Ôn tập cuối năm là Bài 35, bài cuối cùng trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 2, trang 138–143, gồm 10 tiết. Bài giải đi lần lượt từ Tiết 1, 2 đến Tiết 9, 10, có gợi ý trả lời mọi câu hỏi, cách kể chuyện Soi gương và đoạn văn mẫu về thầy cô, người thân.

Tuần ôn tập cuối năm gồm những gì?
SGK gọi tuần này là “Đánh giá và luyện tập tổng hợp”. Cụ thể:
- Tiết 1 đến tiết 8: phần A là đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng bài đã học. Phần B gồm: đọc bài văn Mùa xuân đến và làm bài tập (tiết 3, 4); nghe kể chuyện Soi gương, luyện dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than (tiết 5, 6); đọc bài thơ Mùa đông nắng ở đâu? và làm bài tập (tiết 7, 8).
- Tiết 9, 10 (bài luyện tập đánh giá kĩ năng đọc hiểu và viết): đọc thầm truyện Em muốn làm cô giáo rồi làm bài tập; nghe – viết 2 khổ thơ cuối bài Mùa đông nắng ở đâu?; viết đoạn văn ngắn về thầy cô hoặc người thân.
Kiến thức được ôn: từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm; từ cùng nghĩa; câu hỏi Khi nào?; dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than.
Tiết 1, 2: Đọc thành tiếng, học thuộc lòng (trang 138)
Yêu cầu của SGK: “Mỗi học sinh đọc một đoạn văn, đoạn thơ khoảng 60 tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn thơ (bài thơ) đã học.”
Em ôn lại 14 bài đọc từ Bài 28 đến Bài 34 (nửa sau học kì 2):
| Bài | Bài đọc 1 | Bài đọc 2 |
| Bài 28 | Chuyện bốn mùa | Buổi trưa hè |
| Bài 29 | Ông Mạnh thắng Thần Gió | Mùa nước nổi |
| Bài 30 | Bé xem tranh | Rơm tháng Mười |
| Bài 31 | Về quê | Con kênh xanh xanh |
| Bài 32 | Con Rồng cháu Tiên | Thư Trung thu |
| Bài 33 | Con đường của bé | Người làm đồ chơi |
| Bài 34 | Bóp nát quả cam | Những ý tưởng sáng tạo |
Cách ôn hiệu quả:
- Mỗi ngày đọc to 2 – 3 bài; chọn đoạn khoảng 60 tiếng, đọc rõ từng tiếng, ngắt hơi ở dấu phẩy, nghỉ ở dấu chấm.
- Đọc thuộc lòng lại bài thơ trong bức thư của Bác Hồ (Thư Trung thu) và các đoạn thơ đã học thuộc.
Các bài đọc nửa đầu học kì 2 (Bài 19 – Bài 26) em xem lại ở Ôn tập giữa học kì 2 lớp 2 Cánh diều; bài đọc học kì 1 có ở Ôn tập cuối học kì 1 lớp 2 Cánh diều.
Tiết 3, 4: Đọc và làm bài tập – Mùa xuân đến (trang 138–140)
Phần A giống tiết 1, 2. Phần B: đọc bài văn Mùa xuân đến của Nguyễn Kiên. Bài có 2 đoạn. Đoạn 1 tả bầu trời, vườn cây, hoa và các loài chim khi xuân về. Đoạn 2 kể chú chim sâu vẫn nhớ cành hoa mận nở từ cuối đông để báo tin xuân. SGK giải nghĩa: mận là loài cây có hoa trắng, quả màu nâu, vàng hay xanh nhạt, ăn có vị ngọt hoặc chua; nồng nàn ý nói toả mùi thơm đậm đà, dễ chịu; khướu là loài chim đuôi dài, lông màu đen, hay hót; đỏm dáng là đẹp bề ngoài, có vẻ chải chuốt; trầm ngâm là có dáng lặng lẽ như đang suy nghĩ.
Câu 1 (trang 139): Bầu trời và mọi vật thay đổi như thế nào khi mùa xuân đến?
Trả lời:
- Bầu trời mỗi ngày một xanh hơn, nắng vàng mỗi ngày một tươi sáng, rực rỡ hơn.
- Cây trong vườn trổ chồi non, ra lộc mới, rồi nở hoa: hoa bưởi, hoa nhãn, hoa cau.
- Khu vườn rộn ràng tiếng hót, chim chóc bay nhảy khắp nơi.
Câu 2 (trang 139): Xếp các từ ngữ sau vào nhóm thích hợp:
Các từ ngữ: hoa bưởi, hoa nhãn, ngọt, nồng nàn, nở, đến, bay nhảy, chào mào, đâm (chồi), nảy (lộc), nhanh nhảu, đỏm dáng, chích choè, trầm ngâm, cu gáy. Ba nhóm: Sự vật – Hoạt động – Đặc điểm.
Trả lời:
| Sự vật | Hoạt động | Đặc điểm |
| hoa bưởi, hoa nhãn, chào mào, chích choè, cu gáy | nở, đến, bay nhảy, đâm (chồi), nảy (lộc) | ngọt, nồng nàn, nhanh nhảu, đỏm dáng, trầm ngâm |
Câu 3 (trang 139): Tìm những từ chỉ đặc điểm giúp em cảm nhận được:
a) Hương vị riêng của mỗi loài hoa.
b) Đặc điểm riêng của mỗi loài chim.
Trả lời:
| a) Loài hoa | Từ chỉ hương vị | b) Loài chim | Từ chỉ đặc điểm |
| hoa bưởi | nồng nàn | chích choè | nhanh nhảu |
| hoa nhãn | ngọt | khướu | lắm điều |
| hoa cau | thoảng qua | chào mào | đỏm dáng |
| cu gáy | trầm ngâm |
Câu 4 (trang 140): Đặt câu nói về đặc điểm của một loài hoa khi mùa xuân đến.
Trả lời: Em chọn một câu, ví dụ:
- Mùa xuân đến, hoa đào nở hồng thắm khắp các ngõ nhỏ.
- Xuân về, những chùm hoa mai vàng rực dưới nắng sớm.
- Hoa xoan tím nhạt lấm tấm trên cành khi mùa xuân tới.
Câu 5 (trang 140): Nghe – viết: Mùa xuân đến (từ đầu đến “Hoa cau thoảng qua.”)
Trả lời: Đoạn cần viết gồm 8 câu ngắn đầu bài. Khi viết, em chú ý:
- Tên bài viết giữa dòng; đầu đoạn lùi vào một ô; sau mỗi dấu chấm, chữ đầu câu viết hoa.
- Tiếng dễ sai: mận, tàn, rực rỡ, đâm chồi, nảy lộc, bưởi, nồng nàn, nhãn, thoảng.
Tiết 5, 6: Luyện tập (trang 140)
Phần A giống tiết 1, 2. Phần B là luyện tập:
Câu 1 (trang 140): Nghe, kể lại mẩu chuyện sau: Soi gương (Hạt giống tâm hồn)
Gợi ý: a) Câu chuyện xảy ra ở đâu? b) Chú chó thứ nhất tính tình thế nào? Chú nhìn thấy gì trong gương và làm gì? Chú nghĩ gì khi ra khỏi ngôi nhà? c) Chú chó thứ hai mặt mũi thế nào? Chú nhìn thấy gì trong gương và làm gì? Chú nghĩ gì khi chạy khỏi ngôi nhà? d) Câu chuyện giúp em hiểu điều gì?
Trả lời: Câu chuyện không in trong SGK, thầy cô sẽ kể. Em dựa vào tranh và gợi ý để kể:
- a) Chuyện xảy ra trong một ngôi nhà có rất nhiều tấm gương ở một làng nọ.
- b) Chú chó thứ nhất vui tính. Bước vào nhà, chú thấy quanh mình toàn những chú chó vui vẻ vẫy đuôi. Chú cười, chúng cũng cười; chú sủa chào, chúng cũng chào lại. Lúc ra về, chú thích thú nghĩ đây là một nơi tuyệt vời.
- c) Chú chó thứ hai lúc nào cũng nhăn nhó, buồn bực. Vào nhà, chú thấy những con chó mặt mày cau có nhìn mình. Chú sủa ầm ĩ, chúng cũng sủa ầm ĩ. Chú hoảng sợ bỏ chạy và nghĩ sẽ không bao giờ quay lại chỗ đáng sợ ấy.
- d) Những con chó trong gương chính là hình ảnh của mỗi chú. Câu chuyện giúp em hiểu: mình vui vẻ, thân thiện với mọi người thì sẽ nhận lại niềm vui và sự thân thiện; mình cau có thì xung quanh cũng chẳng vui.
Câu 2 (trang 140): Dấu câu nào phù hợp với ô trống: dấu chấm hay dấu chấm hỏi, dấu chấm than?
Ông quạ thông thái dạy Toán☐ Bọn trẻ cả xóm đều thích học ông. Chúng kháo nhau: “Thầy dạy hay tuyệt☐”. Vì sao vậy☐ Rất đơn giản: Thầy dạy cộng trừ bằng các thứ hạt☐ Trò nào làm đúng thì được ăn số hạt đó.
Trả lời:
- Ô 1: dấu chấm (dạy Toán.) – câu kể.
- Ô 2: dấu chấm than (hay tuyệt!) – lời khen bộc lộ cảm xúc.
- Ô 3: dấu chấm hỏi (Vì sao vậy?) – câu hỏi.
- Ô 4: dấu chấm (các thứ hạt.) – câu kể.
Tiết 7, 8: Đọc và làm bài tập – Mùa đông nắng ở đâu? (trang 141–142)
Phần A giống tiết 1, 2. Phần B: đọc đoạn trích bài thơ Mùa đông nắng ở đâu? của nhà thơ Xuân Quỳnh. Đoạn trích có 4 khổ: mở đầu là câu hỏi mùa đông nắng đi đâu; các khổ sau trả lời rằng nắng vẫn ở quanh ta – bên ấm chè của bà, trong quả cam, trong hương hoa cúc và trong vòng tay mẹ. SGK giải nghĩa: bình tích (ấm tích) là ấm sứ to, thường dùng để pha nước chè, nước vối; nước chè tươi là nước nấu hoặc pha bằng lá chè già mới hái.
Câu 1 (trang 141): Mùa đông, nắng ở những đâu?
Trả lời: Theo bài thơ, mùa đông nắng vẫn có ở nhiều nơi:
- quanh chiếc bình tích ủ nước chè cho bà, và trong vị chát của nước chè;
- trong quả cam, làm cam ngọt;
- trong mùi thơm của rất nhiều bông hoa cúc ngoài vườn;
- và nhiều nhất là trong lòng mẹ.
Câu 2 (trang 141): Những từ nào có thể thay thế từ lặn trong câu thơ sau?
Nắng lặn vào trong mùi thơm / Của trăm ngàn bông hoa cúc. Các từ cho sẵn: ngủ, chìm, luồn, nấp, ẩn, bơi.
Trả lời: Có thể thay từ lặn bằng chìm, ẩn, nấp (nắng chìm vào, ẩn vào, nấp vào mùi thơm hoa cúc). Các từ ngủ, bơi không hợp nghĩa. Từ luồn cũng có thể chấp nhận, vì nắng luồn vào mùi thơm cũng có nghĩa là đi sâu vào bên trong.
Câu 3 (trang 141): Vì sao mỗi lần ôm mẹ và được mẹ yêu, bạn nhỏ thấy như có nắng trong vòng tay mẹ?
Trả lời: Vì vòng tay và tình thương của mẹ làm bạn nhỏ thấy ấm áp giống như được tắm nắng giữa ngày đông lạnh giá. Tình yêu của mẹ sưởi ấm con như nắng.
Câu 4 (trang 141): Em hiểu “ấm ơi là ấm” có nghĩa là gì?
Trả lời: Cách nói ấy nghĩa là rất ấm, ấm vô cùng. Lặp lại từ “ấm” với “ơi là” giúp nhấn mạnh cảm giác ấm áp mà bạn nhỏ có được khi ở bên mẹ.
Câu 5 (trang 142): Sử dụng cách nói “ấm ơi là ấm”, đặt câu với một trong các từ sau để thể hiện đánh giá của em đối với một người, một vật hoặc một con vật.
Các từ: đẹp, khoẻ, tốt, xinh, nhanh, hiền. M: Con voi khoẻ ơi là khoẻ!
Trả lời:
- Em bé nhà em xinh ơi là xinh!
- Chú ngựa đua phi nhanh ơi là nhanh!
- Bà nội em hiền ơi là hiền!
Tiết 9, 10: Đánh giá kĩ năng đọc hiểu và viết (trang 142–143)
Đây là bài luyện tập.
A. Đọc thầm và làm bài tập: Em muốn làm cô giáo (trang 142–143)
Đọc thầm truyện Em muốn làm cô giáo (theo Ku-rô-y-a-na-gi, Phí Văn Gừng dịch). Truyện kể bạn Hà một buổi trưa đến gặp thầy hiệu trưởng, nói với thầy ước mơ lớn lên sẽ làm cô giáo ở chính ngôi trường này; thầy hỏi lại, Hà khẳng định chắc chắn và thầy trò bắt tay nhau. SGK giải nghĩa: chậm rãi là hơi chậm, không vội vàng; rành rọt là nói rất rõ ràng; quả quyết là khẳng định chắc chắn, thể hiện sự quyết tâm.
Câu 1 (trang 143): Đánh dấu √ vào ☐ trước câu trả lời đúng:
a) Hà xin gặp thầy hiệu trưởng để làm gì? ☐ Để bày tỏ ước mơ sau này trở thành cô giáo của trường. ☐ Để được ngồi đối diện với thầy. ☐ Để được bắt tay thầy.
b) Sau khi nghe Hà nói, thầy hiệu trưởng tỏ thái độ thế nào? ☐ Thầy tỏ ra bất ngờ trước ý kiến của Hà. ☐ Thầy mỉm cười trước ý kiến ngộ nghĩnh của Hà. ☐ Thầy hỏi lại, rồi bắt tay Hà.
c) Bộ phận in đậm trong câu “Trưa ấy, Hà đến gặp thầy hiệu trưởng.” trả lời cho câu hỏi nào? ☐ Ở đâu? ☐ Khi nào? ☐ Vì sao?
d) Câu nào dưới đây thể hiện quyết tâm của Hà? ☐ Em xin hứa sẽ làm mọi việc để giúp thầy ạ! ☐ Em chắc chắn nhé? ☐ Thật tuyệt!
Trả lời:
- a) √ Để bày tỏ ước mơ sau này trở thành cô giáo của trường.
- b) √ Thầy hỏi lại, rồi bắt tay Hà. (Hà tưởng thầy sẽ cười nhưng thầy không cười mà hỏi lại thật nghiêm túc.)
- c) √ Khi nào? (Trưa ấy chỉ thời gian.)
- d) √ câu thứ nhất – lời Hà hứa với thầy, nói lên quyết tâm của Hà. (Câu thứ hai là lời thầy hỏi lại; câu thứ ba là lời người kể.)
Câu 2 (trang 143): Viết 1 – 2 câu nhận xét về bạn Hà.
Trả lời: Bạn Hà rất mạnh dạn, tự tin, dám nói ước mơ của mình với thầy hiệu trưởng. Hà còn biết giữ lời hứa và yêu ngôi trường của mình.
B. Viết (trang 143)
Phần Viết đánh số lại từ câu 1.
Câu 1 (trang 143): Nghe – viết: Mùa đông nắng ở đâu? (2 khổ thơ cuối)
Trả lời: Hai khổ cuối có 8 dòng thơ, mỗi dòng 6 hoặc 7 chữ, nói nắng ở trong quả cam, trong hương hoa cúc và trong lòng mẹ. Khi viết:
- Chữ đầu mỗi dòng viết hoa, các dòng thẳng hàng; hết khổ thứ nhất để cách một dòng.
- Chú ý dấu chấm cuối khổ 3, dấu phẩy sau tiếng “mẹ” ở dòng thứ 7 và dấu chấm than ở cuối bài.
- Tiếng dễ sai: quả cam, suốt, lặn, trăm ngàn, cúc, làm nũng, nhiều, ấm.
Câu 2 (trang 143): Chọn 1 trong 2 đề:
a) Viết một đoạn văn ngắn về cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 2 của em. Gợi ý: – Cô giáo (thầy giáo) lớp em tên là gì? – Điều em nhớ nhất ở cô (thầy) trong năm học là gì? – Nói lời cảm ơn và lời chúc cô (thầy) hoặc lời hứa với cô (thầy).
b) Viết một đoạn văn ngắn về người thân của em.
Trả lời: Đoạn văn tham khảo (đề a):
Cô giáo lớp 2 của em là cô Hằng. Cô có giọng nói ấm áp và đôi mắt rất hiền. Điều em nhớ nhất là hôm em viết chữ hoa mãi không đẹp, cô đã cầm tay em, kiên nhẫn chỉ cho em từng nét. Nhờ cô, cuối năm em được khen viết chữ đẹp. Em cảm ơn cô và hứa lên lớp 3 sẽ chăm học hơn. Em chúc cô luôn mạnh khoẻ và vui vẻ.
Nếu chọn đề b, em viết theo cùng cách: người thân đó là ai, người đó đối với em thế nào (chăm sóc, dạy bảo, kể chuyện…), tình cảm của em với người đó.
Tuần ôn tập khép lại sách Tiếng Việt 2 Cánh diều. Chúc em ôn tập tốt và có một mùa hè thật vui!