Câu hỏi đầu tiên của Ôn tập học kì II Ngữ văn 9 Kết nối tri thức không gói trong tập hai: em phải xếp các tác giả, tác phẩm Việt Nam đã học suốt năm lớp 9 vào hai thời kì trung đại và hiện đại, từ Nguyễn Dữ đến Lưu Quang Vũ. Phần ôn tập in ở trang 131–137 sách tập hai, với bảy câu hệ thống kiến thức; sau đó là hai phiếu luyện tập dựng trên ngữ liệu ngoài sách: bài thơ Bến đò trưa hè của Anh Thơ và bài phát biểu của Ma-la-la tại Liên hợp quốc. Trang này giải đủ 26 câu có đánh số cùng đề viết, đề nói của hai phiếu, kèm bảng văn bản Bài 6–10 và một đề kiểm tra tự soạn có đáp án. Mục lục các bài khác: Ngữ văn 9 Kết nối tri thức.

Phần A – Ôn tập kiến thức: 7 câu (trang 131–132)
Mục tiêu sách nêu: hệ thống hóa thể loại văn bản, tiếng Việt, kiểu bài viết, bài nói của tập hai và dùng kĩ năng cả năm để làm bài tổng hợp. Ba câu đầu đòi lập bảng nên lời giải trình bày sẵn bằng bảng.
Câu 1 (trang 131): Bảng tác giả, tác phẩm Việt Nam theo thời kì văn học
Trong Ngữ văn 9, em đã được học các tác phẩm văn học Việt Nam gồm nhiều thể loại, được sáng tác trong các thời kì, bối cảnh khác nhau. Vận dụng tri thức văn học và hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử, hãy lập bảng tóm tắt hoặc sơ đồ liệt kê các tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong mỗi thời kì (làm vào vở), theo mẫu: Thời kì văn học – Tác giả – Tác phẩm – Thể loại.
Trả lời:
| Thời kì | Tác giả | Tác phẩm | Thể loại |
|---|---|---|---|
| Trung đại (thế kỉ X – cuối thế kỉ XIX) | Nguyễn Dữ | Chuyện người con gái Nam Xương | Truyện truyền kì (chữ Hán) |
| Đặng Trần Côn | Nỗi niềm chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm, bản dịch Nôm) | Ngâm khúc song thất lục bát | |
| Nguyễn Du | Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều) | Truyện thơ Nôm | |
| Nguyễn Đình Chiểu | Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga | Truyện thơ Nôm | |
| Hồ Xuân Hương | Tự tình (bài 2) | Thơ Nôm Đường luật | |
| Nguyễn Khuyến | Khóc Dương Khuê | Song thất lục bát | |
| Hiện đại (đầu thế kỉ XX – nay) | Phan Bội Châu | Bài ca chúc Tết thanh niên (1927) | Hát nói |
| Nguyễn Bính | Mưa xuân (1936) | Thơ bảy chữ | |
| Bích Khê | Tiếng đàn mưa | Song thất lục bát | |
| Nam Cao | Lão Hạc (trích, bản sách 2026) | Truyện ngắn | |
| Trần Mai Ninh | Tình sông núi | Thơ tự do | |
| Lưu Quang Vũ | Tiếng Việt | Thơ tám chữ | |
| Phạm Cao Củng | Ba viên ngọc bích | Truyện trinh thám | |
| Nguyễn Thị Ngọc Hải | Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời | Kí chân dung | |
| Thi Sảnh | Yên Tử, núi thiêng | Văn bản thông tin |
Văn trung đại viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, ưa ước lệ, điển tích; từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ mở đường cho truyện ngắn, Thơ mới, kí.
Câu 2 (trang 131): So sánh truyện trinh thám với truyện truyền kì, truyện thơ Nôm
Truyện trinh thám có đặc điểm gì khác biệt so với truyện truyền kì và truyện thơ Nôm? Hãy lập bảng so sánh đặc điểm của các thể loại này (làm vào vở), theo các cột: Nguồn gốc thể loại – Kiểu nhân vật – Cốt truyện.
Trả lời:
| Thể loại | Nguồn gốc thể loại | Kiểu nhân vật | Cốt truyện |
|---|---|---|---|
| Truyện truyền kì | Bắt nguồn từ Trung Quốc, được nhà văn trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán (Truyền kì mạn lục, thế kỉ XVI). | Người trần sống cạnh thần tiên, ma quỷ; thường mang số phận oan khuất. | Thực và kì ảo đan xen; kết thúc hay mở ra cõi khác (Vũ Nương hiện về giữa dòng rồi biến mất). |
| Truyện thơ Nôm | Hình thành ở Việt Nam, nở rộ thế kỉ XVIII – XIX, viết bằng lục bát chữ Nôm; có truyện mượn cốt truyện Trung Quốc (Truyện Kiều), có truyện tác giả tự dựng (Truyện Lục Vân Tiên). | Hai tuyến thiện – ác khá rõ; nhân vật chính được lí tưởng hóa. | Thường theo mô hình gặp gỡ – chia li – đoàn tụ, nhiều biến cố. |
| Truyện trinh thám | Ra đời ở phương Tây thế kỉ XIX, gắn với đô thị và khoa học điều tra. | Người điều tra (Sơ-lốc Hôm, ngài Ét-uốt), người trợ giúp (Oát-xơn), nghi phạm, nạn nhân, hung thủ giấu mặt. | Vụ án – lần theo manh mối – suy luận – phá án; bí mật giữ đến cuối, bất ngờ mà hợp lí. |
Khác biệt cốt lõi: trinh thám mời người đọc cùng suy luận bằng lí trí, còn cái lạ của truyền kì đến từ cõi siêu nhiên, của truyện thơ Nôm đến từ số phận nhân vật.
Câu 3 (trang 131): Danh mục các bài thơ đã học ở lớp 9
Lập danh mục và tóm tắt đặc điểm nghệ thuật, nội dung của các bài thơ đã học ở lớp 9 (làm vào vở), theo mẫu: Tên tác phẩm – Tác giả; Thể thơ; Đề tài, cảm hứng chủ đạo; Nét độc đáo về nghệ thuật và nội dung.
Trả lời:
| Tác phẩm – Tác giả | Thể thơ | Đề tài, cảm hứng chủ đạo | Nét độc đáo |
|---|---|---|---|
| Nỗi niềm chinh phụ – Đặng Trần Côn | Song thất lục bát | Chia li thời chiến; thương người chinh phụ | Tả cảnh ngụ tình, điệp ngữ, nhịp thơ trầm buồn. |
| Tiếng đàn mưa – Bích Khê | Song thất lục bát | Mưa hóa thành nhạc; cảm hứng lãng mạn | Điệp thanh, điệp vần dày đặc. |
| Tự tình (bài 2) – Hồ Xuân Hương | Thất ngôn bát cú (chữ Nôm) | Duyên phận người phụ nữ; buồn tủi mà không cam chịu | Từ thuần Việt táo bạo, đảo ngữ, động từ mạnh. |
| Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ | Tám chữ | Tiếng mẹ đẻ; tự hào, biết ơn | Hình ảnh đời thường nối tiếng Việt với lịch sử dân tộc. |
| Mưa xuân – Nguyễn Bính | Bảy chữ | Tình yêu đôi lứa nơi làng quê ngày hội chèo | Lời tự tình của cô gái, giọng gần ca dao. |
| Bài ca chúc Tết thanh niên – Phan Bội Châu | Hát nói | Thanh niên và vận nước | Câu dài ngắn linh hoạt, chen chữ Hán, giọng thúc giục. |
| Tình sông núi – Trần Mai Ninh | Tự do | Quê hương Nam Trung Bộ và Tổ quốc | Chuỗi địa danh, động từ mạnh, điệp khúc câu hỏi tu từ. |
Câu 4 (trang 132): Đặc điểm văn bản nghị luận và văn bản thông tin trong tập hai
Nêu ngắn gọn đặc điểm của các văn bản nghị luận và văn bản thông tin trong các bài học của Ngữ văn 9, tập hai.
Trả lời:
- Nghị luận (Bài 7, 8, 10): luận đề rõ, luận điểm được chứng minh bằng lí lẽ, bằng chứng. Hai bài phát biểu ở Bài 8 (Mác-két, Gu-tê-rét) bàn vấn đề toàn cầu, đặt số liệu khách quan cạnh cảm xúc và lời kêu gọi, xưng hô trực tiếp với người nghe. Nghị luận văn học ở Bài 7, 10 lấy bằng chứng là câu thơ, tác phẩm, sự kiện văn học.
- Thông tin (Bài 9, 10): giới thiệu danh lam, di tích, hiện tượng văn hóa hoặc ghi một cuộc phỏng vấn. Thông tin chính xác, sắp xếp theo không gian, thời gian hay quan hệ nhân quả; có thể xen miêu tả, kể sự tích, biểu cảm, dùng ảnh. Bài phỏng vấn triển khai vấn đề qua chuỗi câu hỏi – trả lời.
Câu 5 (trang 132): Kiến thức tiếng Việt mới của tập hai
Tóm tắt các kiến thức tiếng Việt mới mà em đã được học trong các bài học của Ngữ văn 9, tập hai.
Trả lời:
| Bài | Kiến thức | Điều cần nắm, ví dụ |
|---|---|---|
| 6, 8 | Các kiểu câu ghép, phương tiện nối các vế; lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép | Đẳng lập: các vế ngang hàng, nối bằng và, rồi, nhưng hoặc dấu câu. Chính phụ: vế chính – vế phụ, nối bằng vì… nên, nếu… thì, tuy… nhưng. Ví dụ: Vì trời tạnh mưa nên bọn trẻ ùa ra sân. |
| 7 | Nghĩa của từ ngữ, biện pháp tu từ; sự phát triển của từ vựng | Từ cũ thêm nghĩa mới (theo ẩn dụ, hoán dụ) hoặc xuất hiện từ ngữ mới, từ mượn. Ví dụ: chuột → chuột máy tính; thương mại điện tử. |
| 8 | Tên viết tắt các tổ chức quốc tế | Thường ghép chữ cái đầu tên tiếng Anh (UNESCO, WHO, ASEAN); lần đầu dùng nên chú thích tên đầy đủ. |
| 9 | Biến đổi và mở rộng cấu trúc câu | Đổi trật tự từ, chuyển chủ động ↔ bị động, rút cụm chủ – vị thành cụm danh từ; thêm trạng ngữ, mở rộng thành phần bằng cụm từ. Ví dụ: Người dân giữ gìn ngôi đình. → Ngôi đình được người dân giữ gìn. |
Bài 10 học theo dự án đọc sách, không có mục Thực hành tiếng Việt.
Câu 6 (trang 132): Các kiểu bài viết và yêu cầu (lập sơ đồ)
Nêu các kiểu bài viết, yêu cầu của từng kiểu bài mà em đã thực hành ở Ngữ văn 9, tập hai. Hãy lập một sơ đồ phù hợp để tóm tắt những nội dung đó.
Trả lời:
Sơ đồ hình cây, gốc là các kiểu bài viết học kì II, tỏa năm nhánh:
- Truyện kể sáng tạo (Bài 6) → sự kiện, chi tiết mới do mình tưởng tượng; nhân vật có nét riêng; ngôi kể hợp lí; có thể cài bí ẩn, kết thúc bất ngờ.
- Bài thơ tám chữ và đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ tám chữ (Bài 7) → thơ: dòng tám chữ, vần, nhịp, hình ảnh riêng; đoạn văn: nêu tên bài, ấn tượng chung, cảm nghĩ có dẫn chứng, câu kết.
- Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (Bài 8) → thực trạng, nguyên nhân, tác động, giải pháp khả thi, bằng chứng tin cậy, phản hồi ý kiến khác.
- Thuyết minh danh lam, di tích (Bài 9) → vị trí, lịch sử, đặc điểm, giá trị; xen miêu tả, kể; có ảnh, ghi nguồn.
- Quảng bá giá trị của sách (Bài 10) → văn bản quảng cáo ngắn (áp phích, tờ rơi, bài đăng): thông tin sách, điểm hấp dẫn, lời mời đọc.
Câu 7 (trang 132): Đề tài nói và nghe; bài nói thành công nhất và lí do
Nêu những đề tài nói và nghe mà em đã thực hiện trong học kì II. Em thực hiện thành công nhất với đề tài nào? Do đâu em thành công với bài nói đó?
Trả lời:
Năm đề tài: kể một câu chuyện tưởng tượng (Bài 6); thảo luận về một vấn đề đời sống của lứa tuổi gợi ra từ tác phẩm văn học (Bài 7); trình bày ý kiến về một sự việc có tính thời sự (Bài 8); thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (Bài 9); Ngày hội với sách (Bài 10).
Ví dụ trả lời: em nói tốt nhất ở Bài 9, giới thiệu ngôi đền ở quê. Em đã đến tận nơi, chụp ảnh, hỏi chuyện người trông đền nên có chi tiết riêng; sắp ý theo lối đi của khách từ cổng vào gian thờ; tập trước gương hai lần cho vừa năm phút.
Văn bản đọc chính Bài 6–10 và bài soạn tương ứng
| Bài – chủ điểm | Văn bản (tác giả) | Loại, thể loại |
|---|---|---|
| 6. Giải mã những bí mật | Ba chàng sinh viên (A-thơ Cô-nan Đoi-lơ) | Truyện trinh thám |
| Bài hát đồng sáu xu (A-ga-thơ Crít-xti) | Truyện trinh thám | |
| Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời (Nguyễn Thị Ngọc Hải) | Kí chân dung | |
| 7. Hồn thơ muôn điệu | Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) | Thơ tám chữ |
| Mưa xuân (Nguyễn Bính) | Thơ bảy chữ | |
| Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ Vội vàng (Phan Huy Dũng) | Nghị luận văn học | |
| 8. Tiếng nói của lương tri | Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (Gác-xi-a Mác-két) | Nghị luận xã hội |
| Biến đổi khí hậu – mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta (Gu-tê-rét) | Nghị luận (bài phát biểu) | |
| Bài ca chúc Tết thanh niên (Phan Bội Châu) | Hát nói | |
| 9. Đi và suy ngẫm | Yên Tử, núi thiêng (Thi Sảnh) | Văn bản thông tin |
| Văn hoá hoa – cây cảnh (Trần Quốc Vượng) | Văn bản thông tin | |
| Tình sông núi (Trần Mai Ninh) | Thơ tự do | |
| 10. Văn học – lịch sử tâm hồn | Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại | Nghị luận văn học |
| Văn hoá đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số | Văn bản thông tin (phỏng vấn) |
Thực hành đọc: Ba viên ngọc bích (Phạm Cao Củng), Miền quê (Nguyễn Khoa Điềm), Chuẩn bị hành trang (Vũ Khoan), Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội. Hai văn bản Bài 10 thuộc chặng Thách thức đầu tiên: Đọc để trưởng thành.
Phần B – Luyện tập tổng hợp, Phiếu học tập số 1: đọc bài thơ Bến đò trưa hè (trang 132–134)
Bài thơ ba khổ của Anh Thơ (1918 – 2005), in trong tập Bức tranh quê (1941), còn trong thời hạn bảo hộ nên ở đây chỉ dẫn vài dòng; toàn văn ở trang 132 sách. Một số tài liệu chép khác chữ ở khổ 2, khổ 3; khi trích, em theo bản in.
Đọc – chọn phương án đúng
Câu 1 (trang 133): Bến đò trưa hè thuộc thể thơ nào
Bài thơ Bến đò trưa hè thuộc thể thơ nào?
A. Thơ sáu chữ B. Thơ bảy chữ C. Thơ tám chữ D. Thơ tự do
Trả lời:
Chọn C. Mọi dòng đều tám tiếng, như “Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi”; ba khổ, mỗi khổ bốn dòng.
Câu 2 (trang 133): Yếu tố giúp nhận biết thể thơ
Những yếu tố nào giúp em nhận biết thể thơ của bài thơ Bến đò trưa hè?
A. Số chữ trong các dòng thơ
B. Số khổ trong bài thơ
C. Cách ngắt nhịp của dòng thơ
D. Cách gieo vần trong bài thơ
Trả lời:
Chọn A. Thể năm chữ, bảy chữ, tám chữ được gọi tên theo số tiếng mỗi dòng; số khổ, nhịp, vần thay đổi theo từng bài.
Câu 3 (trang 133): Biện pháp tu từ trong câu thơ Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi…
A. Đảo ngữ B. So sánh C. Nói giảm nói tránh D. Nhân hoá
Trả lời:
Chọn D. Mây “đi vắng” như người, trời biết “buồn”. Câu không có từ so sánh, trật tự từ bình thường.
Câu 4 (trang 133): Dòng liệt kê đúng các từ láy trong bài
Dòng nào liệt kê các từ láy đã được dùng trong bài thơ?
A. Rộng rãi, uể oải, vắng lặng, tăm hơi
B. Rộng rãi, vắng lặng, vòi vọi, uể oải
C. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi, tăm hơi
D. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi, xa xa
Trả lời:
Chọn D. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi láy bộ phận, xa xa láy toàn bộ. Tăm hơi, vắng lặng là từ ghép (hai tiếng đều có nghĩa, không lặp âm), nên A, B, C đều lẫn từ ghép.
Câu 5 (trang 133): Nội dung, cảm xúc của bài thơ
Dòng nào nêu đúng nội dung, cảm xúc của bài thơ?
A. Cảm xúc phấn chấn trước cảnh thiên nhiên và cuộc sống
B. Cảm xúc đượm buồn trước cảnh sắc nơi thôn dã
C. Cảm xúc bi thiết trước thiên nhiên và đời sống con người
D. Cảm xúc buồn thương trước cảnh sắc nơi thôn dã
Trả lời:
Chọn B. Nỗi buồn nhẹ, lan ra từ cái vắng của trưa hè (buồn rộng rãi, buồn vắng lặng), không gắn với mất mát nào. “Buồn thương” nặng về xót xa, “bi thiết” càng quá, “phấn chấn” trái giọng thơ.
Đọc – trả lời câu hỏi
Câu 1 (trang 133): Bố cục bài thơ
Bài thơ có bố cục như thế nào?
Trả lời:
Ba khổ, đi từ cảnh đến người. Khổ 1: trời, sông, cây đa, gió lặng giữa trưa. Khổ 2: quán nước bên rặng ruối, người đi chợ ghé nghỉ, tiếng gà xa. Khổ 3: ông già dắt ngựa chờ đò, bến không thuyền.
Câu 2 (trang 133): Hình ảnh khắc họa rõ nhất phong cảnh làng quê một thời
Phong cảnh làng quê Việt Nam một thời được khắc hoạ rõ nét nhất qua những hình ảnh nào trong bài thơ?
Trả lời:
Cây đa buông rễ xuống nước, quán nước nép bên rặng ruối, dăm người đi chợ về ghé quán, tiếng gà trưa, con đê, ông già dắt ngựa xuống huyện với tiếng nhạc ngựa, bến đò vắng thuyền. Đó là nông thôn Bắc Bộ trước năm 1945, khi quán nghỉ chân, ngựa và đò ngang còn là phương tiện đi lại chính.
Câu 3 (trang 133): Ấn tượng về cảnh thiên nhiên nơi bến đò trưa hè
Cảnh thiên nhiên nơi bến đò trưa hè gợi cho em ấn tượng gì?
Trả lời:
Tĩnh và nóng. Trời rộng mà vắng mây, gió không động, sông như ngừng chảy. Nắng có hình khối, “đọng” lại trên mặt nước như chất lỏng đặc. Thời gian dường như chậm hẳn lại.
Câu 4 (trang 133): Quan hệ giữa bức tranh thiên nhiên và nhịp sống con người
Em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa đặc điểm của bức tranh thiên nhiên và nhịp sống của con người trong bài thơ?
Trả lời:
Hai thứ cùng nhịp. Cảnh lặng, chậm thì người cũng thong thả: khách đi chợ ngồi nghe tiếng gà, ông già kiên nhẫn đứng chờ đò. Vài âm thanh hiếm hoi (gà gáy xa, nhạc ngựa) chỉ làm sự yên ắng rõ hơn. Con người sống hòa vào nhịp đất trời.
Câu 5 (trang 133): Tình cảm của nhà thơ với thiên nhiên và đời sống con người
Tình cảm của nhà thơ đối với thiên nhiên và đời sống con người được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Trả lời:
Gắn bó, trìu mến. Anh Thơ để ý cả rễ đa ngâm nước, tiếng nhạc ngựa, mái chèo không khua – những điều chỉ người sống lâu ở quê mới thấy. Bài thơ gần như chỉ tả, nhưng chữ “buồn” lặp lại và dòng kết “Không một chèo khua nắng đọng trên sông” để lộ một nỗi buồn man mác trước nhịp sống quê lặng lẽ. Yêu cảnh mà không tô vẽ.
Viết
Viết (trang 134): Đoạn văn 10–15 câu nêu cảm nghĩ về Bến đò trưa hè
Viết đoạn văn (khoảng 10 – 15 câu) trình bày cảm nghĩ của em về bài thơ Bến đò trưa hè ở phần Đọc.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo (10 câu): Đọc Bến đò trưa hè của Anh Thơ, em như đứng giữa một buổi trưa quê ngoại, nóng đến mức mọi thứ im bặt. Bài thơ không kể chuyện gì lớn, chỉ có trời, sông, cây đa, quán nước và một ông già chờ đò. Em nhớ nhất câu “Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi”, nơi nắng như đặc lại, nằm phủ lên mặt sông. Khổ hai có thêm người, nhưng người cũng lặng lẽ ngồi nghe tiếng gà vọng từ xóm xa. Khổ cuối, ông già dắt ngựa đứng bên bến không thuyền khiến em chợt buồn. Nỗi buồn không nặng, chỉ man mác như chính buổi trưa. Thể thơ tám chữ nhịp chậm cùng các từ láy uể oải, vòi vọi cho em nghe được cả cái lười biếng của không gian. Lần về quê tới, em muốn ra bến sông giữa trưa để tự nghe cái im lặng ấy.
Nói và nghe
Nói và nghe (trang 134): Thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn về một trong ba vấn đề
Thực hiện cuộc phỏng vấn ngắn về một trong ba vấn đề sách nêu: hành trang tâm hồn của người xa quê; việc hội nhập toàn cầu và giữ gìn bản sắc; sức hút của thơ trong thời công nghệ số, nghe – nhìn.
Trả lời:
Gợi ý với vấn đề sức hút của thơ:
- Người được hỏi: một thầy cô dạy văn, một bạn mê thơ, một bạn ít đọc thơ.
- Câu hỏi: Lần gần nhất bạn đọc thơ là ở đâu, sách hay mạng xã hội? Video đọc thơ, bài hát phổ thơ có kéo bạn đến với thơ không? Điều gì khiến bạn ngại đọc thơ?
- Báo cáo: tóm tắt ý kiến, so sánh và nêu nhận xét của mình.
Phiếu học tập số 2: đọc bài phát biểu của Ma-la-la (trang 134–137)
Văn bản mang nhan đề Quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em trong hoà bình (do người biên soạn đặt), trích những phần chính trong bài phát biểu của Ma-la-la Y-u-xa-phơ-dây tại Hội nghị về thanh niên của Liên hợp quốc ngày 12 tháng 7 năm 2013, chia năm phần.
Đọc – chọn phương án đúng
Câu 1 (trang 136): Loại văn bản của bài đọc
Xác định loại văn bản của bài đọc.
A. Văn bản thông tin B. Văn bản nghị luận C. Văn bản văn học
Trả lời:
Chọn B. Người nói nêu vấn đề, đưa lí lẽ, bằng chứng và kêu gọi hành động; các sự kiện được dùng để lập luận.
Câu 2 (trang 136): Vấn đề chính của bài phát biểu
Vấn đề chính mà bài phát biểu đề cập là gì?
A. Quyền con người của cả nam và nữ nói chung
B. Quyền bình đẳng về cơ hội của phụ nữ trong các lĩnh vực
C. Quyền được sống trong hoà bình của mọi người
D. Quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em trong hoà bình
Trả lời:
Chọn D. Cả năm phần xoay quanh việc học và sự an toàn của phụ nữ, trẻ em. Hòa bình (C) là điều kiện của việc học, như câu “Giáo dục cần hoà bình”, không phải đối tượng chính; A, B quá rộng.
Câu 3 (trang 136): Tư cách, vị thế của người trình bày
Người trình bày vấn đề xác định tư cách, vị thế nào để nêu ý kiến?
A. Một cá nhân bị xâm phạm nhân quyền cần cất lên tiếng nói của mình.
B. Một người đại diện cho tất cả những người cần được bảo vệ nhân quyền.
C. Một người phụ nữ bị áp bức, bị tước đoạt quyền học tập cần bảo vệ chính mình.
D. Một người dân Pa-ki-xtan bị xâm phạm nhân quyền, cần đấu tranh.
Trả lời:
Chọn B. Phần (1) nói rõ: “Tôi không chỉ nói cho riêng mình mà còn cho cả những người không được lên tiếng”. Trải nghiệm bị bắn là bằng chứng, không biến bài nói thành chuyện riêng một người.
Câu 4 (trang 136): Mục đích chính của người nói
Mục đích chính của người nói được thể hiện trong văn bản trên là gì?
A. Nêu rõ trước Liên hợp quốc vấn đề vi phạm nhân quyền đối với phụ nữ và trẻ em và sự cần thiết phải hành động để bảo vệ những quyền đó
B. Trình bày rõ vấn đề quyền được học tập của phụ nữ và trẻ em đang bị xâm phạm, kêu gọi hành động để bảo vệ quyền đó
C. Kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới và Liên hợp quốc hành động, thay đổi chính sách vì quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em
D. Tố cáo thực trạng xâm phạm quyền học tập và quyền sống của phụ nữ và trẻ em ở các nước chậm phát triển trên thế giới
Trả lời:
Chọn C. Phần (5) đúc kết mục đích: kêu gọi lãnh đạo thế giới thay đổi chính sách, kêu gọi các chính phủ bảo vệ phụ nữ, trẻ em. C nêu đủ người được kêu gọi lẫn nội dung (học tập và bảo vệ). A nói chung chung “vi phạm nhân quyền”, B thiếu quyền được bảo vệ và không rõ kêu gọi ai, D chỉ là nội dung phần (4).
Câu 5 (trang 136): Biện pháp tu từ ở hai từ bóng tối, ánh sáng
Xác định biện pháp tu từ thể hiện ở các từ in đậm trong câu: “Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng.”
A. So sánh B. Hoán dụ C. Nhân hoá D. Ẩn dụ
Trả lời:
Chọn D. Bóng tối chỉ bạo lực, cực đoan, sự tước đoạt; ánh sáng chỉ tri thức, hòa bình, tự do – gọi tên dựa trên nét tương đồng, tức ẩn dụ. Không có nét người gán cho vật (không phải nhân hóa), cũng không có quan hệ gần gũi kiểu bộ phận – toàn thể (không phải hoán dụ).
Đọc – trả lời câu hỏi
Câu 1 (trang 136): Đối tượng mà văn bản hướng tới
Đối tượng mà văn bản nghị luận hướng tới là những người hoặc tổ chức nào?
Trả lời:
Trực tiếp là những người trẻ dự hội nghị (được gọi “các bạn thân mến”, “anh chị em thân mến”). Đối tượng được kêu gọi là các nhà lãnh đạo thế giới, chính phủ các nước, Liên hợp quốc – những người có quyền đổi chính sách. Rộng hơn là cả cộng đồng quốc tế.
Câu 2 (trang 137): Yếu tố khách quan, ý kiến và cách tác động tới người nghe
Người trình bày đã dùng những yếu tố nào để nêu thông tin khách quan, bày tỏ ý kiến và tác động tới đối tượng cần thuyết phục?
Trả lời:
- Thông tin khách quan: ngày 9 tháng 10 năm 2012; vụ tấn công ở Que-ta làm 14 sinh viên y khoa thiệt mạng; nữ giáo viên, nhân viên tiêm vắc-xin bị hại; trường học bị phá ở Ni-giê-ri-a; lao động trẻ em ở Ấn Độ.
- Ý kiến: kẻ cực đoan sợ sách bút, sợ sự bình đẳng; giáo dục cần hòa bình; nghèo đói, thiếu tri thức, bất công là vấn nạn chính.
- Tác động: kể trải nghiệm bản thân, dẫn ngạn ngữ “Ngòi bút mạnh hơn gươm giáo”, xưng hô thân mật, cặp đối lập bóng tối – ánh sáng, điệp cấu trúc “Chúng tôi kêu gọi…”.
Câu 3 (trang 137): Cách triển khai vấn đề qua năm phần; mục đích, ý chính từng phần
Vấn đề cần trình bày được triển khai trong các phần của văn bản như thế nào? Nêu rõ mục đích và ý chính của từng phần.
Trả lời:
| Phần | Ý chính | Mục đích |
|---|---|---|
| (1) | Nhiều người đấu tranh vì hòa bình, giáo dục đã chịu mất mát; người nói lên tiếng thay cả những người im lặng. | Xác lập tư cách, nêu vấn đề |
| (2) | Bị bắn nhưng không khuất phục; sợ hãi đã biến mất. | Tạo niềm tin bằng trải nghiệm thật |
| (3) | Kẻ cực đoan sợ sách bút, sợ tiếng nói phụ nữ nên giết hại, đánh bom trường học. | Lí giải vì sao giáo dục bị nhắm tới |
| (4) | Chiến tranh, cực đoan, nghèo đói khiến trẻ em nhiều nước không thể đến trường. | Mở vấn đề ra phạm vi thế giới |
| (5) | Kêu gọi lãnh đạo, chính phủ thay đổi chính sách, bảo vệ phụ nữ, trẻ em. | Đề xuất hành động |
Câu 4 (trang 137): Ý kiến Khi nhìn thấy bóng tối… đúng hay sai, vì sao
Trong phần (3) của văn bản, tác giả cho rằng: “Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng.”. Theo em, vấn đề được nêu như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
Trả lời:
Đúng. Ta thường coi việc được đi học, được nói, được sống yên ổn là hiển nhiên; mất đi rồi mới thấy giá trị. Ma-la-la và bạn bè ở Xơ-oát chỉ thấy cây bút quý đến thế khi súng đạn xuất hiện. Đời thường cũng vậy: một trận ốm dạy ta quý sức khỏe hơn mọi lời khuyên. Tuy vậy, không nên đợi rơi vào bóng tối mới biết quý ánh sáng; lắng nghe câu chuyện của người khác giúp ta nhận ra điều đó sớm hơn.
Viết
Viết (trang 137): Bài nghị luận xã hội về việc học của trẻ em hoặc trẻ em cần được học trong hòa bình
Lựa chọn một trong những vấn đề sau để viết bài văn nghị luận xã hội: Việc học tập có thực sự cần thiết và có thể đem lại những lợi ích gì cho cuộc sống của mỗi trẻ em trên thế giới? Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?
Trả lời:
Dàn ý cho vấn đề thứ hai:
- Mở bài: từ chuyện Ma-la-la bị bắn trên đường đi học, nêu vấn đề.
- Giải thích: được bảo vệ là an toàn về thân thể, tinh thần; học trong hòa bình là đến trường không sợ bom đạn, bạo lực.
- Lí do: trẻ em không tự bảo vệ được mình; chiến tranh cướp trường lớp, thầy cô; thất học dễ dẫn tới lao động trẻ em, tảo hôn, nghèo đói kéo dài.
- Ý kiến khác: ở vùng chiến sự, sống còn quan trọng hơn đi học. Phản bác: việc học cho các em hi vọng và lối thoát khỏi bạo lực.
- Giải pháp, liên hệ: các quốc gia bảo vệ trường học; cộng đồng quốc tế hỗ trợ; học sinh quyên góp sách vở, nói không với bạo lực học đường.
- Kết bài: khẳng định vấn đề, nêu trách nhiệm bản thân.
Nói và nghe
Nói và nghe (trang 137): Thảo luận nhóm về vai trò của giáo dục hoặc quyền được học trong hòa bình
Thảo luận với các bạn trong nhóm học tập về một trong những vấn đề sau: Giáo dục có thể góp phần làm thay đổi cuộc sống của mỗi con người như thế nào? Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?
Trả lời:
Gợi ý cho vấn đề thứ nhất: mỗi bạn mang một ví dụ thật. Ý có thể bàn: giáo dục cho kiến thức, nghề nghiệp để thoát nghèo; giúp phân biệt đúng sai; giúp người học dám cất tiếng như Ma-la-la. Điểm có thể tranh luận: bằng cấp có phải là tất cả? Thư kí tóm tắt kết luận chung.
Gặp ngữ liệu lạ trong đề cuối năm: những chỗ nên dừng lại kiểm tra
- Tên thể thơ: đếm số tiếng ở ít nhất ba dòng khác nhau.
- Ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa: hỏi hai sự vật giống nhau, gần nhau, hay vật được gán nét người.
- Mục đích chính, vấn đề chính: đọc kĩ đoạn đầu và đoạn kết, chọn phương án bao quát đủ ý.
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 9 tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề Văn VN biên soạn, thời gian 90 phút.
Phần đọc hiểu – 4 điểm
Em hãy đọc kĩ câu chuyện dưới đây, để ý từng dấu vết nhân vật phát hiện, rồi trả lời các câu hỏi.
GIỌT KEO TRONG TỦ KÍNH
(1) Sáng thứ hai, chiếc cúp vô địch bóng đá của lớp 9B biến khỏi tủ kính. Cửa lớp khóa từ chiều thứ bảy; chìa chỉ có hai chiếc, một treo ở phòng bảo vệ, một do lớp trưởng Hưng giữ. Mấy bạn quay sang nhìn Hưng. Hưng đỏ mặt, không nói được câu nào.
(2) Khoa không đứng xem tủ kính mà đi ra cửa sổ. Lớp bụi mỏng trên bậu cửa vẫn còn nguyên, ổ khóa cửa chính cũng không có vết cạy. Trong tủ, ở góc ngăn giữa, có một giọt keo trong đã khô. Khoa nhớ tay cầm của chiếc cúp bị lỏng từ hôm liên hoan. Còn Hưng thì chiều thứ bảy đã về quê dự đám cưới chị họ, tấm vé xe vẫn kẹp trong vở.
(3) Giờ ra chơi, Khoa xuống phòng bảo vệ. Trên bàn bác Tư có một tuýp keo dán đã mở nắp. Khoa chưa kịp hỏi, bác đã cười rồi kéo ngăn bàn: chiếc cúp nằm đó, tay cầm đã được gắn chắc chắn.
(4) – Bác định chiều nay mới trả, cho các cháu bất ngờ, – bác Tư gãi đầu.
(5) Cả lớp xin lỗi Hưng. Còn Khoa ghi vào sổ tay một dòng: “Đừng kết luận khi mới thấy một manh mối.”
(Văn VN)
Câu 1. Câu chuyện thuộc thể loại nào? Nêu hai dấu hiệu.
Câu 2. Vì sao lúc đầu nhiều bạn nghi Hưng? Chi tiết nào gỡ bỏ nghi ngờ ấy?
Câu 3. Khoa đã dựa vào những manh mối nào?
Câu 4. Câu “Lớp bụi mỏng trên bậu cửa vẫn còn nguyên, ổ khóa cửa chính cũng không có vết cạy.” là câu đơn hay câu ghép? Nếu là câu ghép, thuộc kiểu nào, các vế nối bằng gì?
Câu 5. Chuyển vế câu bị động “tay cầm đã được gắn chắc chắn” thành câu chủ động, nêu rõ người thực hiện hành động.
Câu 6. Kết thúc truyện bất ngờ ở đâu? Dòng chữ Khoa ghi gợi cho em bài học gì? (đoạn văn 5–7 câu)
Phần viết – 6 điểm (chọn một đề)
Đề 1. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết: thói quen vội phán xét bạn bè khi chưa đủ bằng chứng trong trường học.
Đề 2. Viết bài văn thuyết minh giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử ở địa phương em.
Đáp án, biểu điểm
| Câu | Nội dung cần đạt | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | Truyện trinh thám. Hai trong các dấu hiệu: vụ việc bí ẩn; người điều tra (Khoa) và nghi phạm (Hưng); tìm sự thật bằng manh mối, suy luận; kết thúc bất ngờ. | 0,5 |
| 2 | Hưng giữ một trong hai chìa khóa. Chiều thứ bảy Hưng về quê, vé xe làm chứng. | 0,5 |
| 3 | Bụi bậu cửa còn nguyên, khóa không bị cạy (người lấy có chìa); giọt keo khô trong tủ; tay cầm cúp lỏng từ trước; tuýp keo mở nắp ở phòng bảo vệ. | 0,5 |
| 4 | Câu ghép đẳng lập, hai vế nối bằng dấu phẩy và từ cũng, quan hệ bổ sung. | 0,5 |
| 5 | Ví dụ: Bác Tư đã gắn chắc chắn tay cầm của chiếc cúp. | 1,0 |
| 6 | Người “lấy” cúp là bác bảo vệ, mang đi để sửa và muốn tặng lớp niềm vui. Bài học: kiểm chứng đủ trước khi nghi ngờ ai; biết xin lỗi khi sai. Đoạn văn đủ câu, mạch lạc. | 1,0 |
| Viết | Đúng kiểu bài, bố cục ba phần (1,0). Đề 1: thực trạng, nguyên nhân, tác hại với người bị nghi oan, giải pháp, phản hồi ý kiến khác; Đề 2: thông tin chính xác về vị trí, lịch sử, đặc điểm, giá trị, có xen miêu tả (3,5). Diễn đạt, chính tả (1,0). Cách nhìn riêng (0,5). | 6,0 |
Xem thêm: