Ngày 6/10/2019, trang chủ Google ở Việt Nam đổi logo thành hình một người phụ nữ mặc áo dài đứng trước những con sóng. Xuân Quỳnh (1942 – 1988), tên đầy đủ Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, là nữ nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Sóng, Thuyền và biển, Tiếng gà trưa, Thơ tình cuối mùa thu và nhiều truyện, thơ viết cho thiếu nhi. Bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được Google vinh danh bằng một Doodle, và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2017.
Cô bé mồ côi mẹ ở làng La Khê

| Tên thật | Nguyễn Thị Xuân Quỳnh |
| Bút danh | Xuân Quỳnh |
| Năm sinh – năm mất | 6/10/1942 – 29/8/1988 |
| Quê quán | Làng La Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Đông (Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi xã Văn Khê); nay thuộc Hà Nội |
| Thể loại | Thơ, truyện thơ, truyện thiếu nhi |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hoa dọc chiến hào (in chung, 1968), Gió Lào, cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Bầu trời trong quả trứng (1982), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (2017) |
| Trong SGK hiện hành | Chuyện cổ tích về loài người, Cô Gió mất tên, Tiếng gà trưa, Thuyền và biển, Sóng |
Xuân Quỳnh sinh trong một gia đình công chức. Mẹ mất sớm, cô bé lớn lên trong vòng tay bà nội. Hình ảnh người bà tần tảo ấy về sau trở lại trong thơ bà, rõ nhất ở bài Tiếng gà trưa, nơi một tiếng gà nhảy ổ gọi về cả tuổi thơ bên bà.
Bảy năm làm diễn viên múa
Tháng 2 năm 1955, cô gái mười hai tuổi được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và năm 1959 dự Đại hội Thanh niên sinh viên thế giới ở Viên (Áo).
Năm 1962, bà rời sân khấu để theo học khóa I Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam (1962 – 1964). Khi ấy bà đã có thơ in: phần Chồi biếc gồm 18 bài trong tập in chung Tơ tằm – Chồi biếc (1963).
Từ Chồi biếc đến Hoa dọc chiến hào: bài Sóng ra đời năm 1967
Từ năm 1964, bà làm biên tập ở báo Văn nghệ (Wikipedia ghi thêm báo Phụ nữ Việt Nam), năm 1967 vào Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1967 cũng là năm bà viết Sóng; sách Ngữ văn 12 trước đây ghi bài thơ ra đời sau chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền, Thái Bình. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968), tập in chung có 28 bài của bà, cùng tập với Tiếng gà trưa. Mấy câu mở đầu đặt hai trạng thái đối lập của sóng cạnh nhau, cũng là hai trạng thái của người con gái đang yêu:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Bài thơ có ở trang tác giả – tác phẩm Sóng, kèm bài phân tích bài thơ Sóng. Những tập thơ tiếp theo, Gió Lào, cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989), đưa bà thành giọng thơ tình yêu được đọc nhiều nhất của thế hệ mình. Từ năm 1978 cho đến khi mất, bà làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới và là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III.
Hai bài thơ tình được nhắc nhiều nhất sau Sóng là Thuyền và biển và Thơ tình cuối mùa thu. Thuyền và biển mượn câu chuyện kể của một người con gái về con thuyền và biển để nói chuyện gắn bó, xa cách trong tình yêu; bài thơ nay được học ở lớp 11 trong bài học về yếu tố tự sự trong thơ trữ tình. Thơ tình cuối mùa thu thì được biết đến rộng rãi qua ca khúc cùng tên của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu.
Nhiều bài thơ của bà được phổ nhạc: Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu (Phan Huỳnh Điểu), Mẹ của anh (Trịnh Vĩnh Thành). Nét riêng trong thơ Xuân Quỳnh, cái tôi khao khát, lo âu và hết mình trong tình yêu, được bàn kỹ ở bài phong cách sáng tác của Xuân Quỳnh.
Bầu trời trong quả trứng và những trang viết cho trẻ em
Ít người để ý rằng Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi nhiều không kém viết cho người lớn. Tập Bầu trời trong quả trứng (1982) gồm 32 bài thơ và 16 bài văn, được Giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam 1982 – 1983. Bên cạnh đó là truyện thơ Truyện Lưu Nguyễn (1985) và các tập truyện Mùa xuân trên cánh đồng (1981), Bến tàu trong thành phố (1984), Vẫn có ông trăng khác (1986).
Học sinh lớp 6 học bài thơ Chuyện cổ tích về loài người, in trong tập Lời ru trên mặt đất; học sinh lớp 4 Kết nối tri thức có bài Bầu trời trong quả trứng. Các bài thơ thiếu nhi khác như Con yêu mẹ cùng thơ tình của bà được tập hợp ở trang thơ Xuân Quỳnh.
Hai cuộc hôn nhân, mười lăm năm bên Lưu Quang Vũ
Năm 1964, Xuân Quỳnh kết hôn với Lưu Tuấn, có một con trai là Lưu Tuấn Anh. Sau khi chia tay, họ vẫn sống chung một tòa nhà ở phố Huế, Hà Nội.
Năm 1973, bà kết hôn với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, kém bà sáu tuổi. Tháng 2 năm 1975, hai người có con trai Lưu Quỳnh Thơ, tên ở nhà là Mí. Gia đình còn có Lưu Minh Vũ, con riêng của Lưu Quang Vũ với nghệ sĩ Tố Uyên. Tập Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ in năm 1994, sau khi cả hai đã mất. Chuyện tình của hai nhà thơ được kể chi tiết ở bài tình yêu của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.
Chiều 29/8/1988 ở đầu cầu Phú Lương
Chiều 29/8/1988, chiếc xe chở gia đình Lưu Quang Vũ về Hà Nội gặp tai nạn ở đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương. Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mười ba tuổi cùng qua đời. Theo lời kể của họa sĩ Doãn Châu, người đi cùng chuyến xe và sống sót, tai nạn xảy ra khoảng 14 giờ 40 phút, khi một xe ben mất phanh đâm vào đuôi chiếc xe chở họ.
Năm ấy bà bốn mươi sáu tuổi. Tập Hoa cỏ may in năm 1989, một năm sau khi bà mất, được Giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990. Năm 2011, bạn đọc còn có thêm tập Không bao giờ là cuối gồm 21 bài thơ.
Hai lần truy tặng: năm 2001 và năm 2017
Năm 2001, Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I với các tập Gió Lào, cát trắng, Hoa cỏ may, Tự hát. Năm 2017, bà được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt V) với hai tập Lời ru trên mặt đất và Bầu trời trong quả trứng.
Hai năm sau, ngày 6/10/2019, nhân 77 năm ngày sinh của bà, Google đặt hình bà trên trang chủ. Bức vẽ do hai họa sĩ Phùng Nguyễn Quang và Huỳnh Kim Liên (ký tên chung KAA) thực hiện, lấy cảm hứng từ bài Sóng. Bà là người Việt thứ ba và là người phụ nữ Việt đầu tiên được Google vinh danh theo cách này. Các danh xưng mà người đọc dành cho bà được bàn ở bài Xuân Quỳnh được mệnh danh là gì.
Năm bài thơ Xuân Quỳnh học sinh gặp trong SGK
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Chuyện cổ tích về loài người | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Cô Gió mất tên | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 4 (đọc mở rộng) | Soạn bài |
| Tiếng gà trưa | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 1 – Bài 2 (thực hành đọc hiểu) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Thuyền và biển | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Sóng | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 | Đã dẫn ở mục trên · Kết bài |
Có tài liệu ghi Tiếng gà trưa sáng tác năm 1984; thực ra 1984 là năm in tập thơ cùng tên, còn bài thơ đã có trong Hoa dọc chiến hào từ năm 1968 (theo Bảo tàng Văn học Việt Nam và Wikipedia).