Mệnh đề là một thuật ngữ có ba nghĩa tùy môn học. Trong toán học lớp 10, mệnh đề là một câu khẳng định có tính đúng hoặc sai rõ ràng. Trong ngữ pháp tiếng Anh, mệnh đề (clause) là nhóm từ có chủ ngữ và động từ. Còn trong một số sách ngữ pháp tiếng Việt, “mệnh đề” là cách gọi khác của cụm chủ ngữ – vị ngữ. Đọc đề thuộc môn nào thì hiểu theo nghĩa của môn đó.
| Nghĩa trong toán học | Câu khẳng định đúng hoặc sai, không thể vừa đúng vừa sai |
| Nghĩa trong tiếng Anh | Clause: nhóm từ có chủ ngữ và động từ chia theo chủ ngữ |
| Nghĩa trong tiếng Việt | Cụm chủ – vị, làm thành câu đơn hoặc một vế của câu ghép |
| Gốc Hán Việt | mệnh (命: đặt tên, ra lệnh) + đề (題: đầu đề, vấn đề) |

Ba nghĩa của chữ mệnh đề trong sách vở
Từ điển tiếng Việt ghi chữ này theo nhiều hướng: trong logic là lời biểu thị một phán đoán; trong ngữ pháp là đơn vị cú pháp làm thành một câu đơn hoặc một thành phần của câu ghép. Học sinh phổ thông gặp nó ở ba chỗ khác nhau:
- Toán 10: chương đầu tiên của lớp 10 mở bằng bài “Mệnh đề”, trước cả tập hợp.
- Tiếng Anh: các bài ngữ pháp về câu phức, mệnh đề quan hệ, mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian, mệnh đề if trong câu điều kiện.
- Tiếng Việt: một số tài liệu ngữ pháp và sách tham khảo gọi cụm chủ – vị là mệnh đề. Sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành ít dùng chữ này, thay bằng “cụm chủ ngữ – vị ngữ” và “vế câu”.
Ba nghĩa có chung một ý lõi: mệnh đề là một khối nói trọn một điều về một đối tượng. Toán học quan tâm điều đó đúng hay sai; ngữ pháp quan tâm nó được dựng bằng chủ ngữ và vị ngữ thế nào.
Mệnh đề trong toán học: câu nào đúng hoặc sai
Sách Toán 10 định nghĩa: mệnh đề là một câu khẳng định đúng hoặc một câu khẳng định sai, và một mệnh đề không thể vừa đúng vừa sai. Thường kí hiệu mệnh đề bằng chữ in hoa P, Q, R.
- “2 là số nguyên tố chẵn duy nhất.” là mệnh đề đúng.
- “Hà Nội là thủ đô của Nhật Bản.” là mệnh đề sai. Sai vẫn là mệnh đề.
- “Hôm nay trời đẹp quá!” không phải mệnh đề: đây là câu cảm thán, mỗi người đánh giá một kiểu.
- “Bạn đã làm bài chưa?” và “Hãy đóng cửa lại.” cũng không phải: câu hỏi và câu mang tính ra lệnh, đề nghị không có chuyện đúng hay sai.
Câu “x + 1 > 3” chưa phải mệnh đề vì chưa biết x bằng bao nhiêu. Sách gọi đó là mệnh đề chứa biến: thay x = 5 thì được mệnh đề đúng, thay x = 0 thì được mệnh đề sai.
Mệnh đề phủ định. Phủ định của P kí hiệu là P̄, đọc là “không phải P”. P đúng thì P̄ sai và ngược lại. Với câu thông thường, chỉ cần thêm hoặc bỏ chữ “không” (hay “không phải”) trước vị ngữ: phủ định của “7 chia hết cho 3” là “7 không chia hết cho 3”.
Mệnh đề kéo theo. Mệnh đề “Nếu P thì Q” kí hiệu P ⇒ Q. Nó chỉ sai trong đúng một trường hợp: P đúng mà Q sai. Mọi trường hợp còn lại, kể cả khi P sai, mệnh đề kéo theo đều đúng. Đổi chỗ thành Q ⇒ P ta được mệnh đề đảo; khi cả hai chiều cùng đúng thì P và Q tương đương (P ⇔ Q).
Mệnh đề trong tiếng Anh: main clause, subordinate clause và relative clause
Trong tiếng Anh, clause là nhóm từ có chủ ngữ và một động từ được chia. Thiếu một trong hai thì chỉ là cụm từ (phrase): in the morning là phrase, she wakes up early là clause.
| Loại | Đặc điểm | Ví dụ (phần in đậm) |
|---|---|---|
| Mệnh đề chính (main / independent clause) | Đứng một mình được, tự thành câu | I stayed at home because it was raining. |
| Mệnh đề phụ (subordinate / dependent clause) | Mở đầu bằng because, when, if, although…; phải dựa vào mệnh đề chính | I stayed at home because it was raining. |
| Mệnh đề quan hệ (relative clause) | Một loại mệnh đề phụ, bổ nghĩa cho danh từ đứng trước; mở đầu bằng who, which, that, whose, whom | The girl who sits next to me comes from Hue. |
Mẹo nhớ: thử bỏ từ nối ở đầu. Còn lại một câu đủ nghĩa và đứng riêng được thì đó là mệnh đề chính; nếu bắt buộc phải có từ nối và câu khác đi kèm thì là mệnh đề phụ.
Mệnh đề trong ngữ pháp tiếng Việt: cụm chủ – vị
Khi một tài liệu tiếng Việt nói “câu này có hai mệnh đề”, ý họ là câu có hai cụm chủ – vị. Mỗi cụm có thành phần nêu đối tượng của câu đi cùng vị ngữ. Ví dụ “Mẹ nấu cơm, em quét nhà.” gồm hai cụm: mẹ / nấu cơm và em / quét nhà.
Sách giáo khoa gọi mỗi cụm như thế trong câu ghép là một vế câu. Cách gọi “mệnh đề chính, mệnh đề phụ” cho tiếng Việt chịu ảnh hưởng từ ngữ pháp các thứ tiếng châu Âu, nên khi làm bài Ngữ văn, an toàn hơn cả là dùng đúng chữ trong sách đang học: “cụm chủ – vị”, “vế câu”.
Cũng có trường hợp cụm chủ – vị nằm lọt trong một thành phần khác, không tách thành vế riêng: “Quyển sách bạn tặng rất hay.” Cụm bạn tặng chỉ bổ nghĩa cho quyển sách, giống vai trò của mệnh đề quan hệ trong tiếng Anh, nhưng câu này vẫn không phải câu ghép.
Phần chủ – vị làm định ngữ ấy nằm gọn trong một cụm danh từ có phần phụ sau, nên cả câu vẫn chỉ là câu đơn.
Đặt ba nghĩa của mệnh đề cạnh nhau
| Tiêu chí | Toán học | Tiếng Anh | Tiếng Việt |
|---|---|---|---|
| Là gì | Câu khẳng định có tính đúng/sai | Nhóm từ có chủ ngữ + động từ chia | Cụm chủ – vị |
| Điều cần xét | Đúng hay sai | Độc lập hay phụ thuộc | Đứng riêng thành câu hay là một vế, một phần của câu |
| Phân loại hay gặp | Phủ định, kéo theo, đảo, tương đương, chứa biến | Mệnh đề chính, phụ, quan hệ | Vế câu ghép; cụm chủ – vị làm thành phần |
| Ví dụ | “5 là số chẵn” (sai) | who lives here | trời / mưa |
| Học ở | Toán 10, chương 1 | Ngữ pháp từ THCS | Tiếng Việt 5, Ngữ văn THCS (với tên gọi cụm C – V, vế câu) |
Thử sức với các câu hỏi về mệnh đề
Câu 1: Câu nào là mệnh đề toán học? a) “Số 15 chia hết cho 5.” b) “Mấy giờ rồi?” c) “Số 9 là số nguyên tố.” d) “2x > 10.”
Đáp án: a và c là mệnh đề (a đúng, c sai vì 9 = 3 × 3). b là câu hỏi, không phải mệnh đề. d là mệnh đề chứa biến, chỉ thành mệnh đề khi biết giá trị của x.
Câu 2: Mệnh đề “Nếu 6 chia hết cho 4 thì 6 chia hết cho 2” đúng hay sai?
Đáp án: Đúng. P = “6 chia hết cho 4” là mệnh đề sai. Mệnh đề kéo theo chỉ sai khi P đúng và Q sai; ở đây P sai nên P ⇒ Q đúng (Q cũng đúng).
Câu 3: Phát biểu mệnh đề phủ định của “Mọi học sinh lớp 10A đều biết bơi.”
Đáp án: “Có ít nhất một học sinh lớp 10A không biết bơi.” Lưu ý phủ định của “mọi” là “có ít nhất một… không”, chứ không phải “Mọi học sinh lớp 10A đều không biết bơi”.
Câu 4: Gạch chân mệnh đề quan hệ trong câu “This is the book that my brother bought yesterday.”
Đáp án: that my brother bought yesterday. Nó mở đầu bằng that, có chủ ngữ my brother và động từ bought, bổ nghĩa cho danh từ the book.
Câu 5: Câu “Gió thổi mạnh, những cánh diều bay vút lên cao.” có mấy cụm chủ – vị?
Đáp án: Hai cụm: gió / thổi mạnh và những cánh diều / bay vút lên cao. Hai cụm không bao nhau, mỗi cụm là một vế, nên đây là câu ghép. Dạng bài đếm vế câu này hay ra trong đề ôn giữa kì hai Tiếng Việt 5 Chân trời.
Mệnh đề: những câu học sinh hay hỏi khi ôn bài
Mệnh đề trong toán học có thể vừa đúng vừa sai không?
Không. Đó chính là điều kiện để một câu được gọi là mệnh đề. Câu nào không xác định được đúng sai, hoặc đúng sai tùy người nghĩ, thì không phải mệnh đề.
Mệnh đề trong tiếng Anh khác cụm từ ở chỗ nào?
Mệnh đề (clause) có chủ ngữ và động từ chia; cụm từ (phrase) thì không. After school là phrase, còn after the class ended là clause vì có chủ ngữ the class và động từ ended.
Mệnh đề quan hệ là gì?
Đó là mệnh đề phụ đứng sau một danh từ để nói rõ danh từ ấy là ai, là cái gì, thường mở đầu bằng who, which, that, whose hoặc whom. Trong “the man who called you”, phần who called you là mệnh đề quan hệ.
Làm văn tiếng Việt có nên dùng chữ “mệnh đề” không?
Nên dùng chữ của sách giáo khoa: “cụm chủ – vị” hoặc “vế câu”. Chữ “mệnh đề” vẫn hiểu được, nhưng giáo viên chấm bài Ngữ văn thường mong thấy đúng thuật ngữ đã học.