Soạn bài Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng” (Phan Huy Dũng) giúp em làm sáu câu hỏi sau khi đọc ở trang 57, Bài 7 Hồn thơ muôn điệu, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập hai. Đây là văn bản nghị luận văn học duy nhất của bài học, đứng sau hai bài thơ Tiếng Việt và Mưa xuân. Muốn làm tốt, em nên đọc lại bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu trước, vì người viết dẫn rất nhiều câu thơ để chứng minh.
Tìm hiểu chung về văn bản Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu
Văn bản ngắn nhưng nhiều thuật ngữ (luận đề, cá biệt hóa, hình tượng hóa). Em hãy nắm khung chung sau đây.

- Tác giả: Phan Huy Dũng; SGK không kèm tiểu sử chi tiết.
- Xuất xứ: trích từ cuốn Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2009), theo chú thích SGK do các trang giải chép lại.
- Thể loại: nghị luận văn học, cụ thể là nghị luận về một bài thơ.
- Đối tượng bàn luận: bài thơ Vội vàng in trong tập Thơ thơ (1938) của Xuân Diệu (1916 – 1985), nhà thơ được Hoài Thanh gọi là mới nhất trong các nhà Thơ mới.
- Luận đề của văn bản: cách Xuân Diệu trình bày “luận đề” trong Vội vàng rất độc đáo: luận đề không mới, nhưng được ông biến thành của riêng bằng cảm xúc nồng nàn và cá tính sáng tạo.
- Bố cục: năm đoạn đánh số. Đoạn (1): Vội vàng là bài thơ ý tưởng. Đoạn (2): bài thơ được cấu tứ theo một luận đề và có dáng dấp lập luận lô-gíc. Đoạn (3): luận đề ấy không phải phát minh riêng của Xuân Diệu. Đoạn (4): sức hấp dẫn đến từ sự cá biệt hóa của nhà thơ. Đoạn (5): câu kết giàu hình ảnh.
- Nghệ thuật: cách lập luận chặt, có đối thoại với cách hiểu khác; bằng chứng là chính các câu thơ, đặt trong ngoặc đơn ngay sau lí lẽ; ngôn ngữ phê bình vừa chính xác vừa giàu hình ảnh, cảm xúc.
Mạch lập luận của văn bản
Trước khi trả lời, em có thể hình dung bài viết như một chuỗi bốn bước:
- Bước 1, nhận diện: Vội vàng có hẳn một luận đề, bố cục bài thơ giống một bài văn lập luận (có thể chêm các quan hệ từ bởi lẽ, nhưng, vì vậy giữa các đoạn; trong bài đã có sẵn những từ ngữ quen thuộc của văn lập luận như nghĩa là, nên, phải chăng).
- Bước 2, đặt giới hạn: không vì thế mà coi giá trị bài thơ chỉ là giá trị của luận đề; luận đề đã xuất hiện trong văn học châu Âu thế kỉ XIX, lại có họ hàng xa với thơ cổ phương Đông.
- Bước 3, chứng minh cái riêng: Xuân Diệu thổi hồn vào luận đề bằng cảm giác, hình ảnh, nhịp điệu và cách liệt kê không dứt.
- Bước 4, kết luận: sự “minh họa” luận đề không giết chết thơ, trái lại làm tiếng thơ say đắm hơn.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 57
Câu 1 (trang 57): Xác định vấn đề bàn luận căn cứ vào nhan đề
Căn cứ vào nhan đề bài viết, hãy xác định vấn đề được bàn luận trong bài nghị luận.
Trả lời: Nhan đề đã gói trọn luận đề của bài viết: tác giả bàn về cách Xuân Diệu nói ra luận đề trong Vội vàng, một cách nói rất riêng. Cần chú ý hai chữ then chốt. “Luận đề” ở đây là tư tưởng mà bài thơ muốn chứng minh: tuổi trẻ ngắn ngủi nên phải sống gấp, tận hưởng ngay. “Độc đáo” cho biết điều người viết quan tâm không phải bản thân tư tưởng ấy, mà là cách nhà thơ nói ra nó.
Câu 2 (trang 57): Các luận điểm và mối quan hệ giữa chúng
Trong bài nghị luận, tác giả đã trình bày những luận điểm nào? Nêu mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
Trả lời:
| Đoạn | Luận điểm |
|---|---|
| (1) – (2) | Vội vàng là một bài thơ luận đề: toàn bộ bài thơ dựng trên tư tưởng phải tận hưởng gấp những niềm vui trần thế vì đời người có hạn; mỗi đoạn thơ là một luận điểm, giữa chúng có quan hệ lô-gíc rõ ràng. |
| (3) | Luận đề ấy có nét mới so với thơ truyền thống nhưng không do Xuân Diệu nghĩ ra: nó gắn với ý thức cá nhân trong văn chương châu Âu thế kỉ XIX, đồng thời có điểm gặp với ý thơ cầm đuốc chơi đêm của Lý Bạch, Tô Thức, Nguyễn Trãi. |
| (4) | Cái làm nên sức hấp dẫn là sự cá biệt hóa: Xuân Diệu hình tượng hóa cuộc đời, thời gian thành thực thể sống động; tạo nhịp điệu cuốn người đọc; tận dụng phép liệt kê và kết từ “và” để bày tỏ niềm yêu đời không dứt. |
| (5) | Khái quát lại: bàn tay của Xuân Diệu luôn chìa ra mọi phía với khát khao giao cảm. |
Mối quan hệ: các luận điểm nối nhau theo trình tự: thừa nhận, đặt giới hạn rồi mới khẳng định. Luận điểm đầu xác nhận đặc điểm bề nổi; luận điểm thứ hai hạn chế đánh giá quá đà về đặc điểm ấy; luận điểm thứ ba, quan trọng nhất, chỉ ra cái riêng đích thực. Hai luận điểm trước dọn đường để luận điểm thứ ba nổi bật, nên trật tự không thể đảo.
Câu 3 (trang 57): Lí lẽ và bằng chứng ở phần (4)
Xác định các lí lẽ và bằng chứng mà tác giả sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm được trình bày trong phần (4).
Trả lời: Luận điểm của phần (4) là: “Luận đề trở nên hấp dẫn, trở nên mới mẻ chính nhờ phần cá biệt hoá của Xuân Diệu”. Bảng dưới đây tách riêng từng lí lẽ và dẫn chứng đi kèm:
| Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|
| Là nhà thơ của cảm giác, Xuân Diệu không để “cuộc đời”, “thời gian” hiện ra như khái niệm trừu tượng mà biến chúng thành một thực thể có màu, có hương, có vị. | Cuộc đời là nắng, gió, là đồng nội xanh rì, là tuần tháng mật của ong bướm, là khúc tình si, cặp môi gần…; nhà thơ có thể tắt, buộc, ôm, riết, say, thâu, cắn nó. |
| Đối tượng ấy khơi dậy trong lòng nhà thơ đủ loại cảm xúc. | Bâng khuâng tiếc cả đất trời; ngỡ gió hờn vì phải bay đi; ngỡ chim sợ độ phai tàn. |
| Nhà thơ tin đến mức như bị “tự kỉ ám thị”, hối hả níu giữ, van vỉ rồi lao vào cuộc chạy đua với thời gian. | Câu thơ than thở chẳng bao giờ nữa, rồi lời giục mau đi thôi khi mùa chưa ngả chiều. |
| Người đọc cũng bị nhịp thơ cuốn theo. | Thể năm chữ dồn dập chuyển sang câu tám chữ; điệp ngữ này đây; chữ ngon đặt đúng chỗ ngắt nhịp trong câu “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; câu kết “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”. |
| Ngay trong khung lập luận cứng, bản sắc Xuân Diệu vẫn lộ ra qua thủ pháp liệt kê: tham cả chất lẫn lượng, nói mãi chưa thỏa. | Một ý về ong bướm kéo dài thành bốn câu, rồi thêm câu bắt đầu bằng và này đây; câu “Và non nước, và cây, và cỏ rạng”; tần suất rất cao của kết từ và trong thơ ông. |
Nhận xét: lí lẽ nào cũng đi kèm dẫn chứng thơ cụ thể, phần lớn được chèn ngay trong câu văn, khiến lập luận vừa chặt chẽ vừa sinh động.
Câu 4 (trang 57): Ý kiến nhận xét trái chiều và tác dụng
Trong bài nghị luận, tác giả có nêu ý kiến nhận xét trái chiều. Đó là ý kiến nào? Việc nêu ý kiến đó có tác dụng gì?
Trả lời:
- Ý kiến trái chiều: có thể có người (thậm chí cả chính Xuân Diệu trong ý thức sáng tác) cho rằng sức hút của Vội vàng nằm ở bản thân luận đề, tức là bài thơ hay vì tư tưởng sống vội mà nó chứng minh. Ở đoạn (3), tác giả cảnh báo không nên coi giá trị thẩm mĩ của Vội vàng chỉ là giá trị của luận đề; sang đoạn (4), ông nhắc lại suy nghĩ có thể có của nhà thơ rồi phản bác bằng câu “Nhưng thực tế là…”.
- Tác dụng:
- Tạo thế đối thoại, làm lập luận khách quan, thuyết phục hơn: người viết không áp đặt mà cân nhắc cả cách nghĩ khác.
- Làm nổi bật luận điểm chính nhờ phép đối lập: chính vì luận đề không phải phát minh, nên cái riêng của Xuân Diệu phải nằm ở chỗ khác, ở cảm xúc và cá tính.
- Gợi cho người đọc một bài học về cách đọc thơ: đừng chỉ tìm tư tưởng, hãy cảm nhận cách tư tưởng được nói ra.
Câu 5 (trang 57): Ý kiến của tác giả về quan niệm sống của Xuân Diệu
Thông qua bài nghị luận trên, em thấy tác giả có ý kiến như thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu? Em có tán thành ý kiến đó không? Vì sao?
Trả lời:
- Ý kiến của người viết: Phan Huy Dũng tóm lối sống mà Vội vàng đề xuất là “phải tận hưởng gấp gấp những lạc thú cuộc đời, bởi đời người hữu hạn, tuổi trẻ có kì mà thời gian trôi như nước xiết”. Ông không phê phán quan niệm này; ngược lại, ông trân trọng việc Xuân Diệu biến nó thành “điều tâm huyết” riêng của một người yêu đời tha thiết, coi đó là biểu hiện của khát khao giao cảm với đời.
- Em tán thành, với cách hiểu đúng về chữ “vội vàng”. Sống vội ở đây không phải là ăn chơi, hưởng thụ ích kỉ, mà là trân trọng từng khoảnh khắc tuổi trẻ, biết rung động trước vẻ đẹp quanh mình và không để thời gian trôi qua vô ích. Chính Xuân Diệu đã nói rõ ý thức về thời gian một đi không trở lại:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Với học sinh hôm nay, quan niệm ấy nhắc em học tập, rèn luyện, yêu thương hết mình khi còn trẻ. Tuy vậy, “vội” cũng cần đi cùng tỉnh táo: sống nhanh mà thiếu định hướng thì dễ hóa thành gấp gáp, nông nổi.
Câu 6 (trang 57): Đặc điểm riêng của Vội vàng trong “muôn điệu” của “tâm hồn” thơ
Theo cảm nhận của tác giả bài nghị luận, trong “muôn điệu” của “tâm hồn” thơ, bài thơ Vội vàng có đặc điểm riêng nào?
Trả lời:
- Theo Phan Huy Dũng, nét riêng của Vội vàng là một bài thơ luận đề mà không khô khan. Tư tưởng chung được Xuân Diệu thấm đẫm cảm xúc nồng nhiệt, biến thành điều ông tự chiêm nghiệm và tha thiết gửi gắm.
- Cái riêng ấy hiện ra ở mấy điểm: cuộc đời được cảm nhận bằng mọi giác quan như một người tình; nhịp thơ biến đổi từ năm chữ sang tám chữ như cảm xúc tràn bờ; những câu liệt kê nối nhau bằng chữ “và” như không muốn dừng.
- Ngay khổ mở đầu đã cho thấy cái tôi muốn đoạt quyền tạo hóa để giữ lại cái đẹp:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi. - Vì thế, giữa nhiều điệu tâm hồn thơ trong Bài 7, Vội vàng là điệu của khát khao giao cảm, của một trái tim yêu đời đến cuống quýt. Đọc thêm bài viết về phong cách sáng tác của Xuân Diệu sẽ giúp em thấy đặc điểm này xuyên suốt thơ ông.
Bài học về cách viết văn nghị luận về một bài thơ
Văn bản của Phan Huy Dũng là mẫu tốt cho phần Viết của Bài 7. Em có thể học mấy cách làm sau:
- Nêu đặc điểm nổi bật trước, rồi đào sâu: người viết không phân tích lần lượt từng câu thơ mà chọn một góc nhìn (bài thơ luận đề) để soi toàn bộ tác phẩm.
- Biết giới hạn nhận định của mình: thừa nhận luận đề không mới giúp bài viết đáng tin hơn so với lối khen tuyệt đối.
- Đưa dẫn chứng gọn: chỉ trích vài chữ, một câu thơ trong ngoặc đơn, ngay sau lí lẽ cần chứng minh, tránh chép cả đoạn dài.
- Kết bài bằng hình ảnh: câu cuối ví thơ Xuân Diệu như bàn tay ấm áp chìa ra mọi hướng, để lại dư âm, thay vì nhắc lại ý đã nói.
Bên cạnh văn bản này, em có thể đọc thêm các bài phân tích Vội vàng và phân tích 13 câu đầu bài Vội vàng để so sánh cách các tác giả khác tiếp cận cùng một bài thơ.
Kết luận
Qua bài soạn, em cần nắm: văn bản của Phan Huy Dũng khẳng định Vội vàng là bài thơ luận đề, nhưng luận đề sống vội vì đời người ngắn ngủi không phải phát minh của Xuân Diệu; sức hấp dẫn đích thực nằm ở sự cá biệt hóa bằng cảm giác, hình ảnh, nhịp điệu và phép liệt kê của nhà thơ. Cách lập luận thừa nhận trước, giới hạn sau, khẳng định cuối cùng lối dẫn chứng gọn trong câu là kinh nghiệm quý khi em viết bài phân tích một bài thơ.
Xem thêm: