Ông từng lấy tên làng quê cha, Trảo Nha ở Can Lộc, Hà Tĩnh, làm bút danh, dù ông chào đời và lớn lên tận Gò Bồi, Bình Định. Xuân Diệu (1916 – 1985), tên thật Ngô Xuân Diệu, là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, tác giả hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Sau Cách mạng tháng Tám, ông còn là nhà báo, nhà phê bình thơ cổ điển, dịch giả và người dìu dắt nhiều cây bút trẻ. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I.
Gò Bồi và Trảo Nha: hai miền quê của Ngô Xuân Diệu

| Tên thật | Ngô Xuân Diệu |
| Bút danh | Xuân Diệu, Trảo Nha |
| Năm sinh – năm mất | 2/2/1916 – 18/12/1985 (Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi năm sinh 1917) |
| Quê quán | Quê cha: làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; sinh ở quê mẹ Gò Bồi, thôn Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định |
| Thể loại | Thơ, truyện ngắn, bút ký, tiểu luận phê bình, dịch thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | Thơ thơ (1938), Phấn thông vàng (1939), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (1981 – 1982) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, 1996) |
| Trong SGK hiện hành | Thơ duyên, Nguyệt cầm, Đây mùa thu tới, Vội vàng; tiểu luận Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam |
Cha ông là ông Ngô Xuân Thọ (tộc phả ghi Ngô Xuân Thụ), một nhà nho quê Can Lộc; mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp, người Gò Bồi. Xuân Diệu sống ở Tuy Phước đến năm mười một tuổi rồi vào Quy Nhơn học. Hai miền đất, một đằng là quê nội Hà Tĩnh, một đằng là quê ngoại Bình Định, cùng có mặt trong tên tuổi ông: một cái làm bút danh, một cái làm nơi sinh.
Huế, Hà Nội, Mỹ Tho: những năm trước Cách mạng
Năm 1936, Xuân Diệu ra Huế học trường Khải Định và gặp Huy Cận, người sẽ thành bạn thân suốt đời. Đậu tú tài, ông ra Hà Nội, học trường Luật, viết báo Ngày Nay và đến với nhóm Tự lực văn đoàn khi nhóm đã nổi danh. Từ năm 1938, hai người bạn thuê chung căn gác số 40 Hàng Than.
Năm 1940, ông vào Mỹ Tho làm viên chức (tham tá thương chánh). Quãng đời công chức ấy không dài: Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi năm 1943 ông xin thôi việc ra Hà Nội, Wikipedia ghi ông trở lại Hà Nội năm 1942. Năm 1944, ông tham gia phong trào Việt Minh.
Chỉ trong chừng ấy năm, ông đã in xong phần lớn những gì làm nên tên tuổi mình. Ở tuổi hai mươi hai, ông là tác giả của một tập thơ mà cả một thế hệ học trò chép tay.
Thơ thơ, Phấn thông vàng, Gửi hương cho gió
Thơ thơ ra mắt năm 1938, Phấn thông vàng (tập truyện ngắn duy nhất ông xuất bản) năm 1939, Gửi hương cho gió năm 1945. Ba cuốn sách mỏng, in trong bảy năm, nhưng chúng đặt Xuân Diệu vào trung tâm của Thơ mới.
Trong Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh và Hoài Chân gọi ông là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Lời khen ấy về sau thành câu nhắc đến nhiều nhất mỗi khi giới thiệu Xuân Diệu. Bài tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu trên Văn VN tập hợp những bài thơ được yêu thích nhất của hai tập thơ này.
Về phong cách, nói gọn: một cái tôi khát sống, sợ thời gian trôi, đem cảm giác và nhịp điệu mới vào thơ Việt; phần phân tích chi tiết nằm ở bài phong cách sáng tác của Xuân Diệu. Còn vì sao ông được gọi là “ông hoàng thơ tình”, xem bài Xuân Diệu được mệnh danh là gì.
Sau 1945: thơ công dân và nghề báo
Cách mạng thay đổi đời ông và giọng thơ ông. Sau tháng Tám năm 1945, Xuân Diệu hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc, làm thư ký tòa soạn tạp chí Tiên phong. Kháng chiến chống Pháp, ông lên Việt Bắc, công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam và làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I; sau năm 1954, nhiều khóa liền là ủy viên Ban Chấp hành, ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.
Thơ ông giai đoạn này chuyển sang ca ngợi cách mạng, kháng chiến, đất nước, với nhịp viết đều đặn hiếm thấy:
| Giai đoạn | Tập thơ |
|---|---|
| 1945 – 1954 | Ngọn quốc kỳ (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới sao vàng (1949) |
| 1955 – 1965 | Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Một khối hồng (1964) |
| 1966 – 1985 | Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982) |
Tập Ngôi sao được giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Năm 1983, ông được bầu làm viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức. Những bài thơ tình viết sau 1945 vẫn có, nhưng thưa hơn; người đọc phổ thông đến nay vẫn nhớ Xuân Diệu chủ yếu qua thơ trước Cách mạng.
Người bình thơ cổ điển: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến
Một mảng ít được nhắc trong sách học là Xuân Diệu nhà phê bình. Từ cuối thập niên 1950, ông viết nhiều về các nhà thơ cổ điển: Ba thi hào dân tộc (1959), cuốn sách về Hồ Xuân Hương mang nhan đề “bà chúa thơ Nôm”, Đọc thơ Nguyễn Khuyến, rồi hai tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (1981, 1982). Danh xưng “bà chúa thơ Nôm” mà ông dùng cho Hồ Xuân Hương đến nay vẫn được dùng rộng rãi.
Văn phê bình của ông nhiệt thành, nhiều cảm giác, đọc thơ người khác bằng con mắt của người làm thơ. Học sinh lớp 8 đang học một đoạn tiêu biểu: tiểu luận Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, viết về Nguyễn Khuyến và ba bài thơ thu. Ai muốn đọc thêm có thể xem bài Xuân Diệu nhận xét về Nguyễn Khuyến.
Ông còn dịch thơ: Nazim Hikmet, Nicolás Guillén, các nhà thơ Bun-ga-ri. Bên cạnh đó là những tập tiểu luận về nghề như Dao có mài mới sắc (1963) hay Công việc làm thơ (1984).
Tình bạn với Huy Cận
Hai chàng trai cùng quê Hà Tĩnh gặp nhau ở Huế năm 1936, rồi cùng ra Hà Nội, ở chung căn gác 40 Hàng Than từ năm 1938 trong khoảng hai năm. Về sau, Huy Cận lấy em gái Xuân Diệu là bà Ngô Thị Xuân Như; hai gia đình nhiều năm sống chung một ngôi nhà.
Tình bạn ấy kéo dài gần năm mươi năm, qua Thơ mới, qua kháng chiến, qua những năm làm việc ở Hà Nội. Đọc thơ hai người cùng thời, người ta thấy hai giọng rất khác: Xuân Diệu sôi nổi, vồ vập; Huy Cận trầm, buồn và mênh mang như trong bài Tràng giang.
Người thầy của những bạn làm thơ trẻ
Trong hai thập niên cuối đời, Xuân Diệu dành nhiều sức cho lớp người viết đi sau. Cuốn Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (Wikipedia ghi in năm 1961) gói kinh nghiệm của ông thành những lời khuyên cụ thể: làm thơ là một nghề, phải lao động chữ nghĩa, phải đào sâu vào tâm hồn riêng.
Wikipedia tiếng Việt dẫn lại hồi tưởng của Trần Đăng Khoa: khi cậu bé mười tuổi ở Hải Dương bắt đầu được biết đến vì thơ, chính Xuân Diệu đã tìm đến và xin đọc tập thơ đầu tay của cậu. Chi tiết nhỏ ấy nói nhiều về một nhà thơ lớn luôn tò mò trước giọng thơ mới.
Thơ văn Xuân Diệu trong sách giáo khoa Ngữ văn mới
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam (tiểu luận) | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 8 | Soạn bài |
| Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng” (Phan Huy Dũng) | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 7 | Soạn bài |
| Thơ duyên | Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 3 | Soạn bài Thơ duyên |
| Nguyệt cầm | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 | Soạn bài Nguyệt cầm |
| Đây mùa thu tới | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài Đây mùa thu tới |
| Vội vàng | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 9 | Vội vàng: tác giả – tác phẩm |
| Xuân Diệu (trích Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân) | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1 (đọc kết nối) | — |
Vội vàng là bài được hỏi nhiều nhất trong các kỳ thi. Hai câu mở đầu đã đủ cho thấy cái tôi muốn níu giữ thời gian của Xuân Diệu:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Bạn đọc cần dàn ý và bài văn mẫu có thể xem bài phân tích Vội vàng.
Tháng Chạp năm 1985
Ngày 18/12/1985, Xuân Diệu qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội, an táng ở nghĩa trang Mai Dịch. Theo Wikipedia, ông để lại khoảng 450 bài thơ, một phần còn nằm trong di cảo, cùng nhiều bút ký và tiểu luận. Mười một năm sau, năm 1996, tên ông có trong danh sách đợt đầu tiên được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Ở quê nội Can Lộc, nhà lưu niệm Xuân Diệu đã được công nhận là di tích. Còn với học trò, ông vẫn là người của mùa xuân, tuổi trẻ và những câu thơ muốn “tắt nắng” cho màu đừng phai.