Nhìn về vốn văn hóa dân tộc của Trần Đình Hượu là văn bản đọc mở đầu Bài 3 (Lập luận trong văn bản nghị luận) trong sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một. Bài viết dưới đây tập hợp những kiến thức em cần nắm về văn bản: nội dung lập luận, đôi nét về tác giả, xuất xứ, thể loại, luận đề và hệ thống luận điểm, cách chia phần, những giá trị về nội dung, nghệ thuật lập luận và sơ đồ tư duy để ôn nhanh.
Nội dung văn bản Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Văn bản trong SGK là một đoạn trích, có mấy chỗ lược bớt đánh dấu […]. Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền nên ở đây chỉ tóm lược mạch lập luận kèm vài câu trích ngắn; toàn văn em đọc trong SGK.

Nêu vấn đề. Tác giả xác định phạm vi bàn luận: không phải văn hóa ở buổi đầu định hình mà là cái vốn đã dần ổn định và tồn tại tới trước thời cận – hiện đại. Ông khiêm tốn coi những điều sắp nói chỉ là vài nhận xét trong khi chờ kết luận của giới chuyên môn.
Mặt hạn chế. So với nhiều dân tộc, văn hóa của ta không đồ sộ, không có lĩnh vực nào vươn tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ đời sống tinh thần. Thần thoại ít, tôn giáo và triết học kém phát triển, khoa học kĩ thuật không thành truyền thống, nghệ thuật chưa đạt tới tuyệt kĩ; thơ ca tuy phổ biến nhưng hiếm người coi thơ là sự nghiệp cả đời. Tác giả lí giải: đó là văn hóa của cư dân nông nghiệp định cư, ít giao lưu, thiếu sức kích thích của đô thị.
Lối sống và quan niệm sống. “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo.” Họ quý cuộc đời hiện tại hơn thế giới bên kia, lo cho con cháu hơn lo cho linh hồn mình, không quá sợ cái chết. Mong ước của họ giản dị, thiết thực: thái bình, no đủ, thong thả, con đàn cháu đống. Người được yêu quý là người hiền hậu, trọng nghĩa tình; điều được đề cao là sự khôn khéo chứ không phải trí tuệ hay sức mạnh.
Thị hiếu thẩm mĩ. “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo.” Người Việt không chuộng cái tráng lệ, kì vĩ, ưa màu sắc nhã nhặn, quy mô vừa phải, kín đáo hơn phô trương. Tác giả còn tự hỏi: có lẽ những sở thích ấy bắt nguồn từ cảm thức lâu đời của một dân tộc nhỏ phải sống giữa nhiều khó khăn, bất trắc.
Đánh giá chung. Người Việt sống có văn hóa, có nền văn hóa của riêng mình, đã gạt bỏ cái thô dã, hung bạo để có nền tảng nhân bản. “Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà.” Cái vốn ấy hình thành từ sự dung hợp giữa yếu tố bản địa với Phật giáo, Nho giáo đã được dân tộc chọn lọc theo cách riêng.
Con đường hình thành bản sắc. Bản sắc văn hóa không chỉ do một dân tộc tự sáng tạo mà còn nhờ biết tiếp nhận, biến những giá trị bên ngoài thành của mình. Khép lại đoạn trích là lời khẳng định: “Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh.”
Thông tin tác giả Trần Đình Hượu
Trần Đình Hượu sinh năm 1927, mất năm 1995, người Nghệ An. Tuổi trẻ của ông gắn với phong trào cách mạng: năm 1945, ông vào tổ chức Thanh niên cứu quốc, đồng thời góp mặt trong Ủy ban khởi nghĩa tại địa phương. Giai đoạn 1959 – 1963, ông học nghiên cứu sinh tại Liên Xô (trường Lô-mô-nô-xốp); sau đó suốt ba mươi năm (1963 – 1993), ông đứng trên bục giảng ngành Ngữ văn ở Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đến năm 1994, ông sang Pháp đứng lớp ở trường Đại học Prô-văng-xơ.
Lĩnh vực ông theo đuổi là lịch sử tư tưởng phương Đông cùng văn hóa, văn chương Việt Nam từ thời trung đại sang giai đoạn giao thời. Các công trình của ông mang tinh thần độc lập, đặt ra nhiều câu hỏi về phương pháp khi đánh giá di sản tư tưởng và văn chương truyền thống; ông cũng mở ra những hướng tìm hiểu mới về mẫu hình nhà nho và các kiểu tác giả thời trung đại.
Một số công trình tiêu biểu của ông:
- Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 – in năm 1988.
- Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại – in năm 1995.
- Đến hiện đại từ truyền thống – in năm 1996, nơi có bài tiểu luận chứa đoạn trích trong SGK.
- Các bài giảng về tư tưởng phương Đông – in năm 2001.
Năm 2000, các công trình của ông được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.
Thông tin tác phẩm Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Xuất xứ của văn bản
Đoạn trích là phần II của một bài tiểu luận bàn về việc tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, được đưa vào cuốn Đến hiện đại từ truyền thống (NXB Văn hóa, Hà Nội, 1996). SGK Ngữ văn 12 Kết nối tri thức dẫn lại từ Ngữ văn 12 Nâng cao, tập một. Nhan đề Nhìn về vốn văn hóa dân tộc do người biên soạn đặt.
Hoàn cảnh ra đời
Bài tiểu luận nằm trong cuốn sách tập hợp các nghiên cứu của Trần Đình Hượu về truyền thống tư tưởng, văn hóa, ra mắt năm 1996, một năm sau khi ông qua đời. Tên sách đã nói lên mối quan tâm xuyên suốt của tác giả: muốn đi tới hiện đại thì phải hiểu đúng truyền thống. Đặt trong bối cảnh đất nước đổi mới, mở cửa và hội nhập, câu hỏi văn hóa dân tộc mạnh ở đâu, yếu ở đâu càng mang ý nghĩa thiết thực.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận, cụ thể là tiểu luận nghiên cứu về văn hóa.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận, có kết hợp thuyết minh khi nêu hiện tượng văn hóa.
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: những đặc điểm cơ bản của vốn văn hóa truyền thống Việt Nam, cả mặt hạn chế lẫn thế mạnh, và con đường hình thành bản sắc văn hóa dân tộc.
Các luận điểm:
- Văn hóa Việt Nam không đồ sộ, chưa có lĩnh vực nào phát triển tới đỉnh cao và chi phối cả nền văn hóa; nguyên nhân là trình độ sản xuất của cư dân nông nghiệp định cư.
- Người Việt ít tinh thần tôn giáo, trọng đời sống hiện thế, ước mong thiết thực, yêu quý người hiền hậu, nghĩa tình, đề cao sự khôn khéo.
- Về thẩm mĩ, người Việt thích cái xinh xắn, khéo léo, thanh nhã, quy mô vừa phải.
- Văn hóa Việt có nền tảng nhân bản, mang ba nét: thiết thực, linh hoạt, dung hòa.
- Bản sắc văn hóa là kết quả của sự sáng tạo riêng cộng với bản lĩnh tiếp nhận, đồng hóa văn hóa bên ngoài.
Mỗi luận điểm đều đi kèm lí lẽ và bằng chứng lấy từ đời sống văn hóa nhiều thế kỉ: thần thoại, tôn giáo, thơ ca, kiến trúc, tục ngữ, quan niệm về hạnh phúc, cách thờ Thần và Bụt…
Bố cục Nhìn về vốn văn hóa dân tộc có mấy phần?
Văn bản chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “chắc chắn có liên quan gần gũi với nó”): nêu vấn đề và giới hạn phạm vi bàn luận.
- Phần 2 (tiếp theo đến “để lại dấu vết khá rõ trong văn học”): những đặc điểm của vốn văn hóa Việt Nam – mặt chưa phát triển, lối sống, thẩm mĩ, tinh thần chung và nguồn gốc dung hợp.
- Phần 3 (còn lại): cách thức bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành và bản lĩnh của dân tộc Việt.
Giá trị nội dung
Bằng hiểu biết sâu rộng, tác giả phác họa một chân dung trung thực về vốn văn hóa truyền thống: không lớn lao, không rực rỡ, nhưng tinh tế, nhân hậu, thực tế và mềm dẻo. Văn bản giúp người đọc vừa tự hào vừa tỉnh táo: hiểu chỗ mạnh để phát huy, hiểu chỗ yếu để bổ khuyết, từ đó có thái độ đúng khi giữ gìn bản sắc trong thời kì hội nhập. Lời kết về bản lĩnh tiếp nhận văn hóa bên ngoài cũng là một lời nhắn gửi: mở cửa không đáng sợ nếu dân tộc biết chọn lọc và biến cái của người thành cái của mình.
Nghệ thuật lập luận
- Nêu vấn đề thận trọng, khiêm tốn; giới hạn phạm vi rõ ràng ngay từ đầu.
- Hệ thống luận điểm đi từ hạn chế đến thế mạnh, từ biểu hiện cụ thể đến nhận định khái quát rồi tới con đường hình thành bản sắc.
- Phối hợp nhiều thao tác: so sánh với các dân tộc khác, phân tích từng phương diện, chứng minh bằng hiện tượng văn hóa, giải thích nguyên nhân, bình luận đánh giá.
- Bằng chứng phong phú, gần gũi, có cả tục ngữ, thành ngữ dân gian (“sống gửi thác về”, “ăn đi trước, lội nước theo sau”).
- Câu văn ngắn gọn, nhiều câu khẳng định dứt khoát, xen câu hỏi gợi suy nghĩ; giọng điệu điềm tĩnh, khách quan.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề gồm hai thành phần. Nhìn về chỉ hành động quay lại quan sát, xem xét một cách tỉnh táo; vốn văn hóa dân tộc là gia tài tinh thần được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đặt cạnh nhau, nhan đề cho biết ngay đối tượng và tinh thần của bài viết: không ca ngợi, không chê bai mà nhìn thẳng để hiểu đúng.
Sơ đồ tư duy Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Sơ đồ dưới đây gói gọn sáu ý chính cần nhớ về tác giả và tác phẩm.

Lời kết
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc là văn bản tiêu biểu để học cách lập luận: luận đề rõ, luận điểm chặt, bằng chứng đa dạng và giọng điệu khách quan. Nắm chắc xuất xứ, ba phần của văn bản cùng thái độ nghiên cứu của Trần Đình Hượu sẽ giúp em soạn bài và làm tốt các câu hỏi đọc hiểu văn bản nghị luận.
Xem thêm: