Người làng Trung Am bên sông Tuyết chờ đến năm bốn mươi lăm tuổi mới đi thi, đỗ ngay Trạng nguyên, làm quan chừng bảy, tám năm rồi về quê dạy học gần nửa thế kỷ. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), dân gian quen gọi là Trạng Trình, là nhà thơ, nhà giáo lớn thời Mạc, tác giả Bạch Vân am thi tập (thơ chữ Hán) và Bạch Vân quốc ngữ thi tập (thơ Nôm), trong đó có bài Nhàn mà học sinh nhiều thế hệ thuộc lòng.
Văn Đạt, Hanh Phủ, Bạch Vân cư sĩ, Trạng Trình

| Tên húy | Nguyễn Văn Đạt |
| Tự, hiệu | Tự Hanh Phủ; hiệu Bạch Vân am cư sĩ; học trò tôn là Tuyết Giang phu tử |
| Tước | Trình Tuyền hầu, sau là Trình Quốc công (vì thế gọi Trạng Trình) |
| Năm sinh – năm mất | 1491 (ngày 6 tháng 4 năm Tân Hợi) – 1585 (ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu), thọ 95 tuổi |
| Quê quán | Làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương; nay thuộc xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Phòng |
| Học vị | Trạng nguyên khoa Ất Mùi (1535), đời Mạc Thái Tông |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bạch Vân am thi tập (chữ Hán), Bạch Vân quốc ngữ thi tập (chữ Nôm), Trung Tân quán bi ký |
| Trong SGK | Nhàn (Ngữ văn 10, chương trình 2006) |
Tên tự của ông là Hanh Phủ (亨甫). Không ít tài liệu chép thành “Hạnh Phủ”, một lỗi thường gặp. Hai chữ Bỉnh Khiêm vốn là tên chữ đi thi; còn chữ “Trình” trong Trạng Trình lấy từ tước hiệu Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công mà nhà Mạc phong cho ông.
Về thời điểm được phong Trình Quốc công, các nguồn không thống nhất. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí chép ông “trải thăng Thượng thư bộ Lại, Thái phó, tước Trình quốc công”, tức được phong khi còn sống; một số bài báo lại viết tước này được ban sau khi ông mất.
Hai bờ sông Tuyết
Ông sinh năm 1491, năm Hồng Đức thứ 22 đời Lê Thánh Tông, khi nhà Lê sơ đang thịnh. Cha là Nguyễn Văn Định, một nhà nho hay chữ nhưng không đỗ đạt. Theo Wikipedia và gia phả họ Nguyễn được nhiều bài viết dẫn lại, mẹ ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, người học rộng và có công lớn dạy dỗ con trai từ nhỏ. Quê nội Trung Am và quê ngoại An Tử Hạ chỉ cách nhau con sông Hàn, còn gọi là sông Tuyết; về sau học trò lấy chính tên sông để tôn ông là Tuyết Giang phu tử.
Lớn lên, ông vào xứ Thanh theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, một đại thần đã cáo quan về dạy học. Tương truyền trước khi mất, người thầy trao lại cho học trò bộ sách về Dịch học và gửi gắm con trai là Lương Hữu Khánh, người sau này cũng thành học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Bỏ qua tám khoa thi, đỗ Trạng nguyên ở tuổi 45
Ông trưởng thành giữa những năm cuối Lê sơ rối ren: vua yếu, quyền thần tranh giành, rồi năm 1527 Mạc Đăng Dung lên ngôi. Suốt hơn hai mươi năm, ông không đi thi. VnExpress ghi ông bỏ qua tám khoa liên tiếp; Wikipedia ghi chín.
Năm 1535, khoa Ất Mùi (niên hiệu Đại Chính thứ sáu đời Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh), ông mới ứng thí và đỗ ngay Trạng nguyên, khi đã bốn mươi lăm tuổi. VnExpress dẫn cách lý giải phổ biến: ông chờ đến khi thấy Mạc Đăng Doanh là minh quân mới ra giúp nước. Thời Mạc Thái Tông cũng thường được coi là quãng yên ổn nhất của nhà Mạc.
Tờ sớ xin chém mười tám lộng thần
Sau khi đỗ, ông được bổ Đông các hiệu thư, rồi lên Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 1540, Mạc Thái Tông mất đột ngột, vua mới Mạc Phúc Hải còn non, triều đình chia bè phái. Ông dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần, trong đó có cả con rể mình là Phạm Dao, đang làm trấn thủ Sơn Nam. Vua không nghe. Mùa thu năm Nhâm Dần (1542), ông xin về quê.
Về quê không có nghĩa là rời triều chính. Phan Huy Chú chép rằng tuy ông ở nhà, “vua Mạc tôn như bậc thầy”, khi trong nước có việc lớn vẫn sai sứ đến hỏi, có lúc triệu về kinh bàn mưu kế. Gần hai mươi năm, từ năm năm mươi ba đến bảy mươi ba tuổi, ông vẫn gánh việc nước theo cách ấy rồi mới thật sự treo ấn.
Am Bạch Vân, quán Trung Tân và trường học bên sông
Ở Trung Am, ông dựng am Bạch Vân làm nơi đọc sách, lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ; lập quán Trung Tân bên sông làm chỗ gặp gỡ, nghỉ chân cho người qua lại, khắc bài ký Trung Tân quán bi ký bày tỏ quan niệm sống; bắc cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân đi lại; và mở trường dạy học. Báo Tiền Phong ghi ông còn bốc thuốc chữa bệnh cho người làng.
Học trò của ông về sau nhiều người hiển đạt: Phùng Khắc Khoan (Trạng Bùng), Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, con trai cả Nguyễn Văn Chính. VnExpress kể cả Nguyễn Dữ, tác giả Truyền kỳ mạn lục, trong số môn sinh. Bốn thế kỷ sau, nhà thơ Chế Lan Viên đặt tên cho một tập tiểu luận của mình là Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân.
Những lời khuyên được truyền lại cho ba họ Mạc, Trịnh, Nguyễn
Danh tiếng “nhà tiên tri” của Trạng Trình phần lớn gắn với ba lời khuyên mà sử sách và dân gian truyền lại, câu chữ mỗi nơi chép một khác:
| Người hỏi | Lời khuyên được truyền lại | Ý nghĩa thường được giải thích |
|---|---|---|
| Nhà Mạc | Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế (Cao Bằng tuy nhỏ, có thể giữ được vài đời) | Khi mất Thăng Long, con cháu họ Mạc lên Cao Bằng giữ thêm được mấy đời |
| Trịnh Kiểm | Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản | Đừng phế vua Lê, cứ phò vua mà nắm thực quyền |
| Nguyễn Hoàng | Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân (một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời) | Xin vào trấn đất phía nam Hoành Sơn; năm 1558 Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa |
Ba câu này nên đọc như giai thoại lịch sử: chúng được chép và kể lại nhiều đời, nhưng không phải văn bản do chính ông để lại. Phan Huy Chú thì ghi nhận cái gốc của tiếng tăm ấy là học vấn: ông học rộng khắp các sách, “hiểu sâu nghĩa lý Kinh dịch”.
Thơ chữ Hán, thơ Nôm và chuyện Sấm Trạng Trình
Bạch Vân am thi tập là tập thơ chữ Hán; trong lời tựa, theo Wikipedia, ông cho biết đã làm được chừng nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Bạch Vân quốc ngữ thi tập là thơ Nôm, ông làm sau khi về quê, nay còn khoảng 170 – 180 bài, phần lớn theo thể Đường luật, có xen câu sáu chữ. Các bài thơ Nôm vốn không có tên; những nhan đề quen thuộc như Nhàn, Thói đời là do người đời sau đặt. Con số chính xác còn tùy văn bản và người khảo cứu.
Thơ ông nói nhiều về chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, nhân tình thế thái. Bài Thói đời chua chát mà rất đời: người ta tụ lại quanh kẻ có tiền, có rượu, và tản đi ngay khi những thứ ấy cạn. Nét chung nhất của thơ ông là giọng triết lý, giáo huấn, lời mộc mạc; phân tích kỹ có ở bài phong cách sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ngoài thơ là các tập sấm ký lưu hành trong dân gian dưới tên Trạng Trình, phần lớn viết thể lục bát. Đây là vùng nên đọc thận trọng: nhiều bản do người đời sau chép, thêm thắt, tác quyền đến nay vẫn còn bàn cãi. Văn VN có giới thiệu một văn bản ở bài Sấm Trạng Trình.
Bài Nhàn và thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong chương trình Ngữ văn
Nhàn là bài thơ Nôm số 73 trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, từng là văn bản đọc hiểu trong sách Ngữ văn 10 (chương trình 2006). Bốn câu đầu đủ cho thấy lựa chọn sống của ông:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Nhàn | Ngữ văn 10, tập 1 (chương trình 2006) | Bài thơ Nhàn: văn bản, bố cục · Phân tích bài thơ Nhàn |
| Thói đời | Ngữ liệu đọc hiểu thường gặp | Thói đời |
Ở bộ sách hiện hành, chúng tôi chưa xác nhận được văn bản nào của ông là bài học chính; khi có thông tin chắc chắn, bảng trên sẽ được cập nhật. Các bài thơ chữ Hán và chữ Nôm khác được tập hợp trong tuyển tập thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm; muốn đặt ông bên cạnh bậc tiền bối cùng xứ Đông, có thể đọc bài về Nguyễn Trãi.
Năm Ất Dậu 1585 và đền thờ ở Trung Am
Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu (1585) tại quê nhà, thọ 95 tuổi, một tuổi thọ hiếm có thời ấy. Lễ hội đền Trạng hằng năm diễn ra quanh ngày giỗ, từ 27 đến 29 tháng Mười Một âm lịch.
Khu di tích đền thờ Trạng Trình ở Trung Am, gồm đền chính, am Bạch Vân, quán Trung Tân dựng lại, tháp bút Kình Thiên, được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2015. Trong đền có bức đại tự “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”, tương truyền là lời khen của một sứ thần phương Bắc. Năm 1585 ấy, nhà Mạc còn ở Thăng Long; bảy năm sau, họ mới phải rút lên Cao Bằng.