Bài soạn Pa-ra-na (trích Nhiệt đới buồn của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt) hướng dẫn làm câu hỏi trước khi đọc, bốn câu hỏi theo dõi, sáu câu hỏi sau khi đọc và đề viết kết nối với đọc (trang 65 – 68) trong Bài 8 của Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập hai. Đây là văn bản mở đầu bài học về cách dùng dữ liệu của văn bản thông tin.
Tìm hiểu chung: tác giả, xuất xứ, bố cục
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm mấy thông tin chính dưới đây.

- Tác giả: Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt (Lévi-Strauss, 1908 – 2009), học giả người Pháp, chuyên về nhân học và dân tộc học, đồng thời là nhà triết học, một trong những người đặt nền móng cho nhân học cấu trúc.
- Xuất xứ: đoạn trích thuộc cuốn Nhiệt đới buồn (1955); SGK dùng bản dịch của Ngô Bình Lâm (NXB Tri thức, 2009).
- Thể loại: văn bản thông tin dạng ghi chép dân tộc học, kết hợp kể chuyện trải nghiệm ở ngôi thứ nhất và suy ngẫm của người viết.
- Đối tượng: những nhóm người Anh điêng thuộc tộc Giê ở vùng sông Ti-ba-gi, bang Pa-ra-na (nam Bra-xin), sau khi bị chính quyền đưa vào các khu định cư.
- Bố cục: ba phần – (1) hai đoạn đầu: chuyến đi đầu tiên và lịch sử bị xua đuổi của người Giê; (2) hai đoạn tiếp: cuộc văn minh hóa bất thành; (3) phần còn lại: những suy ngẫm của tác giả và sự trở lại của lối sống cổ xưa.
Trước khi đọc: hiểu biết về các dân tộc bản địa Nam Mỹ
Câu hỏi (trang 65): Chia sẻ hiểu biết về lịch sử, văn hóa của người bản địa Nam Mỹ
Trả lời:
- Cuối thế kỉ XV, trước khi người châu Âu đặt chân tới, Nam Mỹ là quê hương của hàng trăm tộc người với những nền văn hóa rất khác nhau: đế chế Inca trên dãy An-đét với những con đường đá, ruộng bậc thang và thành Ma-chu Pic-chu; nhiều bộ tộc sống bằng săn bắt, hái lượm, làm nương rẫy trong rừng A-ma-dôn.
- Từ thế kỉ XVI, các đội quân chinh phục từ bán đảo I-bê-ri cùng dịch bệnh, chiến tranh, lao dịch đã làm số người bản địa giảm sút nghiêm trọng; nhiều cộng đồng bị đồng hóa hoặc biến mất.
- Ngày nay, các cộng đồng bản địa còn giữ nhiều tri thức quý về rừng, cây thuốc, nghề thủ công, lễ hội, nhưng vẫn phải đấu tranh để bảo vệ đất đai và bản sắc trước nạn phá rừng và sự phát triển ồ ạt.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi theo dõi
Theo dõi 1 (trang 65): Tóm tắt ý chính của đoạn văn
Trả lời: Đoạn văn kể về số phận của tộc Giê ở miền nam Bra-xin: họ từng bị người Tu-pi dồn vào những vùng khó tiếp cận; nhờ vậy sống sót lâu hơn người Tu-pi (vốn sớm bị thực dân tiêu diệt), nhưng suốt nhiều thế kỉ vẫn bị săn đuổi khốc liệt, đến đầu thế kỉ XX chỉ còn vài nhóm nhỏ và phần lớn bị chính phủ đưa vào các khu định cư khoảng năm 1914.
Theo dõi 2 (trang 66): Chi tiết, cách diễn đạt thể hiện thái độ, quan điểm của tác giả
Trả lời:
- Tác giả liệt kê bằng giọng bình thản những thứ chính quyền mang tới (xưởng làm khóa, xưởng cưa, trường học, hiệu thuốc, rìu, dao, quần áo, chăn) rồi chốt ngắn gọn rằng hai mươi năm sau mọi ý đồ ấy bị bỏ. Cách đặt hai vế cạnh nhau ngầm cho thấy sự hời hợt của chính sách.
- Ông chỉ ra sự thờ ơ của cơ quan bảo vệ người Anh điêng, và nói rõ việc để thổ dân tự xoay xở là điều họ bị buộc phải làm chứ không phải lựa chọn tốt đẹp.
- Câu ngắn “Toàn bộ phần còn lại, là thất bại.” cùng loạt câu đối lập (xây nhà – vẫn ở ngoài trời; định cư – vẫn du cư) thể hiện cái nhìn tỉnh táo, có phần mỉa mai với kiểu áp đặt văn minh từ bên ngoài.
Theo dõi 3 (trang 67): Thế nào là cuộc đổi ngôi kì lạ giữa văn hóa hiện đại và văn hóa nguyên thủy?
Trả lời: Lúc đầu, văn hóa hiện đại được áp đặt và tưởng như chiếm ưu thế, văn hóa nguyên thủy bị coi là lạc hậu, phải nhường chỗ. Nhưng khi người Anh điêng bị bỏ mặc tự sống, các lối sống và kĩ thuật cổ truyền lại trỗi dậy, giành lại vị trí trung tâm, còn đồ vật của văn minh chỉ là thứ lẫn lộn bên cạnh. Sự cân bằng giữa hai nền văn hóa vốn do người ta sắp đặt bên ngoài nên chỉ là bề mặt, mong manh; khi lực áp đặt mất đi, vị trí của chúng đảo ngược. Đó là cuộc “đổi ngôi” kì lạ mà tác giả nói tới.
Theo dõi 4 (trang 67): Thái độ, hành xử của người Anh điêng với sản phẩm văn minh
Trả lời:
- Họ chỉ giữ lại những thứ thật sự có ích: quần áo, rìu, dao, kim khâu.
- Những gì xa lạ với nếp sống của mình thì họ khước từ hoặc dùng theo cách riêng: nhà được xây vẫn bỏ không; giường bị dỡ làm củi; đàn bò bị bỏ mặc, thịt và sữa bò bị chối từ; cối giã chạy bằng sức nước mục nát vì không ai dùng.
- Diêm có nhưng họ vẫn thích tạo lửa bằng cách khoan, xát hai mẩu gỗ; súng được phát nhưng đàn ông vẫn mang cung tên vào rừng săn bắn.
Qua đó thấy người Anh điêng không chối bỏ văn minh một cách mù quáng mà tiếp nhận có chọn lọc, phù hợp với cách sống họ đã gắn bó từ bao đời.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 68
Câu 1 (trang 68): Thông tin về số phận của người bản địa trong lịch sử
Văn bản cho bạn biết những thông tin gì về số phận của người bản địa trong lịch sử? Nêu nhận xét về những thông tin đó.
Trả lời:
- Thông tin: người Giê bị kẻ xâm lược Tu-pi dồn về miền nam; người Tu-pi lại bị thực dân xóa sổ nhanh chóng; những nhóm Giê nhỏ trong rừng Pa-ra-na và Xan-ta Ca-ta-ri-na bị truy đuổi tàn bạo suốt khoảng một trăm năm, phải lẩn trốn; phần lớn đã kiệt quệ và bị chính phủ đưa vào khu định cư quanh năm 1914; sau đó họ bị áp đặt lối sống hiện đại rồi lại bị bỏ mặc.
- Nhận xét: các thông tin được nêu ngắn gọn nhưng có năm tháng, nơi chốn, tên tộc người rõ ràng nên đáng tin. Chúng phác họa một số phận bi thảm: người bản địa liên tục là nạn nhân, hết bị xâm lược, tàn sát lại bị đối xử như đối tượng cần “cải tạo”. Đằng sau giọng kể khách quan là sự cảm thông sâu sắc của người viết.
Câu 2 (trang 68): Dữ liệu về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân
Thông tin về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân được triển khai qua những dữ liệu nào? Từ những dữ liệu đó, bạn có nhận xét gì về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân và những người da đỏ bản xứ?
Trả lời:
- Dữ liệu:
- Về lịch sử: bị săn đuổi tàn bạo, nhiều nhóm phải trốn biệt, khoảng năm 1914 bị gom vào các khu định cư.
- Về chính sách: làng Xao Phe-rô-ni-mô có xưởng khóa, xưởng cưa, trường học, hiệu thuốc; dụng cụ, quần áo, chăn được gửi tới; chính phủ phát cả đàn bò, súng.
- Về kết quả: sau hai mươi năm, các kế hoạch bị bỏ dở; thổ dân chỉ giữ vài món đồ, còn lại thất bại; nhà bỏ hoang, giường làm củi, cối giã mục nát.
- Nhận xét: giữa hai bên là quan hệ bất bình đẳng của kẻ mạnh áp đặt lên kẻ yếu. Chính quyền khi thì tàn sát, khi thì “ban phát” văn minh theo ý mình mà không hiểu, không tôn trọng nhu cầu của người bản xứ, rồi khi thấy họ không còn là mối nguy thì bỏ mặc. Người bản xứ đáp lại bằng sự kháng cự thầm lặng: lặng lẽ giữ lấy nếp sống của mình.
Câu 3 (trang 68): Vai trò của người trần thuật xưng “tôi”
Phân tích vai trò của người trần thuật xưng “tôi” trong văn bản.
Trả lời:
- Người kể xưng “tôi” là chính tác giả, một nhà dân tộc học trẻ trực tiếp đến vùng Ti-ba-gi, sống ở làng Xao Phe-rô-ni-mô. Điều đó làm tăng độ tin cậy của thông tin vì đây là những điều tận mắt thấy.
- Người kể vừa cung cấp dữ liệu (lịch sử, đồ vật, tập quán) vừa bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ: thất vọng lúc đầu vì người Anh điêng không còn “nguyên vẹn”, rồi hiểu ra mình cần dè dặt và khách quan hơn.
- Nhờ góc nhìn “tôi”, văn bản không khô khan như một bản báo cáo mà gần gũi, có chiều sâu suy tưởng, giúp người đọc cùng đi theo hành trình nhận thức của tác giả.
Câu 4 (trang 68): Dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp; giá trị của dữ liệu
Các dữ liệu được cung cấp trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Giá trị của các dữ liệu đó là gì?
Trả lời:
- Dữ liệu sơ cấp chiếm phần lớn: những gì tác giả trực tiếp quan sát ở làng Xao Phe-rô-ni-mô (nhà bỏ hoang, giường thành củi, cối giã mục, chày đá mài nhẵn lẫn giữa đĩa sắt tráng men, cách tạo lửa, cung tên, súng treo trong nhà).
- Dữ liệu thứ cấp: các thông tin lịch sử tác giả tổng hợp từ tư liệu có sẵn (người Giê bị người Tu-pi dồn ép, người Tu-pi bị thực dân xóa sổ, việc định cư khoảng năm 1914, công cụ môn-gio-lô có thể do người Bồ Đào Nha mang tới).
- Giá trị: dữ liệu sơ cấp đem lại tính chân thực, sinh động; dữ liệu thứ cấp cung cấp bối cảnh lịch sử để người đọc hiểu vì sao người Giê sống như vậy. Kết hợp hai loại giúp văn bản vừa đáng tin vừa có chiều sâu.
Câu 5 (trang 68): Lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả
Hãy cho biết lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản. Bằng cách nào bạn nhận ra điều đó?
Trả lời:
- Lập trường, quan điểm: tác giả đứng về phía người bản địa, phản đối việc ép buộc người khác theo một nền văn minh; ông cho rằng mỗi nền văn hóa có giá trị riêng, kể cả nền văn hóa pha trộn của người Giê ở Ti-ba-gi cũng đáng được nghiên cứu nghiêm túc.
- Thái độ: thương cảm cho cảnh ngộ của người Anh điêng; phê phán, có lúc mỉa mai sự thờ ơ và ý đồ hời hợt của chính quyền; trân trọng sức sống bền bỉ của lối sống cổ truyền; khiêm tốn tự nhìn lại định kiến của bản thân.
- Cách nhận ra: qua cách lựa chọn và sắp xếp dữ liệu (đặt chính sách cạnh kết quả thất bại), qua các từ ngữ đánh giá như “tàn bạo”, “thờ ơ”, “thô bạo”, “phù phiếm”, và qua những câu tự bộc bạch của người kể xưng “tôi”.
Câu 6 (trang 68): Thông điệp của văn bản và ý nghĩa trong bối cảnh ra đời
Thông điệp bạn nhận được từ văn bản là gì? Đặt trong bối cảnh ra đời của văn bản, theo bạn, thông điệp đó có ý nghĩa gì?
Trả lời:
- Thông điệp: không có nền văn hóa nào được quyền tự coi mình là chuẩn mực để áp đặt lên người khác; văn minh hóa bằng sự cưỡng ép sẽ thất bại; phải tôn trọng sự khác biệt và sức sống riêng của mỗi cộng đồng.
- Ý nghĩa trong bối cảnh: Nhiệt đới buồn ra đời năm 1955, khi châu Âu vẫn còn nhiều thuộc địa và quan niệm phương Tây là trung tâm văn minh còn phổ biến. Lời nhắc của một nhà khoa học phương Tây về giá trị của những nền văn hóa bị coi là “nguyên thủy” vì thế rất táo bạo, giàu tính nhân văn. Đến nay, khi toàn cầu hóa đe dọa làm mờ bản sắc nhiều dân tộc, thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị.
Kết nối đọc – viết (trang 68)
Đề bài: từ văn bản, em hãy viết một đoạn văn chừng 150 chữ nêu suy nghĩ của mình: văn minh và hoang dã nên ứng xử với nhau thế nào?
Đoạn văn tham khảo 1
Đọc Pa-ra-na, tôi nhận ra lằn ranh giữa cái gọi là văn minh với cái bị gọi là hoang dã không rạch ròi như ta vẫn nghĩ. Người Anh điêng bên sông Ti-ba-gi bỏ không những ngôi nhà được xây sẵn, chẻ giường làm củi, vẫn khoan gỗ lấy lửa dù đã có diêm. Nhìn qua, đó là sự “lạc hậu”. Nhưng nghĩ kĩ, họ chỉ chọn những gì hợp với cuộc sống giữa rừng già mà tổ tiên đã truyền lại. Còn thứ văn minh được mang tới lại thiếu sự thấu hiểu, nên chẳng mấy chốc bị bỏ dở. Theo tôi, văn minh thật sự không phải là việc bắt người khác sống giống mình, mà là khả năng tôn trọng sự khác biệt và học hỏi lẫn nhau. Trong cái gọi là hoang dã kia có cả kho tri thức quý về thiên nhiên mà con người hiện đại đang dần đánh mất.
Đoạn văn tham khảo 2
Văn minh và hoang dã thường được đặt ở hai đầu đối lập, nhưng văn bản của Lê-vi-Xtơ-rốt cho thấy chúng có thể cùng tồn tại trong một ngôi nhà: chiếc chày đá mài nhẵn nằm cạnh đĩa sắt tráng men, cây cung đứng cạnh khẩu súng. Điều đó khiến tôi nghĩ mối quan hệ giữa hai bên nên là đối thoại chứ không phải chinh phục. Khi văn minh đến bằng sự áp đặt, nó gặp sự kháng cự âm thầm và thất bại. Khi nó đến bằng sự tôn trọng, người bản địa sẵn sàng chọn lấy những gì có ích như con dao, cái rìu, cây kim. Ngày nay, khi các khu rừng nguyên sinh và những cộng đồng sống cùng chúng đang bị thu hẹp, bài học ấy càng đáng suy ngẫm: phát triển không có nghĩa là xóa bỏ những lối sống khác mình.
Kết luận
Qua bài soạn, em cần nắm: Pa-ra-na là đoạn trích ghi chép dân tộc học, dùng cả dữ liệu tận mắt quan sát lẫn tư liệu có sẵn để cho thấy số phận người Anh điêng ở nam Bra-xin và sự thất bại của việc áp đặt văn minh. Qua người kể xưng “tôi”, Lê-vi-Xtơ-rốt gửi gắm thông điệp tôn trọng sự đa dạng văn hóa. Đây là văn bản mẫu để em học cách nhận ra và thẩm định dữ liệu khi đọc văn bản thông tin.
Xem thêm: