Những ý tưởng sáng tạo là bài đọc 2 của Bài 34 (Thiếu nhi đất Việt) trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 2, trang 134–135. Bài giải gồm Đọc hiểu, Luyện tập (nói lời thích thú, tán thành) và các mục ở trang 135–137: Kể chuyện – Trao đổi Thần đồng Lương Thế Vinh, Bài viết 2, Tự đọc sách báo và Tự đánh giá.

Đọc: Những ý tưởng sáng tạo (trang 134)
Đây là bài văn thông tin (SGK ghi: Minh Hoà tổng hợp) giới thiệu cuộc thi Ý tưởng trẻ thơ của các bạn học sinh tiểu học. Đoạn đầu cho biết cuộc thi bắt đầu có từ năm 2008, diễn ra hằng năm và nhận được rất nhiều tranh, mô hình. Phần sau giới thiệu ba bức tranh dự thi kèm tên các bạn vẽ:
- Tranh 1 – Cân xử lí độc hại (Trần Minh Khoa): chiếc cân giúp phát hiện thực phẩm, sản phẩm không an toàn.
- Tranh 2 – Mực cứu hộ (Nông Bích Ngọc, Trần Bảo Ngọc): tàu ngầm hình con mực, len vào mọi ngóc ngách để cứu người gặp nạn khi tàu chìm.
- Tranh 3 – Cây do thám (Nguyễn Long Nhật): cái cây quan sát mọi chuyện xung quanh, báo cho bộ đội biết khi kẻ địch có âm mưu xấu.
Từ ngữ SGK giải nghĩa:
- Ý tưởng: điều mới mẻ nảy ra trong đầu.
- Sáng chế: tạo ra vật mới (máy mới, thuốc mới, chất mới,…).
Gợi ý đọc: đọc rõ ràng, mạch lạc; đọc đúng các con số (năm 2008, hàng trăm nghìn); nhấn giọng tên từng ý tưởng.
Nội dung chính bài Những ý tưởng sáng tạo
Bài đọc giới thiệu cuộc thi Ý tưởng trẻ thơ và những bức tranh độc đáo của học sinh tiểu học. Qua đó, em thấy thiếu nhi Việt Nam rất thông minh, giàu tưởng tượng, luôn mơ ước làm ra những sáng chế có ích cho con người và đất nước.
Đọc hiểu (trang 135)
Câu 1 (trang 135): Cuộc thi Ý tưởng trẻ thơ dành cho ai?
Trả lời: Người dự thi là các bạn học sinh tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5).
Câu 2 (trang 135): Học sinh cả nước hưởng ứng cuộc thi như thế nào?
Trả lời: Học sinh cả nước hưởng ứng rất sôi nổi. Mỗi năm, các bạn ở khắp các trường tiểu học gửi về cuộc thi hàng trăm nghìn tác phẩm (tranh vẽ hoặc mô hình), mỗi tác phẩm là một ý tưởng mới lạ, độc đáo.
Câu 3 (trang 135): Mỗi bức tranh trong bài thể hiện một ý tưởng sáng tạo độc đáo. Em thích ý tưởng nào? Vì sao?
Trả lời: Em chọn một ý tưởng và nói lí do, ví dụ:
- Em thích Mực cứu hộ vì chiếc tàu ngầm này có thể chui vào những chỗ hẹp trong con tàu bị chìm, cứu được nhiều người.
- Hoặc: Em thích Cân xử lí độc hại vì nhờ chiếc cân, mẹ em đi chợ sẽ biết món ăn nào an toàn, cả nhà luôn khoẻ mạnh.
Luyện tập (trang 135)
Câu 1 (trang 135): Hãy nói 1 – 2 câu thể hiện sự thích thú của em đối với cuộc thi Ý tưởng trẻ thơ.
Trả lời: Cuộc thi Ý tưởng trẻ thơ thú vị quá! Em mong năm sau được vẽ tranh gửi đến cuộc thi.
Câu 2 (trang 135): Hãy nói 1 – 2 câu thể hiện sự tán thành của em đối với sáng kiến của các bạn nhỏ được giới thiệu trong bài Những ý tưởng sáng tạo.
Trả lời: Em rất đồng ý với ý tưởng của các bạn! Nếu những chiếc cân, chiếc tàu ngầm, cái cây ấy được làm thật thì cuộc sống của mọi người sẽ an toàn hơn nhiều.
Kể chuyện – Trao đổi (trang 135)
Câu 1 (trang 135): Nghe và kể lại mẩu chuyện sau: Thần đồng Lương Thế Vinh (Chuyện hay nhớ mãi)
SGK giải nghĩa: Lương Thế Vinh: Trạng nguyên Việt Nam, quê ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, sinh vào khoảng năm 1440, không rõ năm mất.
Gợi ý: a) Từ nhỏ, Lương Thế Vinh đã nổi tiếng về điều gì? b) Trong câu chuyện, có sự việc gì đặc biệt xảy ra? c) Cậu bé Vinh đã thể hiện trí thông minh như thế nào? d) Vì sao Lương Thế Vinh được gọi là Trạng Lường?
Trả lời: Câu chuyện không in trong SGK, thầy cô sẽ kể. Em dựa vào 3 tranh và gợi ý để kể:
- a) Ngay từ bé, Lương Thế Vinh đã được mọi người biết đến là cậu bé rất sáng dạ, thông minh.
- b) Một hôm, Vinh đang chơi với bạn bè dưới gốc cây thì có bà cụ gánh bưởi đi ngang, chẳng may bị vấp ngã. Bưởi lăn khắp nơi, vài quả rơi tọt xuống một cái hố sâu cạnh đường. Bà cụ cuống quýt, không biết làm sao lấy lên.
- c) Vinh nghĩ ra cách: rủ các bạn đi múc nước đổ vào hố. Nước dâng dần, những quả bưởi nhẹ nổi lên theo, các bạn chỉ việc nhặt trả bà. Ai chứng kiến cũng tấm tắc khen Vinh thông minh.
- d) Lớn lên, Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên. Ông rất giỏi tính toán, đo đạc, viết sách dạy toán được dùng ở nước ta suốt mấy trăm năm. Vì thế, người ta gọi ông là Trạng Lường (lường nghĩa là đo, tính).
Câu 2 (trang 135): Nói 1 – 2 câu thể hiện sự ngạc nhiên, thích thú hoặc thán phục của em khi nghe câu chuyện trên.
Trả lời: Ồ, đổ nước vào hố để bưởi tự nổi lên, cách này hay thật! Cậu bé Vinh mới tí tuổi mà đã thông minh như vậy, đúng là thần đồng!
Bài viết 2 (trang 136)
Câu 1 (trang 136): Chọn 1 trong 2 đề:
a) Kể về một nhân vật thiếu nhi trong các truyện em đã học hoặc đã đọc, đã xem qua phim ảnh, qua chương trình truyền hình,…
b) Kể về một bạn cùng xóm phố.
Gợi ý: – Nhân vật đó (bạn đó) là ai? – Nhân vật đó (bạn đó) có gì đáng yêu, đáng quý? – Nêu một hành động cụ thể của nhân vật đó (bạn đó) khiến em nhớ mãi. – Tình cảm của em đối với nhân vật đó (bạn đó).
Trả lời: Ví dụ em chọn đề a, kể về Trần Quốc Toản:
- Nhân vật em muốn kể là Trần Quốc Toản trong truyện Bóp nát quả cam.
- Quốc Toản đáng quý vì tuổi nhỏ mà đã biết lo việc nước, rất dũng cảm.
- Em nhớ mãi lúc Quốc Toản xô lính gác, chạy xuống bến xin vua cho đánh giặc, rồi vì căm giận mà bóp nát quả cam.
- Em rất khâm phục và muốn học theo lòng yêu nước của Quốc Toản.
Câu 2 (trang 136): Dựa vào những điều đã nói, viết 4 – 5 câu về nhân vật thiếu nhi mà em biết hoặc về bạn của em.
SGK có đoạn viết mẫu của một bạn về Quỳnh Anh – người bạn ở gần nhà.
Trả lời: Bài tham khảo (đề b):
Bạn Minh nhà ở cạnh nhà em, hai đứa cùng học lớp 2B. Minh có khuôn mặt tròn, lúc nào cũng cười tươi. Bạn rất chăm chỉ và tốt bụng. Có lần trời mưa to, em quên mang áo mưa, Minh liền đưa em đi chung áo mưa của bạn về tận nhà. Em rất quý Minh và mong hai đứa mãi là bạn thân.
Tự đọc sách báo: Đọc sách báo viết về thiếu nhi Việt Nam (trang 136–137)
Câu 1 (trang 136): Em hãy mang đến lớp một quyển sách (tờ báo) viết về thiếu nhi Việt Nam. Giới thiệu với các bạn quyển sách (tờ báo) của em: tên sách, tên tác giả, tên nhà xuất bản, tranh bìa,…
SGK minh hoạ bìa: Thánh Gióng, tuyển truyện Nguyễn Huy Tưởng, Trẻ con hát trẻ con chơi, tuyển truyện Võ Quảng.
Trả lời: Mẫu giới thiệu: Tớ giới thiệu cuốn Thánh Gióng. Sách kể về cậu bé làng Gióng lên ba tuổi vẫn chưa biết nói, khi giặc đến thì vươn vai thành tráng sĩ, cưỡi ngựa sắt đánh tan quân thù. Tranh bìa vẽ Gióng mặc áo giáp, phi ngựa giữa trận. Sách dày, chữ to, tranh màu rất đẹp.
Câu 2 (trang 137): Tự đọc một truyện (bài thơ, bài báo) em thích.
SGK in bài thơ mẫu Đi tàu hoả (Trích) của nhà thơ Trần Đăng Khoa.
Trả lời: Em đọc bài thơ mẫu hoặc một truyện, bài báo về thiếu nhi. Bài Đi tàu hoả kể chuyến đi tàu vui của bạn nhỏ và mong ước được tàu đưa đi khắp đất nước.
Câu 3 (trang 137): Đọc lại (hoặc kể lại) cho các bạn nghe một truyện (hoặc một bài thơ, bài báo) em vừa đọc.
Trả lời: Em đọc to, rõ một đoạn mình thích (hoặc kể lại bằng lời của mình), sau đó nói thêm em thích điều gì. Ví dụ: Tớ thích nhất khổ thơ cuối bài Đi tàu hoả, vì bạn nhỏ muốn được đi khắp nước, rất yêu Tổ quốc.
Tự đánh giá (trang 137)
Sau các Bài 32, 33 và 34, em hoàn chỉnh bảng trong SGK và tự đánh giá:
| Đã biết những gì? | Đã làm được những gì? |
| a) Các chữ hoa Q, V (kiểu 2) | a) Viết các chữ hoa Q, V (kiểu 2) |
| b) Câu hỏi Để làm gì? | b) Hỏi và trả lời câu hỏi Để làm gì? |
| c) Cách thể hiện sự ngạc nhiên, thán phục | c) Thể hiện sự ngạc nhiên, thán phục |
| d) Truyện, thơ, văn miêu tả, thông tin, tranh ảnh về người Việt Nam, thiếu nhi Việt Nam | d) Quan sát, nhận xét về tranh ảnh và viết về một người lao động, một bạn thiếu nhi |
Ô bên phải dòng a, b SGK để dấu ba chấm cho em tự điền. Việc nào chưa chắc, em luyện thêm.
Bài đọc 1 của Bài 34 là Bóp nát quả cam (trang 130–131). Một truyện khác về sự sáng tạo của bạn nhỏ em đã học là Sáng kiến của bé Hà lớp 2 Cánh diều.