Mưa bụi trên bến vắng, con đò nằm mặc nước trôi, chòm xoan rụng hoa tím bên quán tranh: những bức tranh quê như thế đã đưa một cô gái chưa học hết tiểu học vào Thơ mới. Anh Thơ (1918 – 2005) là gương mặt nữ nổi bật của phong trào Thơ mới, tên thật là Vương Kiều Ân, tác giả tập Bức tranh quê với bài Chiều xuân có trong sách Ngữ văn. Bà được Giải thưởng Nhà nước năm 2001 và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2007.
Vương Kiều Ân: hai năm sinh, một bến sông Thương

| Tên thật | Vương Kiều Ân |
| Bút danh | Anh Thơ |
| Năm sinh – năm mất | 25/1/1918 (có tài liệu ghi 1921) – 14/3/2005 (mất tại Hà Nội) |
| Quê quán | Thị xã Bắc Giang (Phủ Lạng Thương), tỉnh Bắc Giang; sinh ở thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương |
| Thể loại | Thơ, truyện thơ, tiểu thuyết, hồi ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bức tranh quê (1941), Kể chuyện Vũ Lăng (1957), Hoa dứa trắng (1967), Quê chồng (1979), bộ hồi ký ba tập (2002) |
| Giải thưởng | Giải khuyến khích Tự Lực văn đoàn 1939; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2001; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng) 2007 |
| Trong SGK | Chiều xuân (Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, Ngữ văn 9 Cánh diều; Ngữ văn 11 chương trình 2006) |
Năm sinh của bà có hai cách ghi. Bảo tàng Văn học Việt Nam và Wikipedia ghi 25/1/1918; báo Phụ nữ Việt Nam và trang của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi năm 1921.
Cha bà là một nhà nho làm công chức, phải thuyên chuyển nhiều nơi. Bà ra đời ở Ninh Giang (Hải Dương), năm mười hai tuổi theo cha về quê nội ở thị xã Bắc Giang, bên bờ sông Thương. Con sông ấy về sau thành tên tập hồi ký đầu tiên của bà, Từ bến sông Thương.
Cô gái bỏ học năm mười hai tuổi và giải Tự Lực văn đoàn
Theo cha đi khắp Hải Dương, Thái Bình, Bắc Giang, Vương Kiều Ân học dở dang và thôi học năm mười hai tuổi, chưa qua hết bậc tiểu học. Bà tự đọc, tự làm thơ. Người cha nhà nho cấm con gái làm thơ, có lần đốt cả tập thơ của con; các bài báo viết về bà đều nhắc chi tiết ấy. Một bài nghiên cứu về hồi ký của bà còn dẫn lời ông răn con, đại ý chính ông học bao nhiêu năm kinh sử mà còn chưa dám làm thơ. Cô con gái vẫn lén viết, ký những bút danh như Hồng Anh, Tuyết Anh, Hồng Minh (theo Wikipedia) trước khi dùng hẳn tên Anh Thơ.
Năm 1939, bản thảo tập Bức tranh quê được giải khuyến khích trong cuộc thi văn chương của Tự Lực văn đoàn. Báo Phụ nữ Việt Nam cho rằng bà là người phụ nữ đầu tiên đoạt giải của nhóm này. Hai năm sau, năm 1941, tập thơ mới được in thành sách.
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ bà in trên Ngày nay, Phụ nữ, Tiểu thuyết thứ Năm và nhiều tờ báo khác. Bà in chung tập Xưa với Bàng Bá Lân, góp mặt trong Hương xuân, một tuyển thơ của các nhà thơ nữ cùng Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, và viết tiểu thuyết Răng đen. Năm in của ba cuốn này mỗi nguồn ghi một khác, trong khoảng 1941–1944.
Bức tranh quê: thơ tả cảnh đồng quê Bắc Bộ
Thơ Anh Thơ thời Thơ mới gần như chỉ làm một việc: tả cảnh quê. Bến đò, quán tranh, cánh đồng, chợ quê, những cô gái yếm thắm cúi cào cỏ ruộng, thường viết bằng thể tám chữ với những nét vẽ chân thực. Bài Chiều xuân mở đầu như sau:
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
Bài thơ có ba khổ, đi lần lượt từ bến sông ra đường đê rồi vào đồng lúa: bầy sáo đen sà xuống bờ cỏ, trâu bò cúi đầu gặm cỏ dưới mưa, rồi một lũ cò con bất chợt bay lên khiến cô gái yếm thắm giật mình. Không có lời bình, không có tâm sự, chỉ có những nét vẽ nối nhau như một cuộn tranh. Đó là chỗ mạnh và cũng là giới hạn của tập thơ đầu: người đọc thấy cảnh rất rõ nhưng ít khi thấy người làm thơ.
Cùng mạch ấy là Trưa hè, Sang thu, Ngày xuân, mỗi bài một mùa, một nhịp sống ở làng. Người ta hay đặt bà cạnh Nguyễn Bính và Đoàn Văn Cừ trong dòng thơ đồng quê của Thơ mới; nhưng nếu Nguyễn Bính nặng tình, Đoàn Văn Cừ ham những cảnh hội hè đông vui, thì Anh Thơ thiên về những khoảnh khắc lặng, ít người, vương một chút buồn.
Trong Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh và Hoài Chân dành cho bà một mục riêng; theo báo Sài Gòn Giải Phóng, trong sáu nữ thi sĩ có mặt ở cuốn sách, Anh Thơ là người được bàn nhiều nhất. Những bài khác của bà có trong tuyển chọn thơ Anh Thơ.
Từ Thơ mới sang Hội Phụ nữ và thơ kháng chiến
Năm 1945, Anh Thơ tham gia Việt Minh, làm Bí thư Hội Phụ nữ bốn huyện Việt Yên, Lục Ngạn, Bắc Sơn, Hữu Lũng, rồi vào Ban Thường vụ Hội Phụ nữ hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn. Năm 1957, bà là hội viên đợt đầu của Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội khóa I và II; những năm 1971–1975 làm biên tập viên tạp chí Tác phẩm mới.
Thơ bà giai đoạn này đổi giọng: viết về người phụ nữ kháng chiến, về những miền đất bà đi qua. Truyện thơ Kể chuyện Vũ Lăng từng được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ tặng thưởng năm 1956 theo hồ sơ của Bảo tàng Văn học. Những tập về sau như Hoa dứa trắng, Quê chồng cho thấy một Anh Thơ đã rời bến sông Thương thời con gái để viết về đời sống chung.
| Tác phẩm | Năm | Thể loại |
|---|---|---|
| Kể chuyện Vũ Lăng | 1957 | Truyện thơ |
| Theo cánh chim câu | 1960 | Thơ |
| Đảo ngọc | 1964 | Thơ |
| Hoa dứa trắng | 1967 | Thơ |
| Mùa xuân màu xanh | 1974 | Thơ |
| Quê chồng | 1979 | Thơ |
| Lệ sương | 1995 | Thơ |
Năm 2001, ba tác phẩm Hoa dứa trắng, Quê chồng và Kể chuyện Vũ Lăng mang về cho bà Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I.
Ba tập hồi ký và Giải thưởng Hồ Chí Minh
Về già, Anh Thơ viết hồi ký. Tập đầu, Từ bến sông Thương, in năm 1986, kể về thời thơ ấu bên sông Thương và những năm đầu làm thơ. Tiếp theo là Tiếng chim tu hú (1995) và Bên dòng sông chia cắt. Năm 2002, cả ba tập được in chung thành bộ Hồi ký Anh Thơ. Năm 2014, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ có bài nghiên cứu riêng về chân dung nữ sĩ qua bộ hồi ký này.
Năm 2007, hai năm sau khi bà mất, Bức tranh quê và hồi ký Từ bến sông Thương được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Như vậy, bà có cả hai giải thưởng quốc gia về văn học nghệ thuật.
Một đời riêng muộn màng
Theo báo Phụ nữ Việt Nam, bà lập gia đình năm 36 tuổi với bác sĩ Bùi Viên Dinh. Hai ông bà không có con, nhận nuôi một con gái là Cẩm Thơ, về sau cũng làm thơ cho thiếu nhi. Những năm cuối đời, bà sống ở Hà Nội. Anh Thơ mất ngày 14/3/2005 tại Hà Nội vì bệnh ung thư phổi.
Không ít bài viết trên mạng gọi bà là “nhà thơ nữ nổi tiếng nhất của phong trào Thơ mới” như một danh xưng, kèm những nhận xét gán cho Chế Lan Viên, Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật mà chúng tôi không tìm được nguồn. Còn việc bà là gương mặt nữ nổi bật nhất của Thơ mới thì là nhận định chung của nhiều tài liệu, không phải một danh hiệu.
Chiều xuân trong SGK Ngữ văn 9 và 11
| Văn bản | Sách – bài học | Bài liên quan trên Văn VN |
|---|---|---|
| Chiều xuân | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 1, Bài 1 (Thông điệp từ thiên nhiên), đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài Chiều xuân; Tác giả, tác phẩm |
| Chiều xuân | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 2, Bài 7 (Thơ tám chữ và thơ tự do), thực hành đọc hiểu | Phân tích Chiều xuân |
| Chiều xuân | Ngữ văn 11 (chương trình 2006), bài đọc thêm | Như trên |
Sách Cánh diều đặt Chiều xuân trong bài học về thơ tám chữ, còn sách Chân trời sáng tạo đặt bài thơ trong chủ điểm thiên nhiên. Khi học, nên chú ý cách bài thơ gần như không có nhân vật trữ tình xưng “tôi”: cảnh tự hiện ra qua từng nét nhỏ, đúng kiểu tranh quê của Anh Thơ.