Rơm tháng Mười là bài đọc 2 của Bài 30 (Quê hương của em) trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 2, trang 102–103. Bài giải gồm Đọc hiểu, Luyện tập (từ ngữ tả màu sắc, mùi thơm, hoạt động) và các mục tiếp theo ở trang 103–105: Trao đổi về trò chơi, món ăn quê hương, Bài viết 2 và Tự đọc sách báo.

Đọc: Rơm tháng Mười (trang 102)
Bài văn viết theo Nguyễn Phan Hách, là lời kể của một người nhớ lại tuổi thơ ở làng quê, có 3 đoạn. Đoạn 1: nhớ mùa gặt, nắng hanh tháng Mười và rơm vàng thơm phủ kín lối đi trong làng. Đoạn 2: trẻ con nô đùa, lăn lộn trên đường rơm, sân rơm. Đoạn 3: tác giả làm chiếc lều rơm nhỏ, nằm trong đó ngắm trời xanh ngập nắng, thấy cả những sợi tơ trời trắng tinh lơ lửng. Tranh trang 102: mấy bạn nhỏ chơi trốn tìm quanh đống rơm lớn cạnh gốc cây.
Từ ngữ SGK giải nghĩa:
- Rơm: phần trên của thân cây lúa đã gặt và đập hết hạt.
- Nắng hanh: nắng khô và hơi lạnh.
- Hổ phách: nhựa thông hoá đá, màu vàng nâu, trong suốt.
- Dệ tường (vệ tường): rìa tường, mép tường.
Gợi ý đọc: đọc chậm rãi, giọng tha thiết như đang kể lại kỉ niệm đẹp; nhấn giọng ở các từ tả màu sắc, mùi hương (vàng óng ánh, ngầy ngậy, ấm sực) và các từ tả trò chơi (lăn lộn, vật nhau).
Nội dung chính bài Rơm tháng Mười
Bài văn là kỉ niệm tuổi thơ về mùa gặt tháng Mười ở làng quê: nắng hanh vàng trong, rơm phủ vàng đường làng, toả mùi thơm, trẻ con thoả sức vui chơi trên rơm. Qua đó, tác giả bày tỏ tình yêu và nỗi nhớ quê hương.
Đọc hiểu (trang 103)
Câu 1 (trang 103): Đọc câu mở đầu và cho biết: Tác giả bài đọc viết về kỉ niệm gì?
Trả lời: Tác giả viết về kỉ niệm những mùa gặt thời thơ ấu ở làng quê.
Câu 2 (trang 103): Tìm những câu văn:
a) Tả vẻ đẹp của nắng tháng Mười
b) Tả vẻ đẹp của rơm tháng Mười
Trả lời:
- a) Câu thứ hai của đoạn 1: “Nhớ cái nắng hanh tháng Mười trong như hổ phách.” (nắng trong và vàng như hổ phách). Ở đoạn 3 cũng có ý tả bầu trời ngập nắng ấm tươi vàng.
- b) Hai câu cuối của đoạn 1 (lối đi trong làng phủ rơm màu vàng óng ánh; rơm phơi khô toả hương thơm ngầy ngậy) và câu thứ hai của đoạn 2 (ví rơm trải khắp ngõ, khắp bờ tre giống một tấm thảm màu vàng rất to và ấm sực).
Câu 3 (trang 103): Trẻ con trong làng chơi những trò chơi gì trên những con đường, sân, ngõ đầy rơm?
Trả lời: Trẻ con chơi đủ trò trên rơm:
| Trò vận động | chạy nhảy, nô đùa; lăn lộn; vật nhau |
| Trò nghịch ngợm | đi lộn đầu xuống đất (giống trồng cây chuối) |
| Nghỉ ngơi | nằm lăn ra sưởi nắng |
Riêng bạn nhỏ kể chuyện còn làm lều rơm để nằm ngắm trời.
Luyện tập (trang 103)
Câu 1 (trang 103): Tìm trong bài đọc các từ ngữ:
a) Tả màu sắc, mùi thơm của rơm tháng Mười
b) Tả hoạt động của các bạn nhỏ
Trả lời:
| a) Màu sắc, mùi thơm của rơm | vàng óng ánh, (tấm thảm) vàng; thơm ngầy ngậy, ấm sực |
| b) Hoạt động của các bạn nhỏ | chạy nhảy, nô đùa, nằm lăn ra, sưởi nắng, lăn lộn, vật nhau, đi lộn đầu xuống đất |
Câu 2 (trang 103): Đặt câu với một từ ngữ em vừa tìm được ở bài tập 1.
Trả lời: Ví dụ:
- Cánh đồng lúa chín vàng óng ánh dưới nắng.
- Nồi xôi mẹ nấu thơm ngầy ngậy.
- Giờ ra chơi, chúng em nô đùa dưới gốc bàng.
- Đàn mèo con lăn lộn trên tấm thảm.
Trao đổi (trang 103–104)
Câu 1 (trang 103): Thảo luận nhóm:
a) Nói về một trò chơi của thiếu nhi ở quê em: Đó là trò chơi gì? Ôn lại cách chơi để thực hành trước lớp. (SGK có tranh: chơi chuyền, chơi bịt mắt bắt dê, chơi kéo co.)
b) Nói về một loại bánh hay một món ăn của quê hương mà em yêu thích. (SGK có ảnh: bánh giò, bánh xu xê, bánh cuốn, bánh bèo.)
Trả lời: Ví dụ:
- a) Ở quê tớ hay chơi bịt mắt bắt dê. Một bạn bị bịt mắt làm người đi bắt, các bạn khác đứng thành vòng tròn, vừa kêu “be be” vừa chạy tránh. Bạn bịt mắt nghe tiếng để đoán chỗ và bắt; bắt được ai thì bạn đó phải bịt mắt thay. Khi chơi, không được chạy ra khỏi vòng, không xô đẩy nhau.
- b) Tớ thích bánh cuốn quê nội. Bánh làm từ bột gạo tráng mỏng, cuộn nhân thịt và mộc nhĩ. Ăn kèm hành phi, chả lụa và nước chấm chua ngọt, bánh mềm, thơm ơi là thơm.
Câu 2 (trang 104): Đại diện các nhóm chia sẻ về kết quả trao đổi.
Trả lời: Mỗi nhóm cử một bạn nói trước lớp: tên trò chơi (hoặc món ăn), cách chơi (hoặc làm bằng gì, ngon thế nào). Có thể mời vài bạn lên chơi thử trò chơi để cả lớp cùng xem.
Bài viết 2 (trang 104)
Câu 1 (trang 104): Chọn 1 trong 2 đề sau:
a) Viết 4 – 5 câu giới thiệu một trò chơi của thiếu nhi ở quê em. Gợi ý: – Đó là trò chơi gì? – Cách chơi thế nào? – Em thường chơi với ai? – Em thích trò chơi đó như thế nào? (Tranh: chơi trốn tìm.)
b) Viết 4 – 5 câu giới thiệu một loại bánh hoặc một món ăn của quê hương. Gợi ý: – Đó là bánh gì (món ăn gì)? – Bánh đó (món ăn đó) làm bằng gì? – Bánh đó (món ăn đó) ngon như thế nào? (Ảnh: bánh trôi.)
Trả lời: Bài tham khảo:
- Đề a: Trò chơi em thích nhất là trốn tìm. Một bạn úp mặt vào gốc cây đếm từ một đến hai mươi, các bạn khác chạy đi trốn sau đống rơm, bụi chuối. Đếm xong, bạn ấy đi tìm; ai bị tìm thấy đầu tiên sẽ phải đi tìm ở lượt sau. Chiều nào em cũng chơi trốn tìm với các bạn trong xóm. Trò chơi vừa vui vừa giúp chúng em nhanh nhẹn hơn.
- Đề b: Món bánh em thích là bánh trôi. Bánh nặn từ bột gạo nếp, bên trong có viên đường phên nhỏ. Bà thả bánh vào nồi nước sôi, khi bánh nổi lên là chín. Những viên bánh trắng tròn, rắc vừng rang, cắn vào thấy dẻo, ngọt và thơm. Mỗi dịp Tết Hàn thực, cả nhà em lại quây quần nặn bánh trôi.
Câu 2 (trang 104): Mỗi tổ chuẩn bị một hoạt động trong Ngày hội quê hương sắp tới:
a) Sưu tầm tranh ảnh; viết, vẽ về quê hương.
b) Giới thiệu 1 – 2 trò chơi của thiếu nhi ở quê hương.
c) Giới thiệu 1 – 2 món ăn của quê hương.
Trả lời: Cả tổ bàn nhau chọn một việc và chia nhau làm: bạn sưu tầm ảnh, bạn vẽ tranh, bạn viết đoạn giới thiệu; hoặc tập trước một trò chơi dân gian (kéo co, rồng rắn lên mây…); hoặc chuẩn bị ảnh, lời giới thiệu một món ăn quê (bánh chưng, bánh cuốn…). Sản phẩm sẽ dùng ở Góc sáng tạo của Bài 31.
Tự đọc sách báo: Đọc sách báo viết về quê hương (trang 105)
Câu 1 (trang 105): Em hãy mang đến lớp quyển sách, tờ báo viết về quê hương. Giới thiệu sách, báo với các bạn trong nhóm.
Tranh gợi ý: bìa các cuốn Quê nội, Xóm bờ giậu (Trần Đức Tiến), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Quê ngoại.
Trả lời: Ví dụ: Tớ mang đến cuốn Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi. Truyện kể về cậu bé An lưu lạc ở vùng rừng U Minh, gặp nhiều người tốt và thấy cảnh sông nước, rừng tràm rất đẹp. Tớ thích đoạn tả những con vật lạ ở rừng.
Câu 2 (trang 105): Tự đọc một truyện (hoặc một bài thơ, bài báo) em thích.
SGK in bài thơ mẫu Em yêu nhà em của Đoàn Thị Lam Luyến (12 dòng lục bát), kể những điều thân thương quanh nhà: chim sẻ bên thềm, gà mái hoa mơ, chuối, ngô, ao muống, đầm sen, ếch con, dế mèn…
Trả lời: Em đọc bài rồi ghi vào phiếu đọc sách. Ví dụ với bài mẫu: Tên bài: Em yêu nhà em. Tác giả: Đoàn Thị Lam Luyến. Điều em thích: các con vật, cây cối quanh nhà được gọi như người (nàng gà mái, bà chuối, ông ngô), nghe rất gần gũi. Bài thơ cho em thấy không nơi nào vui bằng nhà mình.
Câu 3 (trang 105): Đọc lại (hoặc kể lại) cho các bạn nghe một truyện (hoặc một đoạn truyện, bài thơ, bài báo) em vừa đọc.
Trả lời: Em đọc to, rõ, ngắt hơi theo nhịp chẵn (hai tiếng một) của thơ lục bát; nếu kể truyện thì kể bằng lời của mình, nói được nhân vật em thích và vì sao.
Bài đọc 1 của Bài 30 là bài thơ Bé xem tranh (trang 98–101). Mùa gặt ở quê còn được tả trong bài thơ Mùa lúa chín lớp 2 Cánh diều (Bài 22).