Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình theo sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (tập 2, Bài 8 “Tiếng nói của lương tri”, trang 68 – 70) giúp em trả lời các câu hỏi Trước khi đọc, Đọc văn bản, Sau khi đọc và hoàn thành đoạn văn Viết kết nối với đọc. Bài soạn dành cho sách Chân trời sáng tạo có ở bài Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình – Chân trời sáng tạo.
Trước khi đọc văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
Phần khởi động gợi lại một sự kiện lịch sử có liên quan trực tiếp đến vấn đề văn bản bàn luận: thảm họa bom nguyên tử.

Câu hỏi trước khi đọc (trang 68)
Em hãy cho biết đất nước nào đã phải hứng chịu những quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới. Vì sao hằng năm ở đất nước đó, người ta vẫn tổ chức tưởng niệm ngày bị ném bom nguyên tử?
Trả lời:
- Đất nước đó là Nhật Bản. Sáng 6/8/1945, Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hi-rô-si-ma; đến 9/8/1945, Na-ga-xa-ki trở thành mục tiêu của quả bom thứ hai. Hàng chục vạn người chết ngay lập tức hoặc trong những năm sau vì bỏng, nhiễm xạ.
- Hằng năm, Nhật Bản tổ chức lễ tưởng niệm để tưởng nhớ những nạn nhân vô tội, chia sẻ nỗi đau với những người sống sót và gia đình họ; đồng thời nhắc nhở thế giới rằng vũ khí hạt nhân tàn khốc đến mức nào, kêu gọi loại bỏ loại vũ khí này và gìn giữ hòa bình để thảm kịch không bao giờ lặp lại.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi trong khi đọc
Các câu hỏi bên lề hướng em chú ý đến nguy cơ được nêu, cách dùng lí lẽ, bằng chứng và lời bình luận của tác giả.
Câu 1: Nguy cơ nhân loại đang đối mặt (trang 68)
Nhân loại đang đối mặt với nguy cơ gì?
Trả lời:
Đó là hiểm họa một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Tính đến thời điểm tác giả phát biểu (tháng 8 năm 1986), đã có hơn năm vạn đầu đạn hạt nhân được bố trí khắp hành tinh, đủ sức xóa sạch mọi dấu vết sự sống trên Trái Đất nhiều lần.
Câu 2: Cách dùng lí lẽ tác động đến tình cảm và nhận thức (trang 68)
Chú ý cách sử dụng lí lẽ để tác động đến tình cảm và nhận thức của người nghe, người đọc.
Trả lời:
- Tác giả mở đầu bằng câu hỏi gây chú ý “Chúng ta đang ở đâu?”, kéo người nghe vào vấn đề như việc của chính họ.
- Ông quy đổi con số trừu tượng thành hình ảnh cụ thể, gần gũi: mỗi người, kể cả trẻ em, như đang ngồi trên một thùng thuốc nổ bốn tấn. Cách nói “nôm na” ấy khiến ai cũng thấy hiểm họa đang kề bên mình.
- Ông dùng hình ảnh điển tích thanh gươm Đa-mô-clét treo lơ lửng trên đầu để gợi cảm giác bất an thường trực.
Nhờ vậy, lí lẽ vừa tác động vào nhận thức (hiểu được quy mô nguy cơ), vừa chạm tới tình cảm (lo sợ, xót xa, muốn hành động).
Câu 3: Tác dụng của bằng chứng kèm phân tích, so sánh (trang 69)
Cách nêu bằng chứng kèm phân tích, so sánh có tác dụng gì?
Trả lời:
Tác giả đặt từng khoản chi cho vũ khí cạnh một nhu cầu sống còn của con người: chương trình cứu trợ trẻ em của UNICEF với giá máy bay ném bom; chương trình phòng sốt rét với giá tàu sân bay; lương thực cho người đói với giá tên lửa MX; xóa mù chữ với giá tàu ngầm hạt nhân. Cách so sánh này:
- Làm lộ rõ sự chênh lệch đến phi lí giữa tiền cho chết chóc và tiền cho sự sống.
- Khiến số liệu khô khan trở nên dễ hình dung, gây ấn tượng mạnh.
- Tăng tính khách quan, thuyết phục, buộc người đọc tự rút ra kết luận: chạy đua vũ trang đang cướp đi cơ hội sống của hàng trăm triệu người.
Câu 4: Cách bình luận của tác giả về vấn đề (trang 69)
Chú ý cách bình luận của tác giả về vấn đề.
Trả lời:
Tác giả bình luận bằng giọng vừa trí tuệ vừa mỉa mai, cay đắng. Ông gợi nhắc quá trình hình thành sự sống kéo dài hàng trăm triệu năm, rồi châm biếm rằng trí tuệ con người trong “thời đại hoàng kim này của khoa học” thật đáng hổ thẹn khi nghĩ ra cách chỉ cần một cú nhấn nút là xóa sạch tất cả. Lời bình luận có sức nặng vì đặt sự vĩ đại của tự nhiên cạnh sự điên rồ của con người, qua đó khẳng định chạy đua vũ trang là việc trái với lẽ phải và trí khôn.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi (trang 70)
Sáu câu hỏi sau khi đọc giúp em khái quát luận đề, luận điểm, nghệ thuật lập luận và thông điệp của văn bản.
Câu 1: Luận đề, luận điểm và mối quan hệ (trang 70)
Nêu luận đề của bài nghị luận. Từ luận đề đó, tác giả triển khai thành những luận điểm nào? Chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
Trả lời:
Luận đề: chống nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
Các luận điểm:
- Luận điểm 1: kho vũ khí hạt nhân khổng lồ đang đe dọa hủy diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh.
- Luận điểm 2: cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém, tước đi điều kiện cải thiện đời sống của hàng trăm triệu người.
- Luận điểm 3: chạy đua vũ trang đi ngược lại lí trí con người và quy luật của tự nhiên.
- Luận điểm 4: nhân loại phải lên tiếng, đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân; đề nghị lập nhà băng lưu trữ trí nhớ.
Mối quan hệ: các luận điểm nối tiếp theo logic chặt chẽ: chỉ ra nguy cơ (1), chứng minh sự phi lí và tác hại về nhiều phương diện (2, 3), từ đó dẫn đến lời kêu gọi hành động (4). Ba luận điểm đầu là cơ sở, luận điểm cuối là kết luận tất yếu, tất cả cùng làm sáng tỏ luận đề.
Câu 2: Phân tích lí lẽ, bằng chứng của một luận điểm (trang 70)
Chọn một luận điểm, phân tích cách dùng lí lẽ, bằng chứng và chỉ ra vai trò của lí lẽ, bằng chứng trong việc làm nổi bật luận điểm đó.
Trả lời:
Luận điểm được chọn phân tích là luận điểm 2: chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém, cướp đi cơ hội sống tốt đẹp hơn của con người.
- Lí lẽ: tác giả nhận định việc bảo tồn sự sống còn ít tốn kém hơn “dịch hạch” hạt nhân; chỉ riêng sự hiện diện của kho vũ khí đã tước của nhân loại cơ hội có một cuộc sống khá hơn.
- Bằng chứng: bốn cặp so sánh trong bốn lĩnh vực: cứu trợ trẻ em (UNICEF, 100 tỉ đô la), y tế (phòng sốt rét, cứu trẻ em châu Phi), lương thực (575 triệu người thiếu ăn), giáo dục (xóa mù chữ).
- Vai trò: lí lẽ nêu nhận định khái quát, bằng chứng cụ thể hóa và chứng minh nhận định ấy. Bằng chứng xác thực, có nguồn, được so sánh trực tiếp khiến luận điểm trở nên hiển nhiên, khó bác bỏ, đồng thời khơi dậy sự phẫn nộ trước sự lãng phí.
Câu 3: Bối cảnh ra đời và tầm quan trọng của vấn đề (trang 70)
Dựa vào nội dung văn bản và các thông tin giới thiệu, chú thích, cho biết văn bản được viết ra trong bối cảnh nào của thế giới. Từ đó, nêu tầm quan trọng của vấn đề được bàn luận.
Trả lời:
- Bối cảnh: năm 1986, thế giới đang trong thời kì Chiến tranh lạnh, các cường quốc ráo riết chạy đua vũ trang, tích trữ hàng vạn đầu đạn hạt nhân. Tháng 8 năm ấy, lãnh đạo sáu quốc gia (Mê-hi-cô, Ấn Độ, Thụy Điển, Hi Lạp, Ác-hen-ti-na và Tan-da-ni-a) họp mặt tại Mê-hi-cô, kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang; Mác-két được mời dự và đọc bài tham luận này.
- Tầm quan trọng: chiến tranh hạt nhân nếu xảy ra sẽ hủy diệt cả nhân loại, không phân biệt quốc gia hay chính kiến. Vì vậy, đây là vấn đề sống còn, mang tính toàn cầu và cấp bách, liên quan đến từng con người trên hành tinh.
Câu 4: Ý kiến chủ quan hay khách quan và cách triển khai đoạn văn (trang 70)
Chiến tranh hạt nhân “Không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa” là ý kiến chủ quan hay ý kiến khách quan? Để thuyết phục người đọc tin vào điều đó, tác giả đã chọn cách triển khai đoạn văn như thế nào?
Trả lời:
- Nhận định trên thuộc loại ý kiến chủ quan: nhận định, đánh giá của riêng tác giả về bản chất của chạy đua vũ trang.
- Để thuyết phục, tác giả dựa vào bằng chứng khách quan từ khoa học tự nhiên: con bướm cần tới 380 triệu năm tiến hóa mới bay lên được, bông hồng cần thêm 180 triệu năm nữa mới nở, còn loài người phải qua bốn kỉ địa chất mới có tiếng hát hay hơn tiếng chim. Ông đặt quá trình dài lâu ấy cạnh khoảnh khắc bấm nút hủy diệt, tạo đối lập gay gắt. Kết hợp với giọng mỉa mai về “thời đại hoàng kim” của khoa học, đoạn văn khiến ý kiến chủ quan trở nên có cơ sở và giàu sức thuyết phục.
Câu 5: Thái độ của Mác-két và cách thể hiện (trang 70)
Khi bàn về vấn đề được nêu, Mác-két bộc lộ thái độ gì? Chỉ ra cách thể hiện thái độ của tác giả.
Trả lời:
- Thái độ: lo lắng, day dứt trước nguy cơ hủy diệt; phẫn nộ, lên án những thế lực chạy đua vũ trang; xót xa cho những con người nghèo khổ bị tước đoạt cơ hội sống; trân trọng sự sống; khiêm tốn mà kiên quyết trong lời kêu gọi.
- Cách thể hiện: qua từ ngữ giàu sắc thái (ghê gớm, kinh khủng, dã man, ti tiện); qua giọng điệu khi châm biếm, khi tha thiết; qua lời tự bộc bạch “Tôi rất khiêm tốn nhưng cũng rất kiên quyết đề nghị…”; qua đề xuất giàu tính biểu tượng về nhà băng lưu trữ trí nhớ.
Câu 6: Thông điệp và ý nghĩa trong tình hình hiện nay (trang 70)
Qua văn bản này tác giả muốn truyền đi thông điệp gì? Trong tình hình hiện nay của thế giới, thông điệp đó còn có ý nghĩa nữa không? Vì sao?
Trả lời:
Thông điệp: nhân loại phải đoàn kết lên tiếng, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, chấm dứt chạy đua vũ trang để giữ gìn sự sống và vun đắp một thế giới yên bình, công bằng hơn.
Ý nghĩa hiện nay: thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị. Ngày nay, nhiều quốc gia vẫn sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn; xung đột vũ trang ở nhiều khu vực khiến nguy cơ sử dụng vũ khí hủy diệt chưa bao giờ biến mất. Trong khi đó, hàng trăm triệu người vẫn thiếu ăn, thiếu thuốc, thiếu trường học. Lời kêu gọi của Mác-két vì vậy vẫn là tiếng nói của lương tri, nhắc mỗi người trân trọng và bảo vệ hòa bình.
Viết kết nối với đọc (trang 70)
Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) với chủ đề: Vũ khí hạt nhân đang là hiểm họa đe dọa sự tồn vong của nhân loại.
Đoạn văn tham khảo:
Hơn tám mươi năm sau thảm kịch Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki, vũ khí hạt nhân vẫn là bóng đen treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Chỉ một quả bom có thể biến cả thành phố thành tro bụi trong vài giây, còn bụi phóng xạ để lại di chứng cho nhiều thế hệ. Điều đáng sợ là thế giới hiện nay vẫn còn hàng nghìn đầu đạn hạt nhân, nhiều chiếc luôn ở trạng thái sẵn sàng phóng. Một sai sót kĩ thuật, một quyết định nóng vội hay một cuộc xung đột leo thang đều có thể châm ngòi cho thảm họa. Nếu chiến tranh hạt nhân xảy ra, sẽ không có người chiến thắng, bởi khói bụi có thể che phủ bầu trời, làm sụp đổ mùa màng và sự sống trên toàn cầu. Bên cạnh đó, tiền của đổ vào vũ khí là tiền bị lấy đi từ trường học, bệnh viện, bữa ăn của người nghèo. Vì vậy, giải trừ vũ khí hạt nhân không chỉ là việc của các chính phủ mà còn là mong muốn của mỗi con người. Là học sinh, em có thể góp tiếng nói nhỏ bé bằng cách tìm hiểu lịch sử, lan tỏa thông điệp hòa bình và sống bao dung với mọi người.
Kết luận
Với sách Kết nối tri thức, trọng tâm của bài là nhận biết luận đề, luận điểm, cách dùng lí lẽ và bằng chứng, phân biệt ý kiến chủ quan với bằng chứng khách quan. Thông điệp chống chiến tranh hạt nhân của Mác-két đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Xem thêm: