Soạn bài Bài ca chúc Tết thanh niên giúp em trả lời đủ 5 câu hỏi sau khi đọc ở trang 78, Bài 8 Tiếng nói của lương tri, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (tập hai). Bài thơ là lời chúc Tết mà nhà chí sĩ Phan Bội Châu gửi lớp trẻ trong những năm ông bị giam lỏng ở Huế, đồng thời là lời giục giã thanh niên đứng dậy lo việc nước. Dưới đây là phần tìm hiểu chung, toàn văn bài thơ, giải thích từ khó và gợi ý trả lời từng câu hỏi.
Tìm hiểu chung về Bài ca chúc Tết thanh niên
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm vài thông tin cơ bản về tác giả, hoàn cảnh ra đời, thể loại và bố cục của bài thơ.

- Tác giả: Phan Bội Châu (1867 – 1940), hiệu Sào Nam, quê Nam Đàn, Nghệ An; nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn đầu thế kỉ XX, người khởi xướng phong trào Đông du. Từ cuối năm 1925 đến khi mất, ông bị chính quyền thực dân giam lỏng ở Bến Ngự (Huế).
- Hoàn cảnh ra đời: bài thơ được viết vào dịp Tết năm 1927. Khi ấy nước ta còn dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, các phong trào cứu nước trước đó lần lượt bị dập tắt; bản thân tác giả mất tự do, chỉ còn biết gửi lòng mình vào lớp người trẻ tuổi.
- Xuất xứ: SGK in theo cuốn Phan Bội Châu – Tác phẩm chọn lọc (Trần Hải Yến giới thiệu và tuyển chọn, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009).
- Thể loại: hát nói, một thể thơ có vần, nhịp linh hoạt; câu thơ dài ngắn không đều, có câu chen chữ Hán.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (kết hợp nghị luận trong lời kêu gọi).
- Bố cục: 2 đoạn. Đoạn một (8 dòng đầu, đến “lũ đầu xanh”) là tâm sự của người chiến sĩ cách mạng trước mùa xuân mới; đoạn hai (từ “Thưa các cô, các chị, lại các anh” đến hết) là lời nhắn nhủ và kì vọng gửi lớp trẻ.
Văn bản Bài ca chúc Tết thanh niên (Phan Bội Châu)
Phan Bội Châu mất năm 1940, tác phẩm của ông đã thuộc phạm vi công cộng, vì vậy em có thể đọc lại toàn văn bài thơ theo SGK ngay dưới đây.
Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy,
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng.
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng.
Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót.
Trời đất may còn thân sống sót;
Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh.
Thưa các cô, các chị, lại các anh:
Đời đã mới, người càng nên đổi mới.
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội,
Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn.
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan.
Dây thành bại quyết ghe phen liên hiệp lại,
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi:
Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần.
Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn,
Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa,
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ,
Mới thế này là mới hỡi chư quân
Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân…
Giải thích một số từ ngữ:
- Bên án: bên chiếc bàn (án thư) – gợi hình ảnh người viết ngồi bên bàn lúc trời vừa sáng.
- Hai mươi năm lẻ: hơn hai mươi năm, tính từ khi tác giả xuất dương (1905) cho tới lúc viết bài thơ.
- Lũ đầu xanh: lớp người còn trẻ tuổi; tác giả gọi thân mật, trìu mến.
- Tân vận hội: thời cơ mới, vận hội mới mở ra cho đất nước.
- Cựu giang sơn: non sông cũ, đất nước mà ông cha để lại.
- Ghe phen: nhiều lần, nhiều phen.
- Hữu chí: người có chí hướng, có hoài bão.
- Chư quân: các anh, các bạn (cách gọi trang trọng với nhiều người).
- “Nhật nhật tân, hựu nhật tân”: ngày ngày mới, lại ngày mới – lời răn trong sách Đại học của Nho gia, khuyên con người luôn tự đổi mới mình.
Soạn bài Bài ca chúc Tết thanh niên – Sau khi đọc (trang 78)
Phần câu hỏi sau khi đọc gồm 5 câu. Mỗi câu có đề bài và gợi ý trả lời ngắn gọn, bám vào từ ngữ, hình ảnh của bài thơ.
Câu 1: Hoàn cảnh đất nước và tình cảnh tác giả (trang 78)
Cho biết bài thơ được viết trong hoàn cảnh nào của đất nước và tình cảnh nào của tác giả. Dựa vào đâu em biết được những điều đó?
Trả lời:
- Hoàn cảnh đất nước: năm 1927, Việt Nam vẫn là thuộc địa của thực dân Pháp. Các con đường cứu nước theo lối cũ (Cần Vương), rồi Đông du, Duy tân… đều đã thất bại; nhân dân sống kiếp mất nước, con đường giải phóng dân tộc còn chưa rõ.
- Tình cảnh tác giả: sau hơn hai mươi năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Phan Bội Châu bị bắt (1925), đưa về nước xét xử. Nhờ phong trào đấu tranh của đồng bào cả nước, ông thoát án nặng nhưng bị đưa về giam lỏng ở Huế. Ông vẫn sống, song đã mất quyền tự do đi lại, hoạt động, chỉ còn cách gửi gắm tâm huyết vào thế hệ sau.
- Căn cứ để biết:
- Phần giới thiệu tác giả, chú thích về hoàn cảnh ra đời in trong SGK.
- Chính những câu thơ: “Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót”, “Trời đất may còn thân sống sót” cho thấy một đời hoạt động nhiều cay đắng và thân phận kẻ sống sót sau tù đày; câu “Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” cho thấy đất nước đang bị nô dịch; câu “Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội” gợi một thời điểm đang đổi thay.
Câu 2: Bố cục và mạch cảm xúc (trang 78)
Nêu bố cục của bài thơ. Mạch cảm xúc của bài thơ được thể hiện như thế nào qua bố cục?
Trả lời:
Bố cục: 2 đoạn.
- Đoạn một (từ đầu đến “Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh”): tiếng gọi đón xuân và tâm sự của nhà chí sĩ khi nhìn lại hơn hai mươi năm đã qua, cùng tình cảnh hiện tại của mình.
- Đoạn hai (từ “Thưa các cô, các chị, lại các anh” đến hết): lời nhắn nhủ tha thiết và niềm kì vọng lớn lao mà tác giả đặt vào lớp thanh niên.
Mạch cảm xúc: cảm xúc đi từ lắng xuống đến dâng lên.
- Mở đầu là tiếng gọi “Dậy! Dậy! Dậy!” rộn rã đón xuân, rồi giọng thơ chùng lại khi tác giả tự nói về mình: thẹn, buồn, tủi, chua xót.
- Từ chỗ tự an ủi “khuây khỏa” bằng lớp trẻ, cảm xúc chuyển sang đoạn hai sôi nổi, hăm hở: lời thưa trân trọng, rồi hàng loạt lời khuyên, lời giục giã mạnh mẽ, kết lại bằng niềm tin vào sự đổi mới.
- Hai đoạn tưởng đối lập nhưng nối liền nhau: chính nỗi đau mất nước và nỗi day dứt của người đi trước đã sinh ra niềm hi vọng gửi về phía người đi sau.
Câu 3: Tâm trạng tác giả và đặc điểm lời thơ (trang 78)
Phân tích tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ. Nhận xét về đặc điểm của lời thơ biểu đạt tâm trạng đó.
Trả lời:
a. Ở đoạn một
- Ba tiếng “Dậy!” đặt liền nhau, cùng tiếng gà gáy, tiếng chim chào mừng, cho thấy một tâm hồn đang náo nức đón xuân, đón một buổi sáng mới; đó cũng là mong mỏi đất nước thức tỉnh.
- Nhưng ngay sau đó, tác giả hỏi mùa xuân: “Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?” Câu hỏi không chờ lời đáp, giống như người tự nói với lòng mình. Liền theo là chuỗi cảm xúc thẹn – buồn – tủi trải ra cùng sông, núi, trăng: một người yêu nước tự thấy mình chưa làm tròn việc lớn, nỗi buồn ấy lớn như non sông.
- Câu “Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót” gom cả một quãng đời bôn ba, thất bại, tù đày; câu “Trời đất may còn thân sống sót” vừa là lời tự giễu vừa là lời cảm tạ trời đất. Niềm an ủi duy nhất là những tháng ngày được gần gũi lớp trẻ.
- Đặc điểm lời thơ: giọng chân thành, trầm buồn; dùng câu hỏi tu từ giống lời tự nói với mình; nhiều từ chỉ trạng thái tâm lí (thẹn, buồn, tủi, chua, xót); phép liệt kê và điệp cấu trúc “… cùng …” tạo nhịp chậm, nặng.
b. Ở đoạn hai
- Tâm trạng chuyển sang phấn chấn, tin tưởng. Lời “Thưa các cô, các chị, lại các anh” cho thấy sự trân trọng của một bậc lão thành với lớp hậu sinh.
- Tác giả hăm hở chỉ ra thời cơ, nhiệm vụ, cách hành động và lối sống cần có; cuối bài là niềm tin vào một sự đổi mới không ngừng.
- Đặc điểm lời thơ: nhiều động từ, cụm động từ mạnh (mở mắt, xúm vai, xốc vác, dựng gan óc, đánh tan, xối máu); điệp từ “cho”, “đừng ham” tạo nhịp dồn dập; câu cầu khiến, lời kêu gọi trực tiếp. Giọng thơ gần với giọng hịch, giọng diễn thuyết: hùng hồn, nóng bỏng, có sức thúc giục người nghe.
Câu 4: Kì vọng của tác giả với thế hệ trẻ (trang 78)
Bài thơ đã thể hiện kì vọng gì của tác giả với thế hệ trẻ lúc bấy giờ?
Trả lời: Phan Bội Châu đặt trọn niềm tin vào lớp trẻ và mong họ:
- Tự đổi mới mình cho hợp với thời mới: “Đời đã mới, người càng nên đổi mới”.
- Nhận ra thời cơ và gánh vác việc nước: mở mắt nhìn vận hội mới, cùng nhau ghé vai gánh lấy non sông.
- Hành động khôn khéo, vững vàng, gan góc và đoàn kết: “Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan”, dù thành hay bại cũng phải liên kết với nhau.
- Có chí và rèn luyện tinh thần: gác lối học khoa cử cũ để trau dồi ý chí, nghị lực; không chạy theo ăn chơi, ăn mặc, hưởng thụ.
- Dám hi sinh vì độc lập: đem trí tuệ, lòng can đảm và cả máu xương để xóa bỏ thân phận nô lệ.
Đó là niềm kì vọng lớn: thế hệ trẻ sẽ tiếp bước người đi trước, làm nên sự nghiệp giải phóng dân tộc mà thế hệ của ông chưa hoàn thành.
Câu 5: Ý nghĩa của lời kêu gọi hôm nay (trang 78)
Đặt trong bối cảnh cuộc sống hôm nay, lời kêu gọi tuổi trẻ thể hiện trong bài thơ có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời: Ngày nay đất nước đã độc lập, thống nhất; người trẻ không còn phải “xối máu nóng” để giành tự do như thời Phan Bội Châu. Tuy vậy, lời kêu gọi trong bài thơ vẫn còn nguyên giá trị:
- Tinh thần “đổi mới” vẫn là yêu cầu của mỗi người trẻ: không ngừng học hỏi, tiếp thu tri thức mới, thích ứng với thời đại số và hội nhập.
- Lời nhắc “đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn” vẫn đúng với giới trẻ hôm nay, khi nhiều cám dỗ của lối sống hưởng thụ, chạy theo vật chất, mải mê mạng xã hội.
- Ý thức trách nhiệm với đất nước, tinh thần đoàn kết, dám nghĩ dám làm vẫn là hành trang để thanh niên góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước phát triển.
Có thể nói, bài thơ ra đời gần một trăm năm trước nhưng vẫn như một lời chúc Tết, một lời dặn dò dành cho thanh niên của mọi thời.
Tổng kết nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: bài thơ bộc lộ nỗi niềm đau đớn, day dứt của một nhà cách mạng trước cảnh nước mất và thân phận tù đày; đồng thời gửi tới lớp trẻ lời kêu gọi tự đổi mới mình, đoàn kết, rèn chí và sẵn sàng hi sinh để giành lại độc lập. Lời chúc Tết chính là lời trao gửi trách nhiệm giữa hai thế hệ.
- Nghệ thuật: thể hát nói được vận dụng linh hoạt, câu dài ngắn đan xen; giọng thơ chuyển từ trầm lắng sang sôi nổi; câu hỏi tu từ, phép điệp, liệt kê; hệ thống động từ mạnh; kết bằng câu chữ Hán giàu tính triết lí.
Kết luận
Khi soạn Bài ca chúc Tết thanh niên, em cần nắm chắc hoàn cảnh năm 1927 và tình cảnh bị giam lỏng của Phan Bội Châu, bố cục hai đoạn với mạch cảm xúc từ trầm buồn đến sôi nổi, cùng những lời khuyên cụ thể ông gửi lớp trẻ. Cùng chủ điểm Tiếng nói của lương tri, em có thể đọc thêm bài soạn văn bản nghị luận của Mác-két để thấy tiếng nói trách nhiệm của người cầm bút ở một thời đại khác.
Xem thêm: