Mở bài Làng là phần mở đầu bài văn phân tích, cảm nhận truyện ngắn Kim Lân viết năm 1948, văn bản đọc ở Bài 4 sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập 1). Mở bài tốt cần giới thiệu được nhà văn của làng quê Bắc Bộ, nhân vật ông Hai và vấn đề trung tâm: tình yêu làng hòa vào lòng yêu nước. Bài viết tổng hợp 13 mẫu mở bài đã viết hoàn chỉnh, gồm trực tiếp, gián tiếp, nâng cao và riêng cho các đề thường gặp.

Cách viết mở bài Làng
- Nêu tên Kim Lân, truyện ngắn Làng và thời điểm ra đời: năm 1948, những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
- Giới thiệu nhân vật ông Hai cùng tình huống thử thách: tin làng Chợ Dầu theo giặc.
- Câu cuối nêu đúng vấn đề đề bài hỏi: cả truyện, nhân vật ông Hai, đoạn nghe tin dữ hay đoạn tin được cải chính.
- Phần dẫn của mở bài gián tiếp chỉ nên một hai câu, tránh bàn lan man về lòng yêu nước chung chung.
Mở bài trực tiếp Làng
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Kim Lân là cây bút chuyên viết về làng quê và những người làm ruộng ở Bắc Bộ, còn Làng là truyện ngắn tiêu biểu nhất của ông, ra đời năm 1948. Qua nhân vật ông Hai, một lão nông phải rời làng Chợ Dầu đi tản cư, tác phẩm cho thấy ở người dân quê, yêu làng không tách rời yêu Tổ quốc và ý chí kháng chiến.
Mẫu 2 – trực tiếp, đầy đủ tác giả – tác phẩm – vấn đề
Kim Lân, tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở Từ Sơn, Bắc Ninh, là nhà văn hầu như chỉ viết về làng quê và những con người làng quê mà ông hiểu đến tường tận. Truyện ngắn Làng được ông viết khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa bùng nổ và in trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Câu chuyện xoay quanh ông Hai, người nông dân mê làng đến mức đi đâu cũng khoe, rồi bỗng rơi vào nỗi nhục nhã khi hay tin làng mình bị đồn đi theo Tây. Từ những biến động trong lòng nhân vật giữa tình huống trớ trêu ấy, Kim Lân đã khắc họa thật cảm động một nét mới ở người dân quê thời kháng chiến: tình yêu làng hòa nhập với tình yêu đất nước.
Mẫu 3 – trực tiếp, giới thiệu nhân vật ông Hai
Nhắc đến Kim Lân, người đọc nhớ ngay tới ông Hai, lão nông mà nhà văn dựng nên trong truyện ngắn Làng bằng tất cả sự hiểu biết và lòng thương mến dành cho người làm ruộng. Ông Hai nghèo, chất phác, nói nhiều và hay khoe, nhưng sâu thẳm trong con người ấy là một tình cảm lớn: yêu cái làng Chợ Dầu như yêu chính máu thịt mình. Khi làng bị đồn là theo Tây, tình cảm ấy bị đặt vào thử thách gay gắt nhất. Tìm hiểu nhân vật ông Hai là con đường ngắn nhất để hiểu những người dân quê buổi đầu chống Pháp đã sống và yêu thương ra sao.
Mở bài gián tiếp Làng
Mẫu 4 – từ đề tài người nông dân trong văn học
Trước năm 1945, người nông dân bước vào trang văn thường mang dáng vẻ khốn khổ: chị Dậu tất tả chạy tiền sưu, lão Hạc lặng lẽ chọn cái chết để giữ mảnh vườn cho con. Sau Cách mạng, văn học bắt đầu nói đến họ như những con người đã đổi đời và đứng về phía cách mạng. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những tác phẩm sớm nhất ghi lại sự thay đổi ấy, bằng hình ảnh ông Hai, người mang trong lòng tình yêu làng thiết tha, nay đã hòa làm một với tình yêu đất nước và niềm tin vào cuộc kháng chiến.
Mẫu 5 – từ câu nói nổi tiếng của Ê-ren-bua
Nhà văn Nga I-li-a Ê-ren-bua có một câu nói được nhiều thế hệ học trò thuộc lòng: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Tình yêu đất nước, hóa ra, không bắt đầu từ những điều to tát mà từ chính góc sân, con đường, mái đình quen thuộc. Ở nông thôn Việt Nam, sợi dây ấy càng hiện rõ, bởi cái làng là cả thế giới của họ. Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã soi chiếu điều này qua ông Hai, người đi tản cư vẫn đau đáu nhớ làng Chợ Dầu, để rồi trong giây phút thử thách, ông chọn đặt tình yêu nước lên trên tình yêu làng.
Mẫu 6 – từ ý nghĩa của cái làng với người nông dân
Với người nông dân xưa, làng không chỉ là nơi có mảnh ruộng, cái ao, ngôi nhà. Làng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi giữ mồ mả tổ tiên, nơi danh dự mỗi người gắn với danh dự của cả cộng đồng. Bởi thế, được người ngoài khen làng là niềm hãnh diện, còn bị chê làng là nỗi nhục khó rửa. Kim Lân hiểu sâu sắc tâm lí ấy khi viết truyện ngắn Làng. Ông để ông Hai rơi vào cảnh nghe tin làng mình làm Việt gian, từ đó làm nổi bật một tình yêu làng đã được nâng lên thành tình yêu Tổ quốc.
Mẫu 7 – từ phong cách Kim Lân
Có những nhà văn đi khắp nơi để tìm đề tài, còn Kim Lân thì gần như suốt đời chỉ viết về một vùng đất: làng quê Bắc Bộ với những người nông dân, những thú chơi dân dã và những phong tục ông đã sống cùng từ nhỏ. Vốn sống ấy giúp ông kể chuyện tự nhiên như người trong cuộc, để nhân vật nói đúng giọng nông thôn, nghĩ đúng cách nghĩ của người làm ruộng. Truyện ngắn Làng là kết tinh rõ nhất của phong cách đó. Qua những trang miêu tả tâm lí ông Hai tinh tế đến từng cử chỉ, Kim Lân cho thấy những người làm ruộng gắn bó với làng, với nước theo cách vừa mộc mạc vừa sâu sắc.
Mẫu 8 – so sánh với Vợ nhặt
Nếu Vợ nhặt đưa người đọc về nạn đói khủng khiếp năm 1945 để nhận ra khát vọng sống và tình người của dân nghèo, thì Làng lại đưa ta tới những ngày đầu kháng chiến, khi người nông dân phải rời quê đi tản cư. Hai truyện ngắn khác nhau về bối cảnh nhưng cùng một tấm lòng của Kim Lân: luôn tìm thấy vẻ đẹp tiềm tàng ở những con người tưởng như nhỏ bé nhất. Ở Làng, vẻ đẹp ấy hiện ra qua ông Hai, người yêu làng Chợ Dầu tha thiết nhưng sẵn sàng thù cái làng ấy khi nghe tin nó theo giặc, bởi với ông, kháng chiến và cụ Hồ còn thiêng liêng hơn tất cả.
Mở bài Làng theo đề thường gặp
Mẫu 9 – đề phân tích nhân vật ông Hai
Văn học kháng chiến chống Pháp để lại nhiều gương mặt người nông dân đáng nhớ, nhưng hiếm ai sống động và gần gũi như ông Hai, nhân vật trung tâm mà Kim Lân xây dựng trong truyện ngắn Làng. Đó là một lão nông nghèo phải tản cư, có tật khoe làng không biết chán, thích nghe tin chiến thắng ở phòng thông tin. Khi tin dữ về làng Chợ Dầu ập tới, con người hồn hậu ấy phải trải qua những ngày đau đớn, tủi nhục và giằng xé. Phân tích nhân vật ông Hai, ta sẽ thấy rõ một tình yêu làng sâu nặng đã hòa vào tình yêu nước và lòng thủy chung với kháng chiến.
Mẫu 10 – đề diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Thành công lớn nhất của Kim Lân trong truyện ngắn Làng là nghệ thuật miêu tả tâm lí, và đoạn ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc là nơi tài năng ấy bộc lộ rõ nhất. Chỉ một lời kể vô tình của người đàn bà mới tản cư lên đã khiến ông lão đang hớn hở bỗng sững sờ: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân.” Từ phút ấy, nỗi xấu hổ, uất ức và sợ hãi theo ông về tận nhà, vào cả giấc ngủ. Phân tích diễn biến tâm trạng ông Hai trong đoạn truyện này, ta hiểu ông lão gắn bó với làng và với kháng chiến sâu nặng đến nhường nào.
Mẫu 11 – đề phân tích đoạn tin làng được cải chính
Truyện ngắn Làng của Kim Lân không khép lại trong nỗi buồn. Khi ông chủ tịch làng lên cải chính rằng tin làng Chợ Dầu theo giặc là sai, ông Hai như được sống lại: mặt mày rạng rỡ, mua quà cho con, đi khắp nơi khoe rằng Tây đã đốt nhẵn nhà mình. Chi tiết người nông dân vui sướng loan tin nhà mình bị đốt nghe tưởng nghịch lí nhưng lại chứa đựng một sự thật cảm động. Đoạn cuối truyện vì thế là minh chứng rõ nhất cho niềm tin và tình cảm gắn bó của ông Hai với làng, với cuộc kháng chiến của cả dân tộc.
Mở bài Làng nâng cao
Mẫu 12 – từ quy luật sáng tạo: viết từ vốn sống
Người ta thường nói nhà văn chỉ thực sự viết hay khi viết về điều mình hiểu thấu bằng cả đời sống. Kim Lân là minh chứng tiêu biểu cho quan niệm ấy. Là người con của vùng quê Kinh Bắc, từng tham gia kháng chiến và gần gũi với những người dân quê, ông thấy được những biến động tinh tế trong tâm hồn họ mà người ngoài khó nhận ra. Truyện ngắn Làng ra đời từ chính vốn sống ấy. Qua nhân vật ông Hai, tác phẩm không chỉ ghi lại một tình yêu làng rất riêng mà còn phát hiện bước chuyển lớn trong ý thức người nông dân: từ yêu làng đến yêu nước, từ con người của lũy tre đến công dân của cuộc kháng chiến.
Mẫu 13 – học sinh giỏi, giàu chất nghị luận
Có những tình cảm tự nhiên đến mức người ta ít khi nghĩ đến, cho đến khi nó bị thử thách. Tình yêu làng của người nông dân là một tình cảm như thế: gắn với tiếng gà gáy, mùi rơm rạ, giọng nói của người quen. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi chính cái làng mình yêu bị coi là kẻ phản bội? Câu hỏi ấy được Kim Lân đặt ra trong truyện ngắn Làng và trả lời qua những ngày dằn vặt của ông Hai. Ông có thể đau đến nghẹn lời, tủi nhục đến không dám ra đường, nhưng không bao giờ chịu phản bội cụ Hồ và kháng chiến. Chính lựa chọn đau đớn mà sáng suốt ấy làm nên tầm vóc của nhân vật và giá trị lâu bền của tác phẩm.
Nên chọn mẫu mở bài Làng nào?
Mười ba mẫu mở bài Làng ở trên đều giới thiệu Kim Lân, truyện ngắn ra đời năm 1948 và nhân vật ông Hai, nhưng dẫn vào vấn đề theo những con đường khác nhau. Đề phân tích cả truyện hợp với mẫu trực tiếp đầy đủ hoặc mẫu gián tiếp từ đề tài; đề về nhân vật hay một đoạn truyện thì dùng mẫu theo đề rồi chỉnh câu nêu vấn đề cho khớp. Khi làm bài thi, hãy viết lại bằng giọng văn của mình và giữ mở bài trong khoảng năm, bảy câu.
Xem thêm:
- Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân)
- Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng
- Soạn bài Làng (Kim Lân) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Làng (Kim Lân): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tóm tắt Làng (Kim Lân) ngắn gọn, đầy đủ
- Tác giả Kim Lân: cuộc đời và sự nghiệp
- Kết bài Làng (Kim Lân) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề