Kết bài Làng là đoạn khép lại bài văn nghị luận về truyện ngắn của Kim Lân, văn bản học ở Bài 4 sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập 1). Kết bài hay cần đánh giá được nghệ thuật miêu tả tâm lí, vẻ đẹp của nhân vật ông Hai và tình yêu làng đã hòa vào lòng yêu nước, rồi để lại một suy nghĩ riêng. Bài viết gồm 13 mẫu kết bài đã viết hoàn chỉnh: ngắn gọn, tổng kết, liên hệ, mở rộng và các mẫu cho từng dạng đề.

Cách viết kết bài Làng
- Gọi lại tên truyện ngắn Làng và Kim Lân, tóm vấn đề đã phân tích trong một câu.
- Đánh giá cả nội dung (tình yêu làng hòa làm một với tình yêu nước, niềm tin vào kháng chiến) lẫn nghệ thuật (tình huống thử thách, miêu tả tâm lí, ngôn ngữ nhân vật đậm chất nông thôn).
- Đề hỏi về nhân vật ông Hai hay một đoạn truyện thì khép đúng phần ấy trước khi nói tới cả tác phẩm.
- Phần liên hệ nên gần gũi: tình cảm với quê hương, trách nhiệm của người trẻ hôm nay.
Kết bài Làng ngắn gọn, tổng kết
Mẫu 1 – ngắn gọn
Bằng một tình huống bất ngờ và ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo, truyện ngắn Làng của Kim Lân đã dựng nên chân dung ông Hai, một lão nông say mê làng mình nhưng đặt tình yêu nước lên trên hết. Nhân vật ấy đến nay vẫn sống trong lòng người đọc như hình ảnh đẹp của người dân quê thời kháng chiến.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Truyện ngắn Làng đã thể hiện thật cảm động tình yêu quê hương hòa quyện với ý thức kháng chiến ở những người dân quê buổi đầu chống Pháp. Kim Lân đặt nhân vật vào một tình huống éo le để tình cảm ấy bộc lộ trọn vẹn: niềm tự hào lúc khoe làng, nỗi đau khi nghe tin làng theo giặc, cuộc giằng co giữa hai tình cảm và niềm vui bừng lên khi tin dữ được cải chính. Cùng với lối khắc họa nội tâm bằng độc thoại, cử chỉ, những ý nghĩ ngổn ngang và thứ ngôn ngữ mang đậm khẩu ngữ nông thôn, tác phẩm đã để lại một trong những nhân vật sống động bậc nhất của văn xuôi kháng chiến.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí tác phẩm và tác giả
Ra đời năm 1948, giữa buổi đầu của cuộc kháng chiến, Làng sớm được coi là truyện ngắn tiêu biểu bậc nhất của văn học thời kì này. Tác phẩm khẳng định Kim Lân là nhà văn hiểu người nông dân đến tận chân tơ kẽ tóc, biết nhìn ra trong những con người quê mùa, ít chữ một tâm hồn đẹp và một lòng yêu nước bền bỉ. Hơn bảy mươi năm trôi qua, ông Hai với tật khoe làng và những giọt nước mắt tủi nhục vẫn được nhắc đến như một trong những nhân vật thành công nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Kết bài Làng có liên hệ, mở rộng
Mẫu 4 – liên hệ bản thân
Gấp lại truyện ngắn Làng, em cứ nhớ mãi hình ảnh ông Hai ôm đứa con út vào lòng, thủ thỉ hỏi nó ủng hộ ai, như để tự nhắc mình phải giữ vững niềm tin. Kim Lân giúp em hiểu tình yêu quê hương không phải điều gì xa xôi; nó bắt đầu từ những gì thân thuộc nhất rồi lớn dần thành trách nhiệm với đất nước. Thế hệ em không phải tản cư hay chịu cảnh làng bị đồn theo giặc, nhưng vẫn có thể yêu quê hương bằng việc học tốt, sống tử tế và góp sức nhỏ bé của mình cho nơi mình lớn lên.
Mẫu 5 – liên hệ người trẻ hôm nay
Câu chuyện về ông Hai đã lùi xa hơn bảy thập kỉ, nhưng điều Kim Lân gửi gắm trong truyện ngắn Làng vẫn còn nguyên ý nghĩa. Hôm nay, nhiều người trẻ rời quê lên thành phố học tập, làm việc, thậm chí ra nước ngoài lập nghiệp. Tình yêu quê của họ có thể không còn thể hiện bằng tật khoe làng, nhưng vẫn cần một điều giống ông Hai: biết đặt lợi ích chung lên trên, biết tự hào về nơi mình sinh ra và không làm điều gì khiến quê hương phải hổ thẹn. Đó là bài học giản dị mà sâu sắc tác phẩm để lại.
Mẫu 6 – mở rộng, so sánh với Lão Hạc
Đặt Làng bên cạnh Lão Hạc của Nam Cao, ta thấy rõ bước chuyển của hình tượng người nông dân trong văn học Việt Nam. Lão Hạc nghèo khổ, cô độc, chỉ biết giữ trọn nhân cách bằng cái chết; còn ông Hai của Kim Lân tuy vẫn nghèo nhưng đã có một chỗ dựa tinh thần mới là cách mạng và kháng chiến. Tình yêu làng của ông không còn khép kín sau lũy tre mà đã mở rộng thành tình yêu nước. Chính phát hiện ấy làm nên giá trị riêng của truyện ngắn Làng trong dòng văn xuôi viết về người nông dân.
Mẫu 7 – dùng nhận định để khép lại
Ê-ren-bua từng khẳng định: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một minh họa sinh động cho chân lí ấy. Từ một lão nông chỉ biết say sưa kể về cái làng Chợ Dầu, ông Hai đã trở thành người sẵn sàng thù cả cái làng thân yêu khi nghĩ rằng nó phản bội kháng chiến. Tình yêu làng không mất đi mà được đặt vào một tình yêu rộng lớn hơn. Đó là vẻ đẹp tinh thần mà Kim Lân trân trọng và muốn gửi lại cho người đọc.
Mẫu 8 – trở lại hình ảnh đầu và cuối truyện
Truyện ngắn Làng mở ra với một ông Hai náo nức ở phòng thông tin, nghe tin thắng trận mà lòng rộn ràng, và khép lại với một ông Hai lại hớn hở đi khắp xóm kể chuyện Tây đốt nhà mình. Giữa hai khoảnh khắc vui ấy là những ngày ông lão sống trong nỗi nhục nhã, không dám ló mặt ra đường. Vòng tròn cảm xúc đó cho thấy niềm vui của ông Hai luôn gắn với vận mệnh của làng và của kháng chiến. Kim Lân đã khép truyện bằng một tiếng cười mà người đọc nghe xong lại thấy rưng rưng.
Kết bài Làng theo từng dạng đề
Mẫu 9 – đề phân tích nhân vật ông Hai
Qua những trang viết về ông Hai, truyện ngắn Làng đã khắc họa một người nông dân vừa đáng yêu vừa đáng kính. Đáng yêu ở cái tật khoe làng, ở sự hồn nhiên, nói nhiều; đáng kính ở chỗ dù đau khổ đến đâu, ông vẫn một lòng hướng về kháng chiến và cụ Hồ. Nhân vật được Kim Lân xây dựng nhờ vốn hiểu biết tường tận về tâm lí người dân quê, nên mỗi cử chỉ, lời nói đều chân thật. Ông Hai vì thế đại diện cho lớp nông dân đã đổi đời và đi theo cách mạng trong những năm đầu kháng chiến.
Mẫu 10 – đề tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Đoạn ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc là một trong những trang miêu tả tâm lí hay nhất của Kim Lân. Từ phút sững sờ đến lúc về nhà nằm vật ra giường, từ những ngày nơm nớp sợ người ta nhắc đến chuyện ấy tới cuộc giằng co dữ dội trong lòng, ông lão đi đến quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Câu nói giản dị cho thấy tình yêu nước đã lớn hơn và bao trùm tình yêu làng trong lòng người nông dân. Qua đoạn truyện này, nhân vật ông Hai hiện lên chân thật và cảm động hơn bao giờ hết.
Mẫu 11 – đề đoạn ông Hai trò chuyện với đứa con út
Lời hỏi đáp giữa ông Hai và đứa con út trong truyện ngắn Làng chỉ vài dòng nhưng chứa cả nỗi lòng của người cha. Mượn lời đứa trẻ, ông như tự nhắc mình rằng nhà ta vẫn ở làng Chợ Dầu và lòng ta vẫn theo kháng chiến, theo cụ Hồ. Tình yêu làng sâu nặng, tấm lòng son sắt với cách mạng và nỗi đau âm thầm của ông lão đều được Kim Lân diễn tả qua những câu hỏi đáp mộc mạc như lời ru. Đoạn văn ấy cho thấy ngòi bút nhân hậu của nhà văn và khiến người đọc càng thương, càng quý ông Hai.
Mẫu 12 – đề đoạn tin làng được cải chính
Phần cuối truyện ngắn Làng mang đến cho người đọc một niềm vui trọn vẹn. Tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, ông Hai như trút được gánh nặng, rạng rỡ mua quà cho con, rồi đi khắp nơi kể rằng Tây đã đốt sạch nhà mình. Mất nhà mà vẫn vui, bởi với ông, danh dự của làng và niềm tin vào kháng chiến quý hơn mọi tài sản. Chi tiết tưởng như ngược đời ấy là một sáng tạo đặc sắc của Kim Lân, khép lại câu chuyện bằng vẻ đẹp tinh thần đáng trân trọng của người nông dân.
Kết bài Làng nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – khép lại bằng suy ngẫm về cội nguồn lòng yêu nước
Văn học thời kháng chiến có nhiều nhân vật anh hùng cầm súng, nhưng ông Hai trong truyện ngắn Làng lại là một người rất bình thường: một ông lão tản cư, nghèo, nói nhiều, đôi khi đáng cười. Chính vì bình thường nên sự lựa chọn của ông càng có sức nặng. Kim Lân không để nhân vật hô khẩu hiệu mà để ông đau đớn, tủi nhục, giằng xé, rồi tự tìm ra câu trả lời trong lòng mình. Tình yêu nước vì thế không hiện ra như một bài học khô khan mà như một điều tất yếu nảy sinh từ tình yêu làng. Đó là lí do sau bao nhiêu năm, truyện ngắn Làng vẫn chạm đến trái tim người đọc và vẫn là bài học sâu sắc về nơi tình yêu đất nước bắt rễ.
Nên chọn mẫu kết bài Làng nào?
Mỗi mẫu kết bài Làng trên đây đều khép lại bằng một đánh giá về nhân vật ông Hai và tình yêu làng gắn với lòng yêu nước trong truyện ngắn của Kim Lân, nhưng chọn một góc nhìn riêng. Đề phân tích cả truyện hợp với mẫu tổng kết hoặc mẫu nâng cao; đề về nhân vật hay một đoạn truyện thì dùng mẫu theo dạng đề, thêm một câu nhìn lại toàn tác phẩm. Nhớ diễn đạt bằng giọng văn của mình để phần kết ăn khớp với mở bài và thân bài.
Xem thêm:
- Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân)
- Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng
- Soạn bài Làng (Kim Lân) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Làng (Kim Lân): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tóm tắt Làng (Kim Lân) ngắn gọn, đầy đủ
- Tác giả Kim Lân: cuộc đời và sự nghiệp
- Mở bài Làng (Kim Lân) hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao