Đây là lần ôn tập cuối cùng của chương trình Ngữ văn phổ thông, và sách giáo khoa không giấu điều đó: ngoài bốn bài học của tập hai, đề còn yêu cầu vẽ lại cả sơ đồ văn học Việt Nam, từ thần thoại đến những tác phẩm đầu thế kỉ XXI. Ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Kết nối tri thức trải từ trang 127 đến trang 131 sách tập hai: 7 câu hệ thống hoá kiến thức, 7 câu đọc hiểu văn bản Lửa bên trong của Đinh Gia Trinh, 4 đề viết và 3 nội dung nói và nghe. Bài soạn dưới đây đi lần lượt từng yêu cầu ấy, kèm một đề kiểm tra tham khảo có ngữ liệu là bài nghị luận xã hội tự viết về chuyện người trẻ và thuật toán mạng xã hội, rồi mới đến bảng hệ thống văn bản và vài lưu ý cho kì thi cuối cấp. Muốn xem bài soạn từng văn bản, mở mục lục Ngữ văn 12 Kết nối tri thức.

Soạn bài Ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (trang 127–131)
Ba yêu cầu cần đạt được sách nêu: hệ thống hoá kiến thức đã hình thành trong học kì II; củng cố kĩ năng đọc, viết, nói và nghe bằng cách nhìn lại các hoạt động đã làm; vận dụng vào bài tập tổng hợp. Điểm khác so với các lần ôn tập trước là câu 5, câu duy nhất buộc học sinh nhìn lại kiến thức của cả bảy năm học văn.
I. Hệ thống hoá kiến thức đã học (trang 127–128)
Câu 1 (trang 127): Chia nhóm văn bản đọc theo loại, thể loại; thể loại chưa học trước đó
Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc có trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai theo loại văn bản và thể loại văn học. Nêu tên những văn bản thuộc một thể loại văn học chưa được học trước đó (nếu có).
Trả lời:
- Văn bản văn học: thơ (Mộ, Nguyên tiêu – thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, cùng Cảnh khuya, Vọng nguyệt ở mục thực hành; Vội vàng – Xuân Diệu); truyện (Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu – truyện ngắn châm biếm của Nguyễn Ái Quốc; Trở về – trích tiểu thuyết Ông già và biển cả); kịch (Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ); kí (Nghệ thuật băm thịt gà – phóng sự, trích Việc làng; Bước vào đời – hồi kí, trích Nhớ nghĩ chiều hôm; thực hành đọc Vĩ tuyến 17 – hồi kí); thực hành đọc Khúc đồng quê (Đặng Thị Hạnh).
- Văn bản nghị luận: Tuyên ngôn Độc lập (chính luận).
- Văn bản thông tin: Tác gia Hồ Chí Minh; Pa-ra-na (Lê-vi-Xtơ-rốt); Đồ dùng mây tre đan (Phan Cẩm Thượng); Đời muối (Cơ-len-xki); thực hành đọc Sách thay đổi lịch sử loài người (Vũ Đức Liêm).
Thể loại lần đầu được học như một nội dung riêng: phóng sự (Nghệ thuật băm thịt gà) và hồi kí với yêu cầu đọc sâu về tính phi hư cấu, giá trị tư liệu (Bước vào đời, Vĩ tuyến 17). Ở lớp 11, phần kí mới dừng ở tuỳ bút, tản văn, truyện kí; phóng sự và hồi kí đến lớp 12 mới có bài học riêng.
Câu 2 (trang 127): Quan hệ giữa Yêu cầu cần đạt và Tri thức ngữ văn; tác dụng của khái niệm then chốt
Phân tích mối quan hệ mật thiết giữa Yêu cầu cần đạt và phần Tri thức ngữ văn ở mỗi bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai. Nêu tác dụng thiết thực của việc nắm bắt các khái niệm then chốt được giới thuyết ở phần Tri thức ngữ văn đối với việc đọc hiểu các văn bản có trong từng bài học.
Trả lời:
Yêu cầu cần đạt là cái đích; Tri thức ngữ văn là dụng cụ để tới đích. Mỗi yêu cầu về đọc đều có khái niệm tương ứng được giới thuyết trước:
| Bài | Yêu cầu cần đạt (phần đọc) | Khái niệm trong Tri thức ngữ văn | Dùng vào văn bản |
|---|---|---|---|
| 6 | Dùng hiểu biết về tác gia để đọc tác phẩm; đặt tác phẩm vào tiến trình văn học; phân tích cách tăng tính khẳng định, phủ định | Quan điểm sáng tác; đánh giá một tác giả, tác phẩm; tính khẳng định, phủ định trong nghị luận | Hiểu vì sao Tuyên ngôn Độc lập chọn lời lẽ dứt khoát; thấy quan niệm văn chương phục vụ cách mạng vẫn dung hợp với vẻ ung dung trong thơ chữ Hán. |
| 7 | Nhận biết tính phi hư cấu, thủ pháp nghệ thuật của phóng sự, hồi kí | Phóng sự; hồi kí; ngôn ngữ trang trọng và thân mật | Tách phần sự thật được ghi chép với phần kể, tả cho hấp dẫn; thấy cái nhìn của người trong cuộc ở hồi kí Đào Duy Anh. |
| 8 | Đánh giá dữ liệu: sơ cấp hay thứ cấp, độ mới, độ tin cậy | Vai trò của dữ liệu; dữ liệu sơ cấp, thứ cấp; thư từ; quyền sở hữu trí tuệ | Pa-ra-na dựa vào quan sát trực tiếp, Đời muối tổng hợp tư liệu lịch sử. |
| 9 | Phân tích chủ đề, tư tưởng, cảm hứng; đánh giá giá trị tác phẩm | Giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, văn hoá; chủ đề, tư tưởng, cảm hứng; giữ gìn tiếng Việt | Có ngôn ngữ để nói về giá trị của Vội vàng, Hồn Trương Ba, da hàng thịt. |
Tác dụng thiết thực: khái niệm then chốt cho người đọc câu hỏi để đặt ra với văn bản. Chưa biết thế nào là dữ liệu thứ cấp thì khó nhận ra một con số được lấy lại từ nguồn khác; chưa phân biệt cảm hứng với nội dung thì bài phân tích dễ nói chung chung.
Câu 3 (trang 127): Loại, thể loại của văn bản Bài 6 và lí do đa dạng
Các văn bản đọc ở Bài 6 (Hồ Chí Minh – “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”) thuộc những loại văn bản và thể loại văn học nào? Nêu lí do dẫn đến sự đa dạng về loại, thể loại của các văn bản được chọn học ở đây, xét từ góc độ người sáng tác và từ đặc trưng của bài học về tác gia.
Trả lời:
- Tác gia Hồ Chí Minh: văn bản thông tin về tác gia.
- Tuyên ngôn Độc lập: văn bản nghị luận, thể tuyên ngôn (văn chính luận).
- Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng): văn bản văn học, thơ chữ Hán, thể tứ tuyệt; hai bài thơ thực hành là Cảnh khuya (tiếng Việt) và Vọng nguyệt (chữ Hán).
- Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu: văn bản văn học, truyện ngắn châm biếm, viết bằng tiếng Pháp.
Xét từ người sáng tác: Hồ Chí Minh cầm bút trước hết vì mục đích cách mạng, nên chọn thể loại theo việc cần làm và người cần nói tới: tuyên bố với quốc dân và thế giới thì dùng chính luận; vạch mặt kẻ thù trước công chúng Pháp thì viết truyện châm biếm bằng tiếng Pháp; ghi lại cảm xúc riêng thì làm thơ chữ Hán theo lối cổ điển. Viết bằng ba thứ chữ, cho nhiều kiểu người đọc, tất yếu phải dùng nhiều thể loại.
Xét từ đặc trưng loại bài này: học một tác gia là học toàn cảnh một sự nghiệp và nhận ra phong cách nhất quán qua những giọng rất khác nhau (đanh thép, châm biếm, hàm súc). Chỉ một thể loại thì không thấy được tầm vóc ấy.
Câu 4 (trang 127): Các nội dung thực hành tiếng Việt và ý nghĩa
Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai đã hướng dẫn thực hành tiếng Việt theo những nội dung gì? Nêu ý nghĩa của việc thực hành những nội dung đó đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ của các văn bản đọc.
Trả lời:
- Một số biện pháp làm tăng tính khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận (Bài 6). Thấy sức nặng của từ ngữ dứt khoát, của việc dẫn chính tuyên ngôn nước Pháp để buộc đối phương trong Tuyên ngôn Độc lập.
- Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật (Bài 7). Nhan đề của Ngô Tất Tố gọi việc băm thịt gà là “nghệ thuật”: lời trang trọng đặt vào chuyện nhỏ nhặt thành giọng mỉa mai.
- Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Bài 8). Đọc văn bản thông tin với câu hỏi: dữ liệu này của ai, trích dẫn ra sao; viết thì nhớ ghi nguồn.
- Giữ gìn và phát triển tiếng Việt (Bài 9). Trân trọng sáng tạo ngôn từ táo bạo của Xuân Diệu, phân biệt với lối dùng tiếng Việt cẩu thả, lai căng.
Câu 5 (trang 128): Vẽ lại và hoàn thiện sơ đồ văn học Việt Nam
Xem kĩ sơ đồ dưới đây và thực hiện các yêu cầu kèm theo (ở quy mô nhóm học tập): a. Vẽ lại sơ đồ trên giấy khổ lớn (có thể theo một hình thức khác, nhưng vẫn đảm bảo được các thông tin chính). b. Ghi tên một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam tiêu biểu (đã học theo sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 10) vào các ô phù hợp trong sơ đồ. c. Ghi tên một số tác phẩm văn học viết Việt Nam tiêu biểu (đã học theo sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô phù hợp trong sơ đồ. Lưu ý: Ghi kèm tên tác giả, thể loại; đối với văn học trung đại Việt Nam, cần để rõ tác phẩm thuộc loại hình sáng tác chữ Hán hay chữ Nôm. d. Nêu nhận xét khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam dựa trên những thông tin đã được điền bổ sung trong sơ đồ vẽ lại.
Trả lời:
a. Có thể đổi hình cây thành trục thời gian nằm ngang: dải văn học dân gian chạy suốt bên dưới, văn học viết chia sáu chặng phía trên, mũi tên hai chiều nối hai bộ phận; chữ Hán, chữ Nôm đánh dấu bằng hai màu. Tác phẩm dưới đây lấy từ chương trình hiện hành; nhóm có thể thay bằng tác phẩm đã học ở bộ sách của mình.
b. Văn học dân gian (mỗi ô một, hai ví dụ): thần thoại Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới; sử thi Đăm Săn của người Ê-đê; truyền thuyết Thánh Gióng; cổ tích Thạch Sanh; truyện cười Lợn cưới, áo mới; ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng; truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái; những bài ca dao về tình cảm gia đình, quê hương; tục ngữ đúc kết kinh nghiệm thời tiết, sản xuất.
c. Văn học viết:
| Giai đoạn | Tác giả: tác phẩm (thể loại, văn tự) |
|---|---|
| Thế kỉ X – XIV | Khuyết danh: Nam quốc sơn hà (thơ, Hán) · Trần Quốc Tuấn: Hịch tướng sĩ (hịch, Hán) · Trương Hán Siêu: Phú sông Bạch Đằng (phú, Hán) |
| Thế kỉ XV – XVII | Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo (cáo, Hán), Bảo kính cảnh giới (thơ, Nôm) · Nguyễn Dữ: Chuyện người con gái Nam Xương (truyền kì, Hán) · Nguyễn Bỉnh Khiêm: Nhàn (thơ, Nôm) |
| Thế kỉ XVIII – XIX | Nguyễn Du: Truyện Kiều (Nôm, lục bát), Độc Tiểu Thanh kí (Hán, Đường luật) · Nguyễn Đình Chiểu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nôm, văn tế) · Nguyễn Khuyến: Câu cá mùa thu (Nôm, Đường luật) |
| Đầu thế kỉ XX – 1945 | Nam Cao: Chí Phèo (truyện ngắn) · Vũ Trọng Phụng: Số đỏ (tiểu thuyết) · Xuân Diệu: Vội vàng (Thơ mới) · Ngô Tất Tố: Việc làng (phóng sự) |
| 1945 – 1975 | Hồ Chí Minh: Tuyên ngôn Độc lập (chính luận) · Quang Dũng: Tây Tiến (thơ) · Kim Lân: Vợ nhặt (truyện ngắn) |
| 1975 – đầu thế kỉ XXI | Lưu Quang Vũ: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (kịch) · Nguyễn Minh Châu: Chiếc thuyền ngoài xa (truyện ngắn) · Ma Văn Kháng: Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết) |
d. Nhận xét khái quát: hai bộ phận dân gian và viết song hành, nuôi dưỡng nhau (lục bát, chất liệu ca dao, truyện cổ đi vào văn học viết). Văn học trung đại chuyển dần từ chỗ chữ Hán chiếm ưu thế sang chỗ chữ Nôm khẳng định vị trí, đạt đỉnh ở thế kỉ XVIII – XIX; hai cảm hứng lớn là yêu nước và nhân đạo. Từ đầu thế kỉ XX, văn học dùng chữ quốc ngữ, hiện đại hoá nhanh về thể loại; giai đoạn 1945 – 1975 gắn với hai cuộc kháng chiến; sau 1975, nhất là từ thời kì Đổi mới, văn học trở về với số phận cá nhân và đời thường, đa dạng hơn về bút pháp.
Câu 6 (trang 128): Các kiểu bài viết của học kì II và kiểu bài ứng dụng cao nhất
Liệt kê những kiểu bài viết đã được luyện tập trong học kì II. Theo bạn, kiểu bài viết nào trong số đó có khả năng ứng dụng cao hơn cả? Vì sao?
Trả lời: Bốn kiểu bài: báo cáo kết quả của bài tập dự án (Bài 6); bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ – cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội (Bài 7); thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm (Bài 8); bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội (Bài 9).
Em chọn thư trao đổi về công việc là kiểu bài dùng được nhiều nhất ngoài nhà trường: xin học bổng, hỏi thông tin tuyển sinh, gửi hồ sơ, làm việc với đồng nghiệp đều cần một bức thư rõ mục đích, đúng mực, ngắn gọn. Viết thư còn rèn cùng lúc việc xác định người nhận, chọn sắc thái trang trọng hay thân mật và sắp ý theo thứ tự quan trọng. Chọn báo cáo dự án cũng hợp lí nếu lập luận rằng học đại học và đi làm đều theo dự án.
Câu 7 (trang 128): Sự phong phú của nói và nghe và đòi hỏi cao hơn ở lớp cuối cấp
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai, sự phong phú của hoạt động nói và nghe đã được thể hiện như thế nào? Phân tích một ví dụ cho thấy hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp có những đòi hỏi cao hơn về kiến thức và kĩ năng so với hoạt động đó ở các lớp dưới.
Trả lời: Bốn nội dung, bốn dạng: trình bày kết quả bài tập dự án (Bài 6), trình bày quan điểm về một vấn đề của tuổi trẻ (Bài 7), tranh biện (Bài 8), thuyết trình về cơ hội và thách thức của đất nước (Bài 9); vừa có nói độc thoại vừa có đối đáp theo luật, vừa cá nhân vừa nhóm.
Ví dụ: tranh biện. Lớp 11 đã có tranh biện về một vấn đề đời sống gần gũi. Lên lớp 12, đòi hỏi cao hơn ở kiến thức (đề tài rộng hơn, cần dữ liệu kiểm chứng được; Bài 8 lại là bài về dữ liệu nên người nói phải chỉ ra chỗ yếu trong nguồn dữ liệu của đội bạn), ở kĩ năng (phản bác ngay trong thời gian giới hạn, vừa nghe vừa ghi vừa sắp lại lập luận) và ở thái độ (cầu thị, chấp nhận khi lập luận của mình bị bác bỏ).
II. Luyện tập và vận dụng (trang 129–131)
1. Đọc. Văn bản Lửa bên trong của Đinh Gia Trinh (1915–1974), đăng lần đầu trên tạp chí Thanh Nghị số 40 năm 1943. Bài viết như một lời kêu gọi thanh niên giữ ngọn lửa nhiệt thành trong tâm hồn.
Câu 1 (trang 130): Ý nghĩa ẩn dụ của “lửa bên trong” và vấn đề chính
Xác định ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh “lửa bên trong” và vấn đề chính được tác giả đề cập trong văn bản.
Trả lời: “Lửa bên trong” là ẩn dụ cho nhiệt huyết, niềm say mê, khát vọng và lí tưởng sống, thứ năng lượng tinh thần khiến con người không chịu sống lặng lẽ, tầm thường. Lửa vừa sáng (soi đường), vừa nóng (thôi thúc), vừa có thể tắt nếu không được giữ. Vấn đề chính: thanh niên phải giữ gìn ngọn lửa ấy, hướng nó vào những mục đích cao đẹp, vì cộng đồng, không để hoàn cảnh và toan tính vật chất dập tắt.
Câu 2 (trang 130): Đối tượng độc giả hướng tới và căn cứ
Khi viết bài Lửa bên trong, tác giả hướng tới đối tượng độc giả nào trước hết? Căn cứ cho phép khẳng định điều đó là gì?
Trả lời: Trước hết là thanh niên, nhất là thanh niên trí thức. Căn cứ: lời gọi trực tiếp “hỡi thanh niên”; các câu mở đầu bằng “Là thanh niên, ta phải…”, “Ta chớ nên bao giờ coi tuổi thanh niên…”; câu nhấn mạnh tuổi tác “dù hai mươi tuổi, người đã già rồi”; những ví dụ về nhà bác học, nghệ sĩ, người hoạt động và nỗi lo trí thức truỵ lạc. Thêm vào đó, Thanh Nghị là tờ tạp chí của nhóm trí thức trẻ những năm 1940, người đọc chủ yếu là học sinh, sinh viên, trí thức.
Câu 3 (trang 130): Tóm tắt luận điểm; mối liên hệ của khái niệm “cuộc đời lớn”
Tóm tắt những luận điểm chính của văn bản. Khái niệm “cuộc đời lớn” có mối liên quan như thế nào tới cảm hứng viết và lập luận của tác giả?
Trả lời:
- Ai cũng có ngọn lửa trong tâm; nó là nguồn gốc của mọi sự nghiệp lớn (nhà bác học, nghệ sĩ, người nhạc sĩ Đức khổ luyện).
- Đáng sợ nhất là lòng nguội lạnh; lửa chân chính hướng về đời sống tinh thần và người khác, không phải danh lợi.
- Không coi tuổi trẻ là chặng tạm để leo tới địa vị rồi sống nhỏ nhen.
- Thanh niên phải giữ lửa cháy mãi: động lòng trước nỗi khổ, phẫn uất trước bất công, rung động trước cái đẹp.
“Cuộc đời lớn” là cuộc đời vượt khỏi mực sống lặng yên, vô vị, sống có lí tưởng và cống hiến. Đây là đích đến mà ngọn lửa hướng tới, nên nó tạo ra cảm hứng say sưa, hào hứng cho bài viết (giọng văn nhiều câu cảm, câu cầu khiến). Về lập luận, nó là một cực của phép đối lập chạy suốt văn bản: cuộc đời lớn đối với cuộc đời vô vị, eo hẹp; người trẻ mãi đối với người già khi mới hai mươi; lửa thiêng liêng đối với ham muốn hạ tiện.
Câu 4 (trang 130): Ý nghĩa của “lửa bên trong” với đời sống mỗi người
Theo tác giả, đối với đời sống của mỗi con người, “lửa bên trong” có ý nghĩa gì?
Trả lời: Ngọn lửa ấy (1) là động lực để theo đuổi việc mình làm, chịu gian khổ mà không thấy khổ, như người nhạc sĩ tập đàn trong buồng tối; (2) quyết định tuổi trẻ của tâm hồn, bởi “Còn nó người còn trẻ”; (3) nâng con người lên đời sống tinh thần và lòng vị tha; (4) làm nên giá trị mỗi người, dù chỉ dồn sức cho một điều đẹp nhỏ bé; (5) giữ cho con người không thờ ơ trước nỗi khổ và bất công.
Câu 5 (trang 130): Bảng từ ngữ ứng với có và không có “lửa bên trong”
Tìm trong văn bản những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí, hoạt động của con người ứng với hai tình trạng: có “lửa bên trong” và không có “lửa bên trong” (lập bảng liệt kê và đối sánh).
Trả lời:
| Có “lửa bên trong” | Không có “lửa bên trong” |
|---|---|
| bồng bột, say mê, ham muốn, bồn chồn, ngang tàng, tôn thờ | bình thản, lặng yên, vô vị |
| cặm cụi, theo đuổi, chống với thất bại, khổ hạnh để tập đàn | uể oải, tầm thường |
| tha thiết, say sưa, muốn đạt ngay tới một cái gì oanh liệt | nguội lạnh; già dù mới hai mươi tuổi |
| dồn nghị lực tâm hồn, hướng về hoạt động tinh thần và duy tha | sống eo hẹp, chật chội, nghèo nàn; gò ép trí não vào tính toán ti tiện |
| động tâm, phẫn uất, tức khí | trái tim truỵ lạc, không động tâm trước nỗi khổ của đồng loại |
| rung động trước tác phẩm đẹp, mê đắm khi sáng tác, hướng dẫn, truyền bá | để dục vọng của cơ thể chi phối trí tuệ; sống không tư cách |
Đối sánh: cột trái toàn từ ngữ chỉ chuyển động, nhiệt độ cao, cường độ mạnh; cột phải nghiêng về sự đứng yên, thu hẹp, lạnh lẽo. Chính hệ thống từ ngữ đối lập ấy làm hình ảnh ngọn lửa trở nên cụ thể.
Câu 6 (trang 130): Biện pháp tu từ và tác dụng của một biện pháp tâm đắc
Chỉ ra một số biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong văn bản. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà bạn thấy tâm đắc.
Trả lời: Ẩn dụ (lửa, nhóm lửa thiêng liêng); liệt kê (đọc một bài văn, xem một đoạn sử…); câu hỏi tu từ (Không tha thiết thì làm nên được việc gì?); đối lập (trẻ – già, cao thượng – hạ tiện); điệp cấu trúc ở đoạn cuối.
Phân tích điệp cấu trúc ở đoạn cuối: ba vế “thấy đồng loại ta khổ, ta không động tâm, thấy sự bất bình, ta không phẫn uất, bị sỉ nhục, ta không tức khí” lặp một khuôn câu, mỗi vế tăng dần mức độ: từ nỗi khổ của người khác, đến bất công của xã hội, đến sự xúc phạm chính mình. Nhịp lặp dồn dập tạo cảm giác một lời cảnh tỉnh liên tiếp; mỗi chữ “không” như một tiếng gõ. Biện pháp này biến bài nghị luận thành lời hiệu triệu, đúng với giọng của một người trí thức nói với thanh niên năm 1943, khi đất nước sắp bước vào một bước ngoặt lớn.
Câu 7 (trang 130): Đoạn văn khoảng 600 chữ về thái độ sống tích cực hướng về cộng đồng
Văn bản ra đời năm 1943, khi Việt Nam đang chuyển mình bước vào một thời đại mới. Qua những gì được gợi ý từ văn bản, liên hệ đến cơ hội và thách thức của đất nước hiện nay, hãy viết đoạn văn (khoảng 600 chữ) bàn về việc lựa chọn thái độ sống tích cực hướng về cộng đồng của tuổi trẻ.
Trả lời (dàn ý để triển khai thành đoạn):
- Mở đoạn: năm 1943 Đinh Gia Trinh gọi thanh niên giữ ngọn lửa trong lòng trước một thời đại sắp đổi thay; người trẻ hôm nay cũng đứng trước một bước chuyển: chuyển đổi số, hội nhập, phát triển bền vững.
- Giải thích: sống tích cực hướng về cộng đồng là sống có nhiệt huyết, có trách nhiệm, đặt lợi ích riêng trong tương quan với lợi ích chung.
- Cơ hội và thách thức: công nghệ, ngoại ngữ, môi trường mở giúp người trẻ tạo giá trị nhanh hơn; nhưng biến đổi khí hậu, cạnh tranh việc làm, thông tin nhiễu loạn và cám dỗ của lối sống chỉ lo cho mình chính là thứ lòng nguội lạnh mà tác giả cảnh báo.
- Lựa chọn: học thật một nghề có ích; tham gia một hoạt động cộng đồng gần mình; không thờ ơ trước bất công. Phản đề: hướng về cộng đồng không có nghĩa xoá bỏ cá nhân; người có năng lực thật mới góp được nhiều.
- Kết đoạn: ngọn lửa không tự cháy mãi, phải được giữ bằng lựa chọn mỗi ngày; liên hệ bản thân.
Viết (trang 131): Chọn một trong bốn đề
Đề 1 yêu cầu nêu một dự án học tập em hoặc nhóm muốn làm và phác thảo kế hoạch; Đề 2 là bài nghị luận về con đường phía trước của tuổi trẻ, gợi từ các văn bản đọc của tập hai; Đề 3 là bức thư gửi người phù hợp để trao đổi suy nghĩ về việc chọn nghề; Đề 4 là bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào, hoạt động xã hội, cần xác định rõ nội dung buổi lễ.
- Đề 1: kế hoạch cho dự án Bản đồ di tích quanh trường gồm mục tiêu, câu hỏi dự án, phân công (khảo sát, phỏng vấn, chụp ảnh, dựng bản đồ số), tiến độ theo tuần, sản phẩm, tiêu chí đánh giá, phương án dự phòng.
- Đề 2: chọn vấn đề cụ thể, ví dụ dám chọn con đường của riêng mình; lấy bằng chứng từ tập hai: Trương Ba đòi được sống là mình, ông lão Xan-ti-a-gô không bỏ cuộc, khát khao sống trọn từng khoảnh khắc trong Vội vàng.
- Đề 3: chọn người nhận (cha mẹ, thầy cô, một người đang làm nghề em quan tâm); thư nêu lí do viết, suy nghĩ về nghề (sở thích, năng lực, cơ hội), điều cần người nhận tư vấn, lời cảm ơn; sắc thái ngôn ngữ hợp với người nhận.
- Đề 4: xác định rõ buổi lễ, ví dụ phong trào góp sách cho thư viện vùng cao; bài nói gồm lời chào đại biểu, lí do phát động, mục tiêu và cách tham gia, lời kêu gọi; câu ngắn, đọc trong 3–5 phút.
Nói và nghe (trang 131): Chọn một trong ba nội dung
Nhóm học tập chọn: trình bày lại kết quả bài tập dự án sau khi đã sửa theo góp ý ở Bài 6; nêu những vấn đề xã hội dễ khiến ý kiến chia hai cực, đề xuất một đề tài tranh biện và bày tỏ ý kiến riêng; thuyết trình về một khía cạnh vừa tầm của cơ hội, thách thức đối với đất nước.
- Nội dung 1: nhấn vào phần đã thay đổi so với lần trình bày đầu và lí do thay đổi; đó là chỗ thể hiện năng lực tiếp thu.
- Nội dung 2: vấn đề dễ phân cực: cấm điện thoại trong trường, thi tốt nghiệp trên máy tính, trách nhiệm làm gương của người nổi tiếng. Đề tài phải phát biểu thành một mệnh đề rõ để hai đội ủng hộ, phản đối.
- Nội dung 3: đề tài vừa tầm, ví dụ người trẻ trước làn sóng trí tuệ nhân tạo; nói theo ba ý cơ hội, thách thức, việc cần làm; số liệu ghi nguồn.
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 12 tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề làm trong 90 phút, có cấu trúc gần với đề thi tốt nghiệp. Ngữ liệu đọc hiểu là bài nghị luận xã hội do Văn VN tự viết.
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đừng để thuật toán chọn hộ mình
Mở điện thoại lúc mười giờ tối, bạn định xem một video hướng dẫn giải toán. Nửa tiếng sau, bạn đã lướt qua mười mấy đoạn phim hài, hai bài quảng cáo giày và một cuộc tranh cãi của những người bạn không hề quen. Bạn không chọn những thứ ấy. Chúng được chọn cho bạn.
Các ứng dụng mạng xã hội hoạt động nhờ thuật toán đề xuất: chúng ghi nhận bạn dừng lại ở đâu, thích gì, bỏ qua gì, rồi đưa tới thêm những thứ tương tự. Không ai phủ nhận sự tiện lợi của cơ chế ấy. Nhưng tiện lợi không đồng nghĩa với tự do. Khi mọi thứ ta xem đều được sắp sẵn theo sở thích cũ, ta dần chỉ gặp lại chính mình của hôm qua.
Tuổi trẻ là quãng đời để thử, để lạc đường, để gặp những điều trái ý. Một cuốn sách khó, một cuộc trò chuyện với người nghĩ khác, một môn học tưởng chừng chẳng liên quan đến ước mơ — chính những thứ ấy mới làm ta lớn. Thuật toán không có lỗi khi phục vụ thói quen của ta; lỗi là ở chỗ ta giao luôn cho nó quyền quyết định ta sẽ trở thành ai.
Vậy phải làm gì? Chắc chắn không phải là vứt điện thoại đi. Hãy chủ động tìm kiếm thay vì chỉ lướt. Hãy tự đặt cho mình một danh sách đọc, một giờ không màn hình, một thói quen hỏi lại: điều mình vừa xem có thật không, ai đưa nó tới mình, và vì sao? Nói vui một chút: đừng để cái máy hiểu bạn hơn chính bạn.
Thế hệ trước phải vượt qua sự thiếu thốn thông tin. Thế hệ chúng ta phải vượt qua sự thừa thãi của nó. Người trẻ nào giữ được quyền tự chọn giữa dòng thông tin ấy, người đó đang giữ cho mình một tương lai không bị viết sẵn.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Câu 2. Đoạn mở đầu dùng cách vào đề nào? Nêu hiệu quả.
Câu 3. Trong hai câu “Không ai phủ nhận sự tiện lợi của cơ chế ấy. Nhưng tiện lợi không đồng nghĩa với tự do.”, người viết dùng cách nào để tăng tính khẳng định, phủ định cho lập luận?
Câu 4. Câu “Nói vui một chút: đừng để cái máy hiểu bạn hơn chính bạn.” mang sắc thái ngôn ngữ trang trọng hay thân mật? Việc xen câu này vào bài nghị luận có tác dụng gì?
Câu 5. Theo người viết, lỗi nằm ở thuật toán hay ở người dùng? Em có đồng tình không?
Câu 6. Viết đoạn văn 5–7 câu trả lời câu hỏi: Em sẽ làm gì để giữ quyền tự chọn của mình giữa dòng thông tin?
II. Viết (6,0 điểm)
Chọn một trong hai đề: (1) Viết bài văn nghị luận bàn về ý kiến: Tuổi trẻ cần được lạc đường một vài lần. (2) Viết bài phát biểu trong lễ phát động phong trào Một giờ không màn hình mỗi tối ở trường em.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Yêu cầu cần đạt | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | Người trẻ cần chủ động lựa chọn, không để thuật toán mạng xã hội quyết định thay mình mình sẽ xem gì, nghĩ gì, trở thành ai. | 0,5 |
| 2 | Vào đề bằng tình huống đời thường, nói thẳng với người đọc; gây chú ý, tạo đồng cảm, dẫn tới câu chốt “Chúng được chọn cho bạn.” | 0,5 |
| 3 | Câu đầu dùng phủ định của phủ định (không ai phủ nhận) để khẳng định mạnh ý của phía đối lập; câu sau dùng từ nối nhưng và cấu trúc phủ định (không đồng nghĩa với) để bác bỏ. Kiểu nhượng bộ rồi phản bác này làm lập luận khách quan và chắc hơn. | 0,5 |
| 4 | Thân mật (lời nói vui, xưng hô trực tiếp). Tác dụng: làm giảm giọng răn dạy, tạo sự gần gũi với người đọc trẻ, để lại một câu dễ nhớ. | 0,5 |
| 5 | Lỗi ở người dùng khi giao luôn quyền quyết định cho thuật toán. Học sinh nêu ý kiến riêng, có lí lẽ (có thể bổ sung: nhà phát triển ứng dụng cũng có trách nhiệm minh bạch cách đề xuất). | 1,0 |
| 6 | Đúng hình thức; giải pháp cụ thể, khả thi (tắt gợi ý tự động phát, chủ động tìm kiếm, đọc sách, kiểm chứng tin); có liên hệ bản thân. | 1,0 |
| Viết | Đúng kiểu bài, bố cục (0,5). Đề 1: giải thích lạc đường là thử sai, trải nghiệm điều chưa quen; giá trị của thất bại sớm; phản biện: không phải buông thả, liều lĩnh (4,0). Đề 2: đủ các phần chào, lí do, nội dung, cách tham gia, lời kêu gọi; giọng truyền cảm, câu ngắn (4,0). Chính tả, diễn đạt (1,0); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Hệ thống văn bản đọc học kì II Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (xếp theo loại văn bản)
Bảng gom văn bản theo loại (không theo bài như mục lục sách) để ôn theo kiểu câu hỏi đọc hiểu; bấm nhan đề để mở bài soạn.
| Loại | Văn bản (Bài) | Tác giả | Nội dung chính |
|---|---|---|---|
| Văn bản văn học | Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) (Bài 6) | Hồ Chí Minh | Chiều tối trên đường bị giải đi giữa các nhà lao; đêm rằm giữa kháng chiến. Vẻ ung dung của người chiến sĩ – thi sĩ. |
| Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Bài 6) | Nguyễn Ái Quốc | Châm biếm Va-ren lố bịch, tôn vinh Phan Bội Châu cứng cỏi. | |
| Nghệ thuật băm thịt gà, Bước vào đời (Bài 7) | Ngô Tất Tố; Đào Duy Anh | Phóng sự về hủ tục chia phần ở làng quê cũ; hồi kí nhìn lại những bước đầu vào đời. | |
| Vội vàng, Trở về (Bài 9) | Xuân Diệu; Hê-minh-uê | Khát vọng sống mãnh liệt; ông lão Xan-ti-a-gô thất bại mà không gục ngã. | |
| Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Bài 9) | Lưu Quang Vũ | Bi kịch sống nhờ thân xác người khác; khát vọng được là chính mình. | |
| Văn bản nghị luận | Tuyên ngôn Độc lập (Bài 6) | Hồ Chí Minh | Khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; lập luận chặt chẽ. |
| Văn bản thông tin | Tác gia Hồ Chí Minh (Bài 6) | – | Cuộc đời, quan điểm sáng tác, sự nghiệp, phong cách. |
| Pa-ra-na, Đời muối (Bài 8) | Lê-vi-Xtơ-rốt; Cơ-len-xki | Ghi chép của nhà dân tộc học; lịch sử của muối với loài người. | |
| Đồ dùng mây tre đan (Bài 8) | Phan Cẩm Thượng | Đồ đan bằng tre, mây cùng lá cọ, lá dừa, cỏ, bẹ ngô… ở nhiều vùng; nghề đan gắn với sinh hoạt và phong tục người Việt. Ảnh hiện vật bảo tàng là dữ liệu đi kèm lời văn. |
Ở mục thực hành đọc có: Cảnh khuya, Vọng nguyệt (Bài 6); Vĩ tuyến 17 (Xuân Phượng, Bài 7); Sách thay đổi lịch sử loài người (Vũ Đức Liêm, Bài 8); Khúc đồng quê (Đặng Thị Hạnh, Bài 9).
Lưu ý ôn tập học kì II Ngữ văn 12 cho kì thi cuối cấp
- Kí là phần mới và dễ ra đề. Với đoạn trích phóng sự, hồi kí, hãy hỏi: chi tiết nào là sự thật được ghi chép, thủ pháp nào được dùng, thái độ người viết ra sao.
- Văn bản thông tin có dữ liệu: luyện phân biệt dữ liệu sơ cấp, thứ cấp và sự thật với ý kiến.
- Nghị luận xã hội về tuổi trẻ: chuẩn bị sẵn ba, bốn bằng chứng từ chính các văn bản đã học (những lựa chọn thuở vào đời của Đào Duy Anh, Trương Ba đòi được là mình, lời kêu gọi của Đinh Gia Trinh) để dùng linh hoạt.
Xem thêm: