Giấu của là đoạn trích từ phần mở màn (“cảnh vào trò”) của vở hài kịch Quẫn, tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà viết kịch Lộng Chương. Văn bản được học ở Bài 5 sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập 1. Bài viết tổng hợp nội dung đoạn trích, thông tin tác giả, hoàn cảnh ra đời, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt.

Nội dung văn bản Giấu của
Màn kịch mở ra trong bóng tối, một luồng đèn pin rọi khắp phòng khách bày đủ thứ đồ cổ kim, rồi dừng lại trên hai tấm ảnh bán thân của ông bà Đại Cát. Hai vợ chồng nắm tay nhau rón rén bước ra, kiểm tra chỗ vàng bạc đã giấu sau ảnh. Ông chồng hả hê vì mọi thứ “không suy suyển một li”, còn bà vợ run rẩy, sợ lộ.
Hai người bàn đi bàn lại các chỗ giấu khác: két sắt thì sợ con gái biết, treo ảnh vào buồng ngủ thì như tự khai, đem chôn thì sợ người làm phát hiện. Những câu nói ngập ngừng khiến họ liên tục hiểu nhầm nhau. Khi khiêng kỉ để trèo lên giấu nốt một gói nhỏ, ông Đại Cát đánh rơi đèn; trong bóng tối, hai vợ chồng va vào nhau, kêu rú lên. Bật đèn xong, họ lại cãi nhau về chuyện thời cuộc: buôn bán không còn như xưa, đợt công tư hợp doanh sắp tới. Một tiếng động trong buồng làm họ hốt hoảng, hóa ra chỉ là con chuột. Đồng hồ điểm bốn giờ sáng. Không còn chỗ giấu, ông Đại Cát quyết định nhét gói của vào sau tấm ảnh lớn của mẹ, cụ Đại Lợi, và hài lòng vì có thêm bà cụ làm “thần giữ của”. Màn hạ trên hình ảnh tấm ảnh cụ Đại Lợi trong luồng đèn. Phần câu hỏi đọc hiểu được giải trong bài Soạn bài Giấu của.
Thông tin tác giả Lộng Chương
Lộng Chương (1918 – 2003) là bút danh của Phạm Văn Hiền, người Hải Dương. Ông vừa viết kịch, viết văn, vừa làm đạo diễn, thuộc lớp nghệ sĩ lớn lên cùng cuộc kháng chiến chín năm.
Trong khoảng năm mươi năm làm nghề, ông sáng tác, chỉnh lí hàng trăm vở diễn thuộc nhiều thể loại như kịch thơ (A Nàng), chèo (Đôi ngọc lưu li), tuồng (Tình sử Loa thành). Thành công nổi bật nhất của ông là ở hài kịch với những vở như Mối lo của cụ Cửu, Hỏi vợ, Yểm bùa trừ sâu, Quẫn, Cửa mở hé. Hài kịch Lộng Chương có tiếng cười hóm hỉnh, nhẹ nhàng mà sâu sắc, bám sát những vấn đề thời sự của đời sống. Năm 2000, ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Thông tin tác phẩm Giấu của
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
Giấu của trích từ phần mở màn của Quẫn, vở hài kịch năm hồi ra đời năm 1960. Vở kịch phản ánh không khí xã hội miền Bắc những năm đầu thập niên 1960, khi Nhà nước thực hiện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh bằng hình thức công tư hợp doanh. Trước chủ trương ấy, gia đình nhà tư sản Đại Cát tìm cách tẩu tán tài sản, trong khi cô con gái Thúy Trinh và người yêu là Hùng tin vào con đường mới. Cuối vở, ông bà Đại Cát được thuyết phục, không giấu của nữa và nhận ra mình đã “quẫn”. Quẫn được diễn khoảng hai nghìn buổi trong hơn hai mươi năm và trở thành vở hài kịch kinh điển; năm 2018, đúng dịp tròn một thế kỉ ngày sinh tác giả, vở được dựng lại tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
Thể loại và nhân vật
- Thể loại: hài kịch (kịch nói).
- Nhân vật trong đoạn trích: ông Đại Cát và bà Đại Cát; ngoài ra có những nhân vật được nhắc đến như cụ Đại Lợi (mẹ ông Đại Cát), con gái Trinh, người làm U Trinh, vợ chồng Đại Hưng.
- Ngôn ngữ: lời thoại của nhân vật và lời chỉ dẫn sân khấu.
Bố cục đoạn trích Giấu của
Giấu của có mấy phần? Đoạn trích có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến khi hai vợ chồng đứng dưới hai tấm ảnh): lời chỉ dẫn mở màn, giới thiệu không gian, đồ vật và hai nhân vật.
- Phần 2 (tiếp đến lúc đồng hồ điểm bốn tiếng): vợ chồng Đại Cát bàn chỗ giấu, đánh rơi đèn, cãi nhau về thời cuộc, hoảng hốt vì tiếng động.
- Phần 3 (còn lại): quyết định giấu nốt gói của vào ảnh cụ Đại Lợi và cảnh hạ màn.
Ý nghĩa nhan đề Quẫn và đoạn trích Giấu của
“Quẫn” nghĩa là lâm vào thế bí, rối trí đến mức không còn biết xoay xở ra sao. Nhan đề vở kịch nói lên trạng thái tâm lí chủ đạo của vợ chồng Đại Cát trước thời cuộc. Nhan đề đoạn trích Giấu của nêu trực tiếp hành động trung tâm, cũng là nguồn gốc của mọi tình huống gây cười.
Giá trị nội dung
- Phê phán thói hám của, ích kỉ, thiếu trung thực của một bộ phận tư sản trước chủ trương công tư hợp doanh.
- Khắc họa trạng thái “quẫn” của những con người chạy theo đồng tiền, không chịu thích nghi với thời cuộc.
- Gửi gắm thông điệp về lối sống trung thực, biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; tiếng cười vừa phê phán vừa có phần cảm thông.
Giá trị nghệ thuật
- Tình huống hài hước: giấu của mà sợ lộ, càng giấu càng rối.
- Thủ pháp gây cười đa dạng: nói nước đôi, hiểu lầm, phóng đại, dùng thành ngữ, đối lập giữa lời nói và hành động.
- Lời chỉ dẫn sân khấu chi tiết, giàu tính tạo hình, phối hợp ánh sáng và âm thanh.
- Kết cấu đóng khung bằng hình ảnh những tấm ảnh ở đầu và cuối đoạn trích.
Sơ đồ tư duy Giấu của
Sơ đồ dưới đây hệ thống những ý chính về tác giả và đoạn trích.

Tóm tắt Giấu của
Mẫu 1 – Tóm tắt Giấu của ngắn nhất
Sợ mất tài sản khi công tư hợp doanh, vợ chồng nhà tư sản Đại Cát lén giấu vàng bạc sau những tấm ảnh trong phòng khách giữa đêm khuya. Họ run sợ, hiểu lầm nhau, đánh rơi đèn, hoảng hốt vì một con chuột, cuối cùng giấu nốt gói của vào sau ảnh bà mẹ.
Mẫu 2 – Tóm tắt Giấu của theo diễn biến
Nửa đêm, ông bà Đại Cát rón rén ra phòng khách kiểm tra chỗ của cải giấu sau hai tấm ảnh của mình. Bà vợ lo bị lộ, đề nghị đủ chỗ khác: két sắt, buồng ngủ, chôn xuống đất, nhưng ông chồng đều gạt đi vì sợ con gái, người làm và bà mẹ phát hiện. Khi hai người khiêng kỉ để giấu thêm một gói nhỏ thì đánh rơi đèn, va vào nhau trong bóng tối. Lúc đèn sáng, họ lại cãi nhau về chuyện làm ăn và thời cuộc. Một tiếng động bên trong làm họ hoảng sợ, hóa ra là con chuột. Gần sáng, không còn chỗ, ông Đại Cát nhét gói của vào sau tấm ảnh cụ Đại Lợi rồi bảo vợ tắt đèn; màn hạ trên tấm ảnh bà cụ.
Lời kết
Giấu của là đoạn hài kịch đặc sắc, cho thấy tài năng tạo tiếng cười của Lộng Chương. Khi ôn tập, em cần nắm hoàn cảnh ra đời của vở Quẫn, tình huống giấu của, các thủ pháp gây cười và ý nghĩa của chi tiết những tấm ảnh.
Xem thêm: