Soạn bài Truyện lạ nhà thuyền chài (Lê Thánh Tông) giúp em trả lời câu hỏi chuẩn bị đọc, các câu hỏi trong khi đọc và 7 câu hỏi Suy ngẫm và phản hồi ở Bài 4, sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập 1 (trang 97 – 105). Lời giải chú trọng đặc trưng truyện truyền kì: yếu tố kì ảo, nhân vật, lời thơ xen kẽ và lời bàn cuối truyện.
Chuẩn bị đọc Truyện lạ nhà thuyền chài
Trước khi đọc, em ôn lại đặc điểm của truyện truyền kì đã học ở Chuyện người con gái Nam Xương và nghĩ về những nhân vật phụ nữ đẹp trong văn học.

Câu 1: Chia sẻ về một nhân vật phụ nữ đáng trân trọng (trang 97)
Văn học dân gian Việt Nam có nhiều tác phẩm đề cao phẩm chất cao đẹp như sống chung thủy, tình nghĩa, vị tha… của con người Việt Nam, nhất là người phụ nữ. Hãy chia sẻ về một nhân vật phụ nữ trong tác phẩm em đã đọc và trân trọng.
Trả lời:
Gợi ý: Em trân trọng nhân vật Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám. Mồ côi mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ, Tấm chịu bao cay đắng: bị lừa lấy giỏ tép, bị bắt chăn trâu đồng xa, bị tranh mất cơ hội đi hội. Dù vậy, cô vẫn hiền lành, chăm chỉ, hiếu thảo. Bị hãm hại nhiều lần, Tấm vẫn hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị để trở về với cuộc sống. Nhân vật cho em thấy sức sống bền bỉ của cái thiện và ước mơ của nhân dân về công bằng, hạnh phúc cho người lương thiện.
Trải nghiệm cùng văn bản
Các câu hỏi trong khi đọc giúp em chú ý lời kể, quan niệm của nhân vật và các chi tiết kì ảo.
Câu 1: Lời thơ ở đoạn 1 là lời của ai? (trang 97)
Những câu thơ trong đoạn 1 là lời của người kể chuyện hay là lời của nhân vật?
Trả lời:
Các câu thơ ấy thuộc về người kể chuyện. Các câu thơ được dẫn bằng cụm từ “Thật là” và “Cũng thật là”, dùng để tả, kể thêm về công việc vất vả, cuộc sống sớm chiều trên sông nước của vợ chồng nhà chài, không phải lời do nhân vật nói ra.
Câu 2: Quan niệm về việc học giữa hai cha con (trang 98)
Các lời thoại của cha và Thúc Ngư trong đoạn 2 cho thấy quan niệm về việc học hành giữa hai cha con khác nhau như thế nào?
Trả lời:
- Người cha: coi trọng việc học sách thánh hiền. Ông muốn con bỏ nghề chài để đi học, vì học mới biết lời hay, việc tốt của người xưa mà noi theo. Đó là quan niệm phổ biến của xã hội phong kiến đề cao Nho học.
- Thúc Ngư: nhìn việc học bằng con mắt rất thực tế: đã chẳng có cá trong sách, lời hay cũng không thay được tấm lưới, vậy học để làm gì. Với chàng, cái học phải gắn với nghề nghiệp, với cái ăn cái mặc của gia đình.
Hai quan niệm đối lập: một bên đề cao đạo lí sách vở, một bên đề cao lợi ích thiết thực.
Câu 3: Yếu tố kì ảo và tác dụng trong phần 3
Lưu ý yếu tố kì ảo và tác dụng của yếu tố kì ảo trong phần 3.
Trả lời:
Yếu tố kì ảo: ngôi nhà có đèn lửa hiện ra giữa đêm sương trên biển; ông già có hai sợi râu rất dài biết trước khách đến; mâm cơm toàn những con vật tí hon đang bơi nhảy, gắp lên lại thành món chín thơm; hai “gã bán kinh” mình vảy, mặt thú, kéo thuyền đi muôn dặm chỉ trong vài khắc; Ngọa Vân có phép rút ngắn đường.
Tác dụng: tạo không khí huyền bí, hấp dẫn; hé lộ dần thân phận khác thường của Ngọa Vân và gia đình nàng (dòng dõi hải tiên); chuẩn bị cho những sự kiện kì lạ ở đoạn 4; đồng thời thể hiện ước mơ về một cuộc sống được thần linh che chở của người dân vùng biển.
Câu 4: Ngọa Vân là người như thế nào? (trang 104)
Việc làm và lời nói, lời hát của Ngọa Vân trong đoạn 4 cho thấy nàng là người thế nào?
Trả lời:
- Việc làm: không ngần ngại hiện nguyên hình, hóa thành con cá lớn chắn ngọn nước để cứu cha mẹ chồng và chồng; trước khi đi còn tặng chồng vật quý giúp không bao giờ chết đuối.
- Lời nói, lời hát: nàng khóc khi phải chia tay, tiếc nuối mối tình trăm năm, lo tai vạ sẽ đến với cha mẹ chồng nếu mình ở lại, dặn dò chồng giữ gìn.
⇒ Ngọa Vân là người vợ thủy chung, giàu tình nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ chồng, dũng cảm, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng vì sự an toàn của gia đình chồng.
Suy ngẫm và phản hồi
Bảy câu hỏi sau khi đọc giúp em nhìn lại toàn bộ truyện, từ cốt truyện, nhân vật đến những nét riêng của thể loại.
Câu 1: Tóm tắt và trật tự sắp xếp sự kiện (trang 104)
Tóm tắt nội dung câu chuyện và cho biết các sự kiện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian như thế nào.
Trả lời:
Tóm tắt: Vợ chồng nhà chài ở biển Đông về già sinh được Thúc Ngư. Chàng không chịu đi học, thường bỏ đi nhiều ngày, nói là đi tìm vợ. Một đêm, ông bà chài lạc đường, trọ nhà một ông già râu dài và biết con gái ông là Ngọa Vân đã hẹn ước với con mình; hôm sau, hai gã bán kinh đưa ông bà về bến cũ trong chớp mắt. Ngọa Vân về làm dâu, cả nhà ngày càng khá giả. Một đêm Thất tịch, nước biển dâng cao, Ngọa Vân hóa cá lớn chắn sóng cứu cả nhà. Vì thân phận đã lộ, nàng hát lời từ biệt, tặng chồng thuốc chống chết đuối rồi hóa rồng bay đi.
Trật tự sự kiện:
- Thời gian: tuyến tính, theo trình tự trước sau, từ lúc Thúc Ngư ra đời, lớn lên, cưới vợ đến khi vợ chồng chia li; có những mốc như mười lăm tuổi, hai ba năm, bốn năm, đêm mồng Bảy tháng Bảy.
- Không gian: chuyển từ không gian đời thực (làng chài, bến sông, mặt biển) sang không gian kì ảo (ngôi nhà giữa biển, đường biển muôn dặm) rồi trở lại đời thực, khép lại bằng cảnh nàng hóa rồng bay về phía trời xa.
Câu 2: Quan niệm về việc học và chọn nghề của Thúc Ngư (trang 104)
Em đồng tình hay không đồng tình với quan niệm về việc học và việc chọn nghề của nhân vật Thúc Ngư? Giải thích ý kiến của em.
Trả lời:
Gợi ý: Em đồng tình một phần. Thúc Ngư đúng ở chỗ cái học phải gắn với cuộc sống, phải giúp con người làm tốt công việc của mình và nuôi sống gia đình; chàng cũng có ý thức chọn nghề phù hợp với hoàn cảnh nhà mình. Tuy nhiên, em không đồng tình khi chàng cho rằng sách vở vô ích chỉ vì trong sách không có cá. Sách giúp con người mở mang hiểu biết, rèn đạo đức, và ngày nay, kiến thức từ sách còn giúp người làm nghề cá đánh bắt, bảo quản, buôn bán hiệu quả hơn. Theo em, học và làm cần đi đôi với nhau.
Câu 3: Tính cách Ngọa Vân và vẻ đẹp người phụ nữ truyền thống (trang 104)
Phân tích tính cách nhân vật Ngọa Vân và cho biết cách ứng xử với chồng, cha mẹ chồng của nàng thể hiện điều gì về người phụ nữ Việt Nam truyền thống.
Trả lời:
- Lễ nghĩa, khiêm nhường: dù là con nhà giàu sang, xinh đẹp, nàng vẫn lạy chào cha mẹ chồng đúng lễ; tự mình tiễn ông bà ra tận chỗ thuyền, dặn dò chu đáo.
- Đảm đang, chịu khó: về nhà chồng, sống trên thuyền lênh đênh, góp sức để mỗi lần buông lưới đều được cá ngon, giúp nhà chồng giàu lên.
- Hiếu thảo, dũng cảm, giàu đức hi sinh: khi tai họa ập đến, nàng hóa cá chắn sóng cứu cả nhà, chấp nhận để lộ thân phận.
- Thủy chung, tình nghĩa: buộc phải ra đi để tránh tai vạ cho cha mẹ chồng, nàng đau đớn từ biệt, để lại cho chồng món quà giữ gìn tính mạng.
Cách ứng xử của Ngọa Vân thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của phụ nữ Việt xưa: hiếu thảo với cha mẹ chồng, chung thủy với chồng, đảm đang, sẵn sàng hi sinh vì gia đình.
Câu 4: Chi tiết kì ảo và tác dụng (trang 104)
Nêu một số chi tiết kì ảo và chỉ ra tác dụng của chúng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, chủ đề của văn bản.
Trả lời:
| Chi tiết kì ảo | Tác dụng |
|---|---|
| Ngôi nhà giữa biển, ông già râu dài, mâm cơm toàn vật sống tí hon | Gợi thế giới thủy cung bí ẩn, hé lộ nguồn gốc khác thường của Ngọa Vân |
| Hai gã bán kinh kéo thuyền đi muôn dặm trong vài khắc | Cho thấy phép lạ và sự chu đáo, lễ nghĩa của Ngọa Vân với cha mẹ chồng |
| Ngọa Vân hóa thành con cá dài nghìn thước chắn sóng | Làm nổi bật lòng dũng cảm, đức hi sinh, tình yêu với gia đình chồng |
| Nước bọt hòa nước mặn giúp không chết đuối; nàng hóa rồng bay đi | Thể hiện tình nghĩa thủy chung đến phút cuối; tạo kết thúc vừa buồn vừa đẹp |
Nhìn chung, yếu tố kì ảo góp phần ca ngợi người phụ nữ hiếu nghĩa và gửi gắm ước mơ về sự che chở, bình yên của người dân miền biển.
Câu 5: Lời thơ ở đoạn 1 và lời hát ở đoạn 4 (trang 104)
Đọc kĩ lời thơ ở đoạn 1, lời hát ở đoạn 4 và cho biết: a. Lời thơ ở đoạn 1 là tự sự, miêu tả hay biểu cảm? Lời hát ở đoạn 4 là đối thoại hay độc thoại, độc thoại nội tâm? Dấu hiệu nhận biết? b. Tác dụng của việc dùng lời thơ, lời hát trong văn bản.
Trả lời:
a.
- Lời thơ ở đoạn 1 chủ yếu là tự sự kết hợp miêu tả: kể và tả công việc của hai vợ chồng, chồng chặn lưới, vợ đi câu, sớm đi tối về, như các câu:
“Chồng đem tấm lưới chặn dòng sâu,
Vợ vác cần dài tới bến câu.”
Dấu hiệu: các câu thơ thuật lại hành động, cảnh sinh hoạt; được dẫn bằng lời người kể. - Lời hát ở đoạn cuối là lời của nhân vật Ngọa Vân hát với chồng, có hướng tới người nghe (gọi tên “Thúc Ngư lang!”) nên mang tính đối thoại, nhưng chủ yếu là bày tỏ nỗi lòng của chính nàng, gần với độc thoại. Dấu hiệu: lời hát được dẫn sau lời kể “lau nước mắt mà hát rằng”, dùng đại từ, lời gọi trực tiếp, nhiều câu cảm thán như:
“Ông xanh, ông xanh sao phũ phàng!”
b. Tác dụng: làm cho lời kể sinh động, giàu nhạc điệu; lời thơ đoạn đầu khắc họa đời sống lam lũ của nhà chài; lời hát đoạn cuối bộc lộ sâu sắc tâm trạng đau đớn, tình nghĩa của Ngọa Vân; tăng chất trữ tình và đúng phong cách truyện truyền kì, vốn hay xen thơ ca.
Câu 6: Truyện có phải truyện truyền kì không? (trang 105)
Truyện lạ nhà thuyền chài có phải là truyện truyền kì hay không? Dựa vào đâu để em khẳng định như vậy?
Trả lời:
Có. Căn cứ:
- Truyện viết bằng chữ Hán, thuộc tập truyện kí thời trung đại.
- Cốt truyện kết hợp yếu tố hiện thực (cuộc sống nhà chài, quan niệm về học hành, nạn nước dâng) với yếu tố kì ảo (hải tiên, gã bán kinh, hóa cá, hóa rồng).
- Nhân vật vừa có người trần vừa có nhân vật siêu nhiên; có sự giao thoa giữa thế giới người và thế giới thần tiên.
- Có xen thơ, lời hát và kết thúc bằng lời nhận xét của người đời sau (lời bàn của Sơn Nam Thúc).
- Qua câu chuyện kì lạ, tác giả gửi gắm quan niệm đạo đức, ca ngợi nhân vật hiếu nghĩa.
Câu 7: Tác dụng của lời bàn của Sơn Nam Thúc (trang 105)
Lời bàn của Sơn Nam Thúc ở cuối truyện có tác dụng hỗ trợ em đọc hiểu văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài như thế nào?
Trả lời:
Lời bàn tóm lại những việc làm nổi bật của Ngọa Vân: một hải tiên mà chịu làm dâu nhà chài, giúp nhà chồng giàu lên, liều thân cản sóng, rồi tự cắt đứt tình vợ chồng để tránh tai vạ cho cha mẹ chồng. Nhờ đó, người đọc nhận ra rõ chủ đề truyện là ca ngợi người con dâu hiếu nghĩa vẹn toàn. Lời bàn còn so sánh với những nàng dâu cậy giàu mà khinh rẻ cha mẹ chồng, giúp em thấy ý nghĩa phê phán và bài học đạo đức của câu chuyện. Đây cũng là một đặc điểm của truyện truyền kì: tác giả hoặc người đời sau trực tiếp nêu nhận xét, đánh giá.
Kết luận
Soạn bài Truyện lạ nhà thuyền chài, em cần nắm cốt truyện theo bốn đoạn, quan niệm về việc học của hai cha con, vẻ đẹp nhân vật Ngọa Vân, tác dụng của yếu tố kì ảo, lời thơ, lời hát và lời bàn cuối truyện. So sánh với Chuyện người con gái Nam Xương sẽ giúp em hiểu rõ hơn đặc trưng của thể loại truyền kì.
Xem thêm:
- Truyện lạ nhà thuyền chài: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương
- Mục lục soạn văn 9 Chân trời sáng tạo
- Tác giả Lê Thánh Tông: ông vua Hồng Đức, Tao đàn nguyên súy