Người viết Đêm nay Bác không ngủ chưa từng ở trong căn lán giữa rừng đêm ấy. Minh Huệ (1927 – 2003) là bút danh của nhà thơ Nguyễn Đức Thái, người Bến Thủy, thành phố Vinh, Nghệ An; ông dựng nên bài thơ kể chuyện nổi tiếng nhất về Bác Hồ thời chống Pháp từ lời kể của một người bạn, năm ông hai mươi tư tuổi. Nửa thế kỷ sau, cái tên Minh Huệ vẫn gắn liền với bài thơ ấy, dù ông còn để lại bảy tập thơ, mấy tập bút ký, truyện ký và một cuốn tiểu thuyết.
| Tên khai sinh | Nguyễn Đức Thái |
| Bút danh | Minh Huệ; ngoài ra còn ký Mai Quốc Minh, Nguyễn Thái |
| Năm sinh – năm mất | 3/10/1927 – 11/10/2003 (Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi ngày mất 1/10/2003) |
| Quê | Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An |
| Thể loại | Thơ, bút ký, truyện ký, tiểu thuyết, tiểu luận |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tiếng hát quê hương (1959), Đất chiến hào (1970), Mùa xanh đến (1972), Ngọn cờ Bến Thủy (truyện ký), Đêm nay Bác không ngủ (tập thơ, 1985), Phút bi kịch cuối cùng (tiểu thuyết, 1990), Cõi Sen (2000) |
| Giải thưởng | Giải nhất của Chi hội Văn nghệ kháng chiến Khu Bốn (1954); Giải thưởng Nguyễn Du của Nghệ Tĩnh (1986); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (truy tặng, 2007) |
| Trong SGK | Đêm nay Bác không ngủ – Ngữ văn 6 Cánh diều, tập hai, Bài 7 |
Nguyễn Đức Thái, người Bến Thủy theo Việt Minh năm mười tám tuổi

Nguyễn Đức Thái sinh ngày 3/10/1927 ở Bến Thủy, khu bến cảng và nhà máy ven sông Lam của thành phố Vinh. Tháng 5/1945, chàng trai mười tám tuổi vào Việt Minh, và tháng Tám năm ấy đã cùng người dân quê mình đứng lên cướp chính quyền. Những năm chống Pháp, ông đi làm công tác tuyên truyền, viết báo, làm văn nghệ khắp Nghệ An và Liên khu Bốn; thơ ông bắt đầu từ những việc ấy.
Hòa bình lập lại, ông đi học tiếp và tốt nghiệp đại học ngành Văn. Năm 1957, khi Hội Nhà văn Việt Nam ra đời, tên ông có trong danh sách hội viên sáng lập. Theo báo Nghệ An năm 2011, chính nhà thơ từng kể rằng quê gốc của dòng họ ở Đức Thọ, Hà Tĩnh; còn các tài liệu chính thức đều ghi ông là người Bến Thủy, nơi ông sinh ra và sống gần trọn đời.
Đêm sông Lam năm 1950 và câu chuyện của anh Chắt
Hoàn cảnh ra đời của bài thơ được kể kỹ nhất trong bài viết của Nguyễn Hoàng Nhật đăng báo Nhân Dân năm 2005. Theo đó, vào một đêm mùa đông năm 1950 bên sông Lam, trong căn nhà tranh gió lùa qua kẽ liếp, Minh Huệ ngồi nghe một người bạn tên Chắt, cán bộ bảo vệ của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, kể chuyện Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới: sáu mươi tuổi vẫn mặc quân phục lội suối xem trận địa, nhường đĩa thịt gà cho thương binh, ăn cơm với muối rang đựng trong ống tre, chân sưng mà không chịu cưỡi ngựa.
Gần nửa đêm, lúc sắp lên đường, anh Chắt mới nhớ ra một mẩu chuyện nữa. Một đêm Bác ghé lán bộ đội giữa rừng; một đội viên tỉnh giấc, thấy một cụ già người Nùng đang tiếp củi cho bếp lửa, nhìn kỹ mới nhận ra Bác. Anh mời Bác đi ngủ, Bác bảo anh cứ ngủ cho ngon để mai còn đánh giặc, vì trời lạnh mà bộ đội, dân công còn ngủ ngoài rừng nhiều lắm. Người kể đi rồi, người nghe thức trắng đêm ấy.
Hai tuần viết vội, năm tháng viết lại
Bản đầu tiên ra đời trong hai tuần liền hưng phấn. Đọc lại, tác giả thấy nó tham lam, lộn xộn, chuyện này chồng lên chuyện kia, giống một bản ghi chép hơn là một bài thơ. Ông mất thêm chừng năm tháng để gạn bớt những chỗ lên gân, cường điệu. Bài thơ hoàn thành năm 1951. Sáng hôm sau cái đêm ông viết đến hai giờ sáng rồi gục xuống bàn, nhà văn Huy Phương ghé chơi, đọc bản thảo và mang đi in vào tập thơ của Chi hội Văn nghệ kháng chiến Khu Bốn do Lưu Trọng Lư phụ trách.
Ít lâu sau, Lưu Trọng Lư gặp lại Minh Huệ, kể rằng ông đi vận động thuế nông nghiệp và ngâm bài thơ cho bà con nghe; người ta thương Cụ Hồ nên hăng hái đóng lúa nuôi quân. Theo cách nói đùa của nhà thơ xứ Huế, bài thơ đã làm ra lúa gạo. Cũng theo bài báo ấy, bài thơ sớm được cải biên thành chèo phục vụ kháng chiến và sau này được phổ nhạc.
Bốn câu kết mà tác giả nhận là của riêng mình
Minh Huệ không giấu chuyện mượn chất liệu. Ông nói gần như toàn bài là lời kể của đồng chí Chắt, chỉ được viết lại theo lối vè Nghệ Tĩnh, thể thơ năm chữ kể chuyện vốn quen tai với người dân quê ông. Phần ông coi là sáng tạo riêng chỉ là khổ cuối. Ông đã thử nhiều câu trả lời cho câu hỏi vì sao Bác không ngủ, câu nào cũng thấy chưa trọn, cho đến khi tìm ra lời giải giản dị nhất:
Đêm nay Bác ngồi đó
Đêm nay Bác không ngủ
Vì một lẽ thường tình
Bác là Hồ Chí Minh
Lối kết ấy không giải thích thêm điều gì, chỉ gọi tên. Bao nhiêu chi tiết bếp lửa, chiếc chăn, bước chân nhón khẽ ở các khổ trước dồn về cái tên ấy. Đó cũng là lý do bài thơ hợp với học trò lớp 6: một câu chuyện có nhân vật, có ba lần tỉnh giấc của anh đội viên, có cao trào, rồi khép lại bằng một câu khẳng định mà trẻ con cũng thuộc ngay.
Gần nửa thế kỷ viết về Bác: từ Nắng Nghệ An đến Cõi Sen
Đêm nay Bác không ngủ thường được gọi là bài thơ về Bác đầu tiên của Minh Huệ, nhưng theo báo Nghệ An (2011) thì không hẳn. Năm 1947, ông đã viết Nắng Nghệ An trò chuyện với Mây Việt Bắc, mười bốn câu lục bát biến thể theo điệu hò xứ Nghệ; người đầu tiên được nghe là Nguyễn Chí Thanh. Bài thơ ấy nằm trong ngăn kéo đến năm 1997 mới được công bố, rồi được đặt ở đầu tập Cõi Sen.
Từ đó đến cuối đời, đề tài Bác Hồ trở đi trở lại trong thơ ông. Tập thơ mang chính tên Đêm nay Bác không ngủ in năm 1985, được Giải thưởng Nguyễn Du của Nghệ Tĩnh năm 1986. Tháng 4/2000, ông ra mắt Cõi Sen, tập thơ thứ hai dành trọn cho Bác. Năm 1992, ông còn in tập tiểu luận Thưởng thức thơ viết về Bác Hồ, đọc lại thơ của những người cùng viết về đề tài này. Bạn đọc muốn tìm hiểu thêm về con người và văn chương của Bác có thể đọc trang tác giả Hồ Chí Minh.
Người làm văn nghệ ở Nghệ An
Khác nhiều nhà thơ cùng thế hệ ra Hà Nội lập nghiệp, Minh Huệ gắn phần lớn đời công tác với quê. Bảo tàng Văn học và các bản tin năm 2003 kê lại những cương vị ông từng đảm nhận:
| Lĩnh vực | Cương vị |
|---|---|
| Văn nghệ Liên khu Bốn | Hội trưởng Hội Sáng tác văn nghệ Liên khu IV |
| Xuất bản | Trưởng ban Thơ – lý luận phê bình – văn học dịch, Nhà xuất bản Văn học |
| Chính quyền địa phương | Ủy viên Ủy ban hành chính tỉnh, Trưởng ty Văn hóa Nghệ An |
| Hội văn nghệ | Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh; Ủy viên Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (1984 – 1991) |
Ngoài thơ, ông viết bút ký Rừng xưa rừng nay (1962), truyện ký Ngọn cờ Bến Thủy (1974 – 1979) về phong trào công nhân ở chính quê mình, truyện ký Người mẹ và mùa xuân (1981) và tiểu thuyết Phút bi kịch cuối cùng (1990). Báo Tuổi Trẻ khi đưa tin ông mất đã tổng kết sự nghiệp ấy là bảy tập thơ, bốn tập truyện ký và ký, hai tập truyện. Giọng thơ ông mộc mạc, ít cầu kỳ chữ nghĩa, gần với lời kể và lời hò của người lao động; điểm mạnh ấy, cũng như giới hạn của nó, đều thấy rõ khi đặt Đêm nay Bác không ngủ cạnh những tập thơ sau này.
Năm 2007, bốn năm sau khi ông mất, Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho ba tập thơ Tiếng hát quê hương (1959), Đất chiến hào (1970) và Đêm nay Bác không ngủ (1985), theo các quyết định ký ngày 8/2/2007.
Học Đêm nay Bác không ngủ theo SGK Ngữ văn 6 Cánh diều
| Văn bản | Sách – bài học | Bài viết liên quan trên Văn VN |
|---|---|---|
| Đêm nay Bác không ngủ | Ngữ văn 6 Cánh diều, tập hai – Bài 7 (Thơ có yếu tố tự sự, miêu tả) | Soạn bài Đêm nay Bác không ngủ |
| Đêm nay Bác không ngủ | Tác giả, tác phẩm, bố cục | Đêm nay Bác không ngủ: tác giả, tác phẩm |
Bài thơ là văn bản đọc mở đầu Bài 7, nơi học sinh làm quen với thơ có yếu tố tự sự và miêu tả: có người kể, có nhân vật, có diễn biến theo thời gian một đêm. Trước giờ học, các em có thể đọc bản tóm tắt Đêm nay Bác không ngủ để nắm mạch truyện; khi viết đoạn văn cảm nhận thì tham khảo bài cảm nghĩ về bài thơ hoặc các mẫu mở bài, kết bài Đêm nay Bác không ngủ. Một lưu ý nhỏ: một số tài liệu ôn tập ghi Minh Huệ “bắt đầu viết năm 1951”; năm 1951 thật ra là năm bài thơ ra đời, còn ông đã làm thơ từ những năm trước đó.
Tháng 10/2003 và chiếc đồng hồ dừng lúc 7 giờ 15
Minh Huệ mất ở Vinh vào tháng 10/2003, sau hơn hai tháng nằm khoa hồi sức cấp cứu. Hai tờ báo đưa tin ngay hôm ấy, Tuổi Trẻ và VietNamNet, đều ghi ngày 11/10/2003, thọ 77 tuổi; trang của Bảo tàng Văn học Việt Nam lại ghi ngày 1/10/2003. Tối hôm đó, Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ An nói lời vĩnh biệt ông trên đài truyền hình tỉnh.
Bảo tàng Văn học hiện giữ một kỷ vật của ông: chiếc đồng hồ để bàn hình chiếc chìa khóa, mặt số La Mã, nhà thơ mang về sau một chuyến công tác ở Liên Xô. Theo lời người con dâu kể với bảo tàng, ngày ông mất chiếc đồng hồ cũng ngừng chạy, kim dừng ở 7 giờ 15; khi bảo tàng sưu tầm hiện vật này năm 2013, người ta vẫn để nguyên kim ở vị trí ấy.
Hỏi nhanh về nhà thơ Minh Huệ
Minh Huệ tên thật là gì?
Tên khai sinh của ông là Nguyễn Đức Thái. Minh Huệ là bút danh chính; ông còn ký Mai Quốc Minh và Nguyễn Thái.
Minh Huệ có gặp Bác Hồ trong đêm được kể ở bài thơ không?
Không. Khi viết bài thơ, ông ở Nghệ An và chưa từng gặp Bác; câu chuyện do anh Chắt, người bảo vệ của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, kể lại cho ông nghe vào mùa đông năm 1950.
Minh Huệ được giải thưởng gì?
Ông được Giải nhất của Chi hội Văn nghệ kháng chiến Khu Bốn năm 1954, Giải thưởng Nguyễn Du của Nghệ Tĩnh năm 1986 và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 (truy tặng).