Tháng 6/1929, một ông già râu tóc bạc trắng ghé Sài Gòn và khiến báo chí xứ Nam Kỳ chia làm hai phe: người tôn ông như bậc thầy tinh thần của châu Á, người chê ông sống như một nhà tư sản. Ông chính là Ta-go. R. Ta-go (Ra-bin-đra-nát Ta-go, Rabindranath Tagore, 1861 – 1941) là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ và nhà giáo dục người Ấn Độ, viết bằng tiếng Ben-gan, người châu Á đầu tiên đoạt giải Nô-ben Văn học (1913). Bài thơ Mây và sóng của ông có trong sách Ngữ văn lớp 6 và lớp 7.
Cậu út nhà Tha-cua ở Gia-ra-san-cô

| Tên gốc | Rabindranath Thakur (tiếng Ben-gan); Tagore là cách viết theo tiếng Anh của họ Thakur |
| Tên phiên âm | Ra-bin-đra-nát Ta-go; SGK viết R. Ta-go |
| Năm sinh – năm mất | 7/5/1861 – 7/8/1941 |
| Quê quán | Can-cút-ta (nay là Kolkata), xứ Ben-gan, Ấn Độ |
| Thể loại | Thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ca khúc, tiểu luận; hội họa |
| Tác phẩm tiêu biểu | Gi-tan-gia-li (Thơ Dâng, 1910), Trăng non, Người làm vườn, Balaka; tiểu thuyết Gô-ra, Ngôi nhà và thế giới |
| Giải thưởng | Nô-ben Văn học 1913 |
| Trong SGK hiện hành | Mây và sóng (Ngữ văn 6, 7); Bài thơ số 28 (Ngữ văn 12) |
Ông sinh ngày 7/5/1861 trong dinh thự Gia-ra-san-cô (Jorasanko) ở Can-cút-ta, là con út trong một gia đình rất đông con. Cha ông, Đê-ven-đra-nát Ta-go, là một thủ lĩnh của hội Bra-mô Xa-mát, phong trào cải cách Ấn Độ giáo ở xứ Ben-gan thế kỷ XIX. Mẹ mất khi ông còn nhỏ, cha thường đi xa, cậu bé lớn lên phần nhiều giữa những người giúp việc. Ngôi nhà ấy là một trung tâm văn hóa thu nhỏ: anh chị em ông có người là triết gia, nhạc sĩ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia; nhạc sĩ và nghệ sĩ ra vào thường xuyên.
Cậu ghét trường lớp đến mức gần như chỉ học ở nhà, với gia sư dạy đủ thứ từ toán, giải phẫu, tiếng Phạn đến bơi lội, đấu vật. Năm mười sáu tuổi, cậu làm một trò đùa văn chương: in một loạt bài thơ theo lối cổ dưới bút danh Bha-nu-xinh-ha (“Sư tử Mặt Trời”), giả làm di cảo của một thi sĩ thế kỷ XVII vừa được tìm thấy, và những người am hiểu thơ cổ trong vùng đã tin đó là thật.
Năm 1878, cha gửi ông sang Anh học để thành luật sư. Ông ghi danh học luật ở London rồi bỏ dở, dành thời gian đọc Sếch-xpia và nghe dân ca Anh, Ai-len, Xcốt-len. Năm 1880 ông về nước, không có bằng cấp nào. Ba năm sau, ông cưới Mri-na-li-ni Đê-vi theo sắp đặt của gia đình.
Mười năm quản lý điền trang bên sông Pát-ma
Từ năm 1890, ông được cha giao quản lý các điền trang của gia đình ở vùng Si-lai-đa-ha, nay thuộc Băng-la-đét. Ông đi lại trên một chiếc thuyền lớn dọc sông Pát-ma, gặp gỡ tá điền, thu tô, nghe dân ca của những người hát rong. Bản tiểu sử trên trang Giải Nô-ben nhận xét công việc này đưa ông đến gần những con người bình thường và khiến ông quan tâm hơn đến cải cách xã hội.
Đây cũng là những năm ông viết nhiều truyện ngắn nhất. Những truyện về làng quê Ben-gan nghèo khó, về phụ nữ, trẻ em và người làm thuê ấy được gom lại trong bộ Galpaguchchha (Chùm truyện), và giới nghiên cứu thường coi ông là người khai sinh truyện ngắn hiện đại bằng tiếng Ben-gan. Tập thơ Ma-na-xi (1890) và Con thuyền vàng (1894) cũng ra đời trong giai đoạn này.
Ngôi trường thử nghiệm ở San-ti-ni-ke-tan
Năm 1901, ông dọn về San-ti-ni-ke-tan, khu đất cha để lại ở Tây Ben-gan, lập một đạo viện có phòng cầu nguyện lát đá cẩm thạch, vườn cây, thư viện và một trường học thử nghiệm. Ông cho rằng dạy học đúng cách không phải là giảng giải cho hết mà là khơi dậy sự tò mò, một quan niệm hình thành từ chính tuổi thơ ghét trường lớp của ông.
Những năm đầu ở đây là chuỗi mất mát: vợ ông mất năm 1902, rồi hai người con, rồi người cha năm 1905. Trường học sống nhờ tiền thừa kế, tiền bán đồ trang sức gia đình và nhuận bút ít ỏi. Sau năm 1921, ngôi trường phát triển thành Đại học Vi-xva Bha-ra-ti, nơi ông muốn trở thành điểm gặp gỡ giữa văn hóa Ấn Độ và thế giới.
Gi-tan-gia-li và giải Nô-ben năm 1913
Tập Gi-tan-gia-li (Gitanjali, nghĩa là “lời dâng bằng ca khúc”, ở Việt Nam thường gọi là Thơ Dâng) in bằng tiếng Ben-gan năm 1910. Năm 1912, sang London, ông tự dịch một phần sang tiếng Anh dưới dạng thơ văn xuôi và đưa cho bạn bè đọc. Nhà thơ Ai-len W. B. Yeats viết lời tựa; Hội Ấn Độ ở London in một ấn bản giới hạn.
Tháng 11/1913, Viện Hàn lâm Thụy Điển trao cho ông giải Nô-ben Văn học. Lời tuyên dương nhấn mạnh những vần thơ tinh tế, tươi mới, đẹp đẽ mà chính ông đã chuyển sang tiếng Anh để chúng thành một phần của văn chương phương Tây. Ông là người Ấn Độ và người châu Á đầu tiên được nhận giải thưởng này. Cũng trong năm 1913, các tập Trăng non (The Crescent Moon) và Người làm vườn (The Gardener) ra mắt bằng tiếng Anh.
Trả lại tước hiệp sĩ sau vụ thảm sát năm 1919
Năm 1915, vua Anh George V phong ông tước hiệp sĩ. Năm 1919, quân Anh xả súng vào đám đông không vũ khí ở khu vườn Gia-li-an-oa-la Bác, thành phố Am-rít-xa. Ông viết thư cho phó vương Ấn Độ xin từ bỏ tước hiệu, nói rằng khi đồng bào bị làm nhục như thế thì huân chương chỉ càng làm nỗi nhục thêm chói mắt, và ông muốn đứng bên cạnh họ, không mang một danh hiệu đặc biệt nào.
Dù vậy, ông không phải người theo chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa thông thường. Ông phê phán chủ nghĩa dân tộc trong các bài diễn thuyết ở Nhật Bản và Mỹ những năm 1916 – 1917, tranh luận công khai với Gan-đi về nhiều vấn đề dù hai người là bạn. Từ năm 1878 đến 1932, ông đặt chân tới hơn ba mươi nước trên năm châu lục, gặp gỡ Anh-xtanh, Rô-manh Rô-lăng, Béc-na Sô…
Tác giả hai bài quốc ca, họa sĩ ở tuổi sáu mươi
Ông để lại khoảng 2.230 ca khúc, gọi chung là Rabindrasangit (ca khúc Ta-go). Hai trong số đó trở thành quốc ca của hai nước: Jana Gana Mana của Ấn Độ và Amar Shonar Bangla của Băng-la-đét. Đến nay ông vẫn là người duy nhất viết quốc ca cho hai quốc gia.
Khoảng sáu mươi tuổi, ông bắt đầu vẽ. Những bức tranh mực và màu nước của ông được triển lãm ở Pa-ri, London và nhiều thành phố châu Âu đầu những năm 1930. Những năm cuối đời, ông đau ốm kéo dài, có lần hôn mê. Ngày 30/7/1941, ông đọc cho người khác chép lại bài thơ cuối cùng. Ông mất ngày 7/8/1941, trong căn phòng trên lầu của chính ngôi nhà Gia-ra-san-cô nơi ông chào đời.
Ta-go và Việt Nam: chuyến ghé Sài Gòn tháng 6/1929
Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội coi chuyến ghé thăm Sài Gòn tháng 6/1929 là một dấu mốc trong giao lưu Ấn Độ – Việt Nam thế kỷ XX. Theo bài viết trên JSTOR Daily dựa vào nghiên cứu của Chi P. Pham, người đứng ra đón tiếp ông là Dương Văn Giáo, một nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa ở Nam Kỳ. Báo chí khi ấy chia làm hai phe: một bên ca ngợi ông như tiếng nói tinh thần của châu Á đang bị đô hộ; một bên chỉ trích lối sống sang trọng và chủ trương hòa hoãn của ông, có tờ còn chế giễu chuyện ông dự tiệc sâm banh.
Gần một thế kỷ sau, ông vẫn được đọc nhiều ở Việt Nam. Theo Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội, bức tượng bán thân Ta-go đặt tại Bảo tàng Văn học Việt Nam từ tháng 11/2011 là tượng đầu tiên của một nhà văn nước ngoài được dựng ở bảo tàng này.
Ta-go trong sách giáo khoa: Mây và sóng, Bài thơ số 28
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Mây và sóng | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 (Gõ cửa trái tim); Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 7 (Gia đình yêu thương) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Mây và sóng | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 2 – Bài 7 (Thơ) | Phân tích · Tóm tắt |
| Bài thơ số 28 (trích Người làm vườn) | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 (Những thế giới thơ), Thực hành đọc | — |
Mây và sóng vốn được viết bằng tiếng Ben-gan, sau đó chính tác giả chuyển sang tiếng Anh và in trong tập Trăng non. Bài thơ là lời em bé kể với mẹ về những người trên mây, trên sóng rủ em đi chơi, và trò chơi em tự nghĩ ra để được ở bên mẹ. Bản tiếng Anh của Ta-go đã thuộc phạm vi công cộng, chẳng hạn câu em bé nói với mẹ:
I shall be the cloud and you the moon.
Tạm dịch: con sẽ là mây và mẹ sẽ là trăng. Bản dịch tiếng Việt in trong sách giáo khoa còn được bảo hộ, nên muốn đọc trọn bài, em dùng sách. Khi ôn tập có thể tham khảo các mẫu mở bài Mây và sóng và kết bài Mây và sóng.
Bài thơ số 28 ở lớp 12 thuộc tập Người làm vườn, gồm những bài thơ tình viết theo lối thơ văn xuôi. So với giọng trẻ thơ của Mây và sóng, đây là một Ta-go khác: người đang yêu, đã phơi trải cả cuộc đời mình trước người yêu mà vẫn không được hiểu hết, vì trái tim và tình yêu không có bờ, có đáy để đo.
Xem thêm: