (trang 93)
Chú ý ngôn ngữ đối thoại trong văn bản.
Trả lời:
Những lời anh Sáu gọi “Thu! Con.” rồi lặp lại “Ba đây con!” là lời đối thoại hướng về bé Thu, nhưng không hề được đáp lại; đứa trẻ chỉ kêu thét gọi má. Cuộc “đối thoại” vì thế chỉ có một chiều, cho thấy khoảng cách tám năm xa cách giữa hai cha con. Lời nói ngắn, lặp lại, giọng lắp bắp phản ánh niềm xúc động dồn nén của người cha.
Câu 4: Các lời “nói trổng” của bé Thu thể hiện điều gì (trang 93)
Các lời “nói trổng” của bé Thu thể hiện điều gì?
Trả lời:
Bé Thu liên tục nói trống không, tránh gọi “ba”: khi má bắt gọi ba vào ăn, nó đáp “Thì má cứ kêu đi.”; bị doạ đánh, nó nói “Vô ăn cơm!”, rồi “Cơm chín rồi!”; lúc cần chắt nước nồi cơm, nó kêu “Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!”. Những lời ấy cho thấy:
- Bé nhất quyết không chấp nhận người đàn ông lạ là ba mình; với nó, ba chỉ là người trong tấm ảnh.
- Tính cách bướng bỉnh, cứng cỏi, ương ngạnh của đứa trẻ Nam Bộ.
- Gián tiếp hé lộ tình yêu dành cho người cha thật: nó giữ tiếng “ba” cho đúng người mà nó tin là ba.
Câu 5: Lời bé Thu được trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp (trang 94)
Lời nói của nhân vật bé Thu được trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp?
Trả lời:
Đó là lời dẫn trực tiếp. Lời bé Thu được giữ nguyên văn, đứng sau dấu hai chấm, xuống dòng có gạch đầu dòng, như câu “Con kêu rồi mà người ta không nghe.” Cách dẫn này giúp người đọc nghe được giọng điệu thật của nhân vật, thấy rõ sự ương bướng, dỗi hờn của đứa trẻ khi gọi ông Sáu là “người ta”.
Câu 6: Dự đoán bé Thu sẽ làm gì (trang 94)
Dự đoán xem nhân vật bé Thu sẽ làm gì.
Trả lời:
Bị dồn vào thế bí khi nồi cơm sôi mà không nhấc nổi, nhiều người (kể cả bác Ba) nghĩ chắc nó sẽ chịu gọi ba. Nhưng với tính cách gan lì đã thấy ở trên, em đoán bé Thu sẽ tự tìm cách xoay xở chứ không chịu thua. Đúng như vậy, văn bản kể con bé xoay xở, kiễng chân với lấy cái vá để múc nước cơm ra từng chút, miệng lẩm bẩm; bác Ba phải thốt lên: “Con bé đáo để thật.”
Câu 7: Thái độ của bé Thu khác gì lúc đầu (trang 95)
Thái độ của bé Thu ở đây có gì khác với lúc đầu?
Trả lời:
Lúc đầu, bé Thu ngơ ngác, sợ hãi rồi bướng bỉnh, cau có, cự tuyệt mọi sự gần gũi của ông Sáu, thậm chí hất trứng cá và bỏ sang nhà ngoại. Đến sáng hôm chia tay, nó đứng lặng ở góc nhà, tựa cửa nhìn mọi người vây quanh ba; vẻ mặt không còn bướng bỉnh mà sầm lại buồn rầu, đôi mắt mở to, cái nhìn đầy nghĩ ngợi. Sự thay đổi cho thấy trong lòng bé đã có biến chuyển: nó đã biết người này chính là ba (sau đêm nghe ngoại giải thích về vết thẹo) và đang day dứt, ân hận.
Câu 8: Cảm nhận sự xúc động của người cha và con gái (trang 95)
Cảm nhận sự xúc động trong lòng người cha và con gái.
Trả lời:
- Người cha: anh Sáu muốn ôm con mà không dám, chỉ đứng nhìn con bằng ánh mắt thương yêu lẫn buồn bã rồi khẽ chào. Khi bất ngờ nghe tiếng gọi ba, rồi được con ôm chặt, hôn khắp mặt, anh xúc động đến không kìm được nước mắt, vừa ôm con vừa lấy khăn lau nước mắt để con khỏi thấy.
- Đứa con: tình cha con dồn nén bao năm bỗng bật ra thành tiếng thét “Ba… a… a… ba!”. Nhà văn tả tiếng kêu ấy như xé tan sự im lặng và xé lòng người nghe. Bé chạy xô tới, nhảy lên ôm cổ ba, hôn tóc, hôn vai, hôn cả vết thẹo, khóc và đòi giữ ba ở lại.
Khoảnh khắc nhận cha muộn màng mà mãnh liệt khiến cả người trong truyện lẫn người đọc đều nghẹn ngào.
Câu 9: Vì sao lúc đầu bé Thu không nhận ông Sáu là cha (trang 96)
Vì sao lúc đầu bé Thu không nhận ông Sáu là cha mình?
Trả lời:
Nguyên nhân là vết thẹo trên má ba. Bé Thu chỉ biết ba qua tấm hình chụp chung với má, mà người trong hình không có vết thẹo. Khi ngoại hỏi, nó nói rõ: “Cũng không phải già, ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy.” Vết thẹo là dấu tích tội ác của giặc, khiến người cha khác đi trong mắt đứa con; sự cự tuyệt của bé Thu vì thế không đáng trách mà xuất phát từ tình yêu dành cho người ba trong tấm ảnh.
Câu 10: Chi tiết thể hiện sự xúc động của nhân vật “tôi” (trang 97)
Chi tiết nào thể hiện sự xúc động của nhân vật “tôi”?
Trả lời:
Chi tiết bác Ba kể: “tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi”. Bác còn nảy ra ý muốn bảo anh Sáu ở lại thêm vài hôm, dù biết là không thể vì phải về kịp ngày nhận lệnh. Người lính từng chứng kiến bao cuộc chia tay vẫn thấy lòng thắt lại trước cảnh cha con anh Sáu.
Câu 11: Người cha đã làm gì để thực hiện lời hứa (trang 97)
Người cha đã làm gì để thực hiện lời hứa với con?
Trả lời:
- Tìm được một khúc ngà trong rừng, anh hớn hở chạy về khoe như đứa trẻ được quà.
- Anh đập dẹt vỏ đạn thành chiếc cưa, xẻ khúc ngà ra từng miếng, những lúc rỗi lại cưa từng chiếc răng lược một cách kiên nhẫn, kĩ lưỡng.
- Lược làm xong, anh gò lưng khắc lên sống lược dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.
- Những đêm nhớ con, anh lấy lược ra ngắm, mài lên tóc mình cho lược thêm bóng.
Cây lược trở thành nơi anh gửi trọn nỗi nhớ, niềm ân hận vì đã đánh con và khao khát được gặp lại con.
Câu 12: Chuyện không may đã xảy ra (trang 98)
Chuyện không may gì đã xảy ra?
Trả lời:
Cuối năm 1958, giữa một trận càn quy mô lớn của địch, anh Sáu trúng đạn máy bay vào ngực và hi sinh. Không còn sức để dặn dò, anh chỉ kịp móc cây lược trong túi đưa cho bác Ba và nhìn bạn rất lâu. Bác Ba hứa: “Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.” Đến khi ấy anh mới nhắm mắt. Lời hứa với con chưa kịp tự tay thực hiện là nỗi đau lớn nhất của câu chuyện.
Câu 13: Đoạn tóm tắt cuối cho biết điều gì (trang 98)
Đoạn tóm tắt này cho biết điều gì?
Trả lời:
Đoạn tóm tắt cho biết phần kết của truyện: nhiều năm sau, trong một chuyến công tác, bác Ba gặp lại Thu ở một trạm giao liên tại Đồng Tháp Mười. Lúc này Thu đã là cô giao liên gan dạ, đưa các cán bộ qua quãng đường nguy hiểm. Bác Ba trao cho Thu chiếc lược ngà, hoàn thành ước nguyện của người đồng đội; giữa bác và Thu nảy nở một tình cảm như tình cha con. Kết thúc ấy cho thấy tình cha con không mất đi và thế hệ sau đã tiếp bước cha anh trên con đường chiến đấu.
Trả lời câu hỏi cuối bài Chiếc lược ngà (trang 98)
Sáu câu hỏi cuối bài yêu cầu tóm tắt truyện, nhận diện người kể chuyện, phân tích nhân vật, nghệ thuật và chủ đề.
Câu 1: Tóm tắt truyện và chi tiết gắn với nhan đề (trang 98)
Hãy tóm tắt truyện. Nhan đề Chiếc lược ngà liên quan đến chi tiết nào trong văn bản?
Trả lời:
Tóm tắt: Hoà bình lập lại, anh Sáu cùng đồng đội là bác Ba về thăm nhà sau tám năm kháng chiến. Đứa con gái tám tuổi tên Thu không nhận anh là cha vì vết thẹo trên mặt anh khác với người trong tấm ảnh. Suốt ba ngày phép, anh tìm mọi cách gần con nhưng bé vẫn cự tuyệt, nói trổng, hất cái trứng cá anh gắp cho; giận quá anh đánh con, bé bỏ sang nhà ngoại. Được ngoại giải thích, sáng hôm anh lên đường, bé bất ngờ thét gọi ba, ôm chặt không cho ba đi và dặn ba mua cho một cây lược. Trở lại chiến khu, anh Sáu dồn hết tình thương vào việc làm cây lược ngà khắc chữ tặng con. Chưa kịp trao, anh hi sinh trong một trận càn, trước lúc mất nhờ bác Ba mang lược về cho con. Nhiều năm sau, bác Ba gặp Thu, lúc này đã là cô giao liên, và trao lại kỉ vật của người cha.
Nhan đề gắn với lời dặn của bé Thu lúc chia tay (“Ba về! Ba mua cho con một cây lược, nghe ba!”), với việc anh Sáu tỉ mỉ cưa từng chiếc răng lược, khắc dòng chữ tặng con, và với chi tiết trước khi hi sinh anh trao lược cho bác Ba. Chiếc lược ngà là biểu tượng của tình cha con thiêng liêng, bất tử.
Câu 2: Người kể chuyện và tác dụng của ngôi kể (trang 98)
Người kể câu chuyện trên là ai? Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện và các nhân vật chính trong văn bản, từ đó, nêu tác dụng của ngôi kể.
Trả lời:
- Người kể chuyện: bác Ba, nhân vật xưng “tôi” (ngôi thứ nhất).
- Quan hệ với các nhân vật chính: bác là hàng xóm, đồng đội, bạn thân của anh Sáu, cùng về thăm nhà, cùng trở lại chiến khu; là người chứng kiến cuộc gặp và lúc chia li của cha con anh và chứng kiến anh Sáu làm lược, hi sinh. Với bé Thu, bác là người khách trong ba ngày ấy, về sau là người trao lại chiếc lược và trở thành người thân như cha.
- Tác dụng: câu chuyện được kể bởi người trong cuộc nên chân thực, đáng tin; người kể có thể xen những nhận xét, cảm xúc (thương, xót, nghẹn ngào), làm tăng sức lay động. Đồng thời, đứng ở vị trí người quan sát, bác Ba giữ được khoảng cách để kể khách quan, có lúc dự đoán sai về bé Thu, tạo bất ngờ cho người đọc. Lời kể của bác trong một buổi kể chuyện với “các bạn” còn giúp truyện có giọng tâm tình, tự nhiên.
Câu 3: Chuyển biến cảm xúc, hành động của bé Thu và tính cách nhân vật (trang 98)
Phân tích sự chuyển biến trong cảm xúc, hành động của bé Thu trước và sau khi nhận ông Sáu là cha mình. Qua đó, hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu.
Trả lời:
Trước khi nhận cha:
- Gặp lần đầu: giật mình, tròn mắt nhìn, mặt tái đi, vụt chạy gọi má.
- Những ngày sau: càng được vỗ về càng đẩy ra; không chịu gọi ba, nói trổng; bị dồn vào thế bí vẫn tự múc nước cơm chứ không nhờ.
- Ở bữa cơm: hất văng cái trứng cá ba gắp vào chén; bị đánh thì không khóc, lặng lẽ gắp trứng bỏ lại vào chén, rồi xuống xuồng khua lòi tói thật to, bơi sang nhà ngoại.
Khi và sau khi nhận cha:
- Sáng chia tay: đứng ở góc nhà, mặt buồn, đôi mắt nghĩ ngợi; khi ba khẽ chào, mắt nó bỗng xôn xao.
- Bất ngờ thét gọi ba, chạy xô tới, nhảy lên ôm chặt cổ ba, hôn khắp mặt và cả vết thẹo; vừa khóc vừa không cho ba đi, rồi mếu máo đòi ba mua cây lược.
Nhận xét tính cách: bé Thu là đứa trẻ có cá tính mạnh, bướng bỉnh, gan góc nhưng tình cảm sâu sắc, mãnh liệt và dứt khoát. Sự cự tuyệt lúc đầu và sự quấn quýt lúc sau thật ra cùng xuất phát từ một tình yêu: yêu người cha thật đến mức không chấp nhận “người lạ” nhận là ba. Nhà văn miêu tả tâm lí trẻ em rất tinh tế và hợp lí.
Câu 4: Ấn tượng sâu sắc nhất về nhân vật ông Sáu (trang 98)
Ấn tượng sâu sắc nhất của em về nhân vật ông Sáu là gì? Yếu tố nào trong văn bản tạo nên ấn tượng ấy?
Trả lời:
Điều khiến em nhớ nhất ở ông Sáu là tình yêu con mãnh liệt và bền bỉ của ông Sáu, đến lúc chết vẫn không nguôi. Tám năm chỉ biết mặt con qua tấm hình, ông nôn nao nhảy khỏi xuồng để gặp con; ba ngày phép không đi đâu xa, chỉ quanh quẩn vỗ về con; bị con cự tuyệt, ông đau đến mức chỉ biết lắc đầu cười. Ở chiến khu, ông day dứt vì lỡ tay đánh con, dồn hết tâm sức làm cây lược. Trong giây phút cuối cùng, ông không trăng trối được lời nào mà chỉ móc cây lược trao cho bạn, như nhà văn viết: “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”.
Ấn tượng ấy được tạo nên bởi: hệ thống chi tiết hành động giàu sức gợi (nhảy khỏi xuồng, đánh con, làm lược, trao lược); việc miêu tả nét mặt, cử chỉ (vết thẹo đỏ ửng, mặt sầm lại, hai tay buông xuống); lời kể đầy cảm thông của bác Ba; và tình huống truyện éo le khiến tình cha con càng nổi bật.
Câu 5: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và miêu tả nhân vật (trang 98)
Phân tích nghệ thuật xây dựng cốt truyện (mở đầu, diễn biến, kết thúc) và nghệ thuật miêu tả nhân vật (hành động, tâm lí, lời đối thoại,…) trong văn bản Chiếc lược ngà.
Trả lời:
Xây dựng cốt truyện:
- Mở đầu: bác Ba nhìn cây lược ngà mà nhớ lại câu chuyện, tạo không khí hồi tưởng, gợi tò mò; ngay sau đó là bối cảnh hoà bình lập lại và cảnh ngộ cha con xa cách.
- Diễn biến: được tổ chức quanh hai tình huống éo le: cha về mà con không nhận, đến khi con nhận thì cha phải đi; rồi ở chiến khu, cha dồn tình thương vào cây lược nhưng hi sinh khi chưa kịp trao. Các sự việc nối tiếp chặt chẽ, có thắt nút (bé Thu cự tuyệt), cao trào (tiếng gọi ba), bước ngoặt (anh Sáu hi sinh).
- Kết thúc: bác Ba trao lược cho Thu, nay là cô giao liên, khép lại câu chuyện vừa bi thương vừa ấm áp, khẳng định sự tiếp nối giữa các thế hệ.
Miêu tả nhân vật:
- Hành động: mỗi hành động đều mang tính cách (anh Sáu nhảy khỏi xuồng, cưa lược; bé Thu hất trứng, khua lòi tói, nhảy lên ôm cổ ba).
- Tâm lí: diễn biến tâm lí bé Thu đi từ sợ hãi, cự tuyệt đến ân hận, bùng nổ yêu thương, được miêu tả qua nét mặt, ánh mắt, rất hợp với tâm lí trẻ thơ; nội tâm anh Sáu hiện qua nét mặt, nụ cười gượng, nỗi ân hận.
- Đối thoại: lời thoại ngắn, đậm chất khẩu ngữ Nam Bộ, những câu nói trống không của bé Thu cùng tiếng gọi lặp lại của anh Sáu tạo kịch tính.
Câu 6: Chủ đề văn bản và ý nghĩa với cuộc sống hôm nay (trang 98)
Xác định chủ đề của văn bản. Chủ đề ấy còn có ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay như thế nào?
Trả lời:
Chủ đề: văn bản ca ngợi tình cha con thiêng liêng, bền chặt giữa hoàn cảnh ngang trái do chiến tranh gây ra, đồng thời gợi nỗi đau mất mát mà chiến tranh gây ra cho mỗi gia đình.
Ý nghĩa hôm nay:
- Nhắc chúng ta trân trọng tình cảm gia đình, biết bày tỏ yêu thương với cha mẹ khi còn có thể, đừng để những hiểu lầm làm lỡ mất thời gian bên nhau.
- Giúp thế hệ trẻ hiểu những hi sinh của cha ông để có hoà bình hôm nay, từ đó biết ơn và có trách nhiệm gìn giữ hoà bình.
- Gợi suy nghĩ về những gia đình vẫn phải chia cắt vì chiến tranh, xung đột ở nhiều nơi trên thế giới.
Kết luận
Khi soạn Chiếc lược ngà, em cần nắm hai tình huống éo le của truyện, diễn biến tâm lí bé Thu, tình yêu con của ông Sáu và ý nghĩa của kỉ vật chiếc lược. Ở cùng Bài 4, em có thể xem thêm bài Soạn bài Làng (Kim Lân) và Soạn bài Ông lão bên chiếc cầu.
Xem thêm: