Soạn bài Mưa xuân (Nguyễn Bính) dưới đây hướng dẫn trả lời đầy đủ, ngắn gọn 2 câu hỏi Trước khi đọc, 3 câu gợi ý Trong khi đọc, 7 câu Sau khi đọc và bài tập Viết kết nối với đọc trang 51–53, Bài 7 “Hồn thơ muôn điệu”, SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập 2. Mỗi câu trả lời đều dẫn chứng từ bài thơ để em hiểu cách suy luận, không chỉ học thuộc đáp án.
Lưu ý: bài Mưa xuân học ở lớp 9 là bài thơ “Em là con gái trong khung cửi…” sáng tác năm 1936, khác với bài Mưa xuân (II) viết năm 1958 (“Chiều ấm mùi hương thoảng gió đưa…”) trong sách Chân trời sáng tạo lớp 8. Nếu em cần bài lớp 8, hãy xem Mưa xuân II (Nguyễn Bính) – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo.
Tìm hiểu chung về bài thơ Mưa xuân
Trước khi vào từng câu hỏi, em cần nắm vài thông tin nền về tác giả, tác phẩm và bố cục, vì hầu hết câu hỏi Sau khi đọc đều dựa trên những ý này.

- Tác giả: Nguyễn Bính (1918 – 1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính, quê làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Ông là gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, được gọi là nhà thơ “chân quê” vì hồn thơ gắn bó với làng quê Bắc Bộ và thể thơ dân tộc. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Xem thêm tiểu sử nhà thơ Nguyễn Bính.
- Xuất xứ: bài thơ sáng tác năm 1936, in trong tập Lỡ bước sang ngang (1940).
- Thể thơ: bảy chữ, gồm 10 khổ, mỗi khổ 4 dòng.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm kết hợp tự sự và miêu tả – bài thơ kể một câu chuyện tình nhỏ qua lời tự tình của cô gái.
- Nhân vật trữ tình: cô gái dệt lụa xưng “em”, đang tuổi mới lớn.
- Nội dung chính: bức tranh làng quê Bắc Bộ trong những ngày mưa xuân, hội chèo; qua đó là mối tình đầu e ấp, hẹn hò mà lỡ làng của cô gái quê, cùng niềm hi vọng chưa tắt.
Bố cục bài thơ Mưa xuân
Có thể chia bài thơ thành bốn phần theo diễn biến câu chuyện:
- Phần 1 (khổ 1): cô gái tự giới thiệu – con gái dệt lụa bên mẹ già, tâm hồn còn trong trắng.
- Phần 2 (khổ 2 – 5): mưa xuân, hội chèo về làng; tình cảm chớm nở và niềm háo hức đi xem hát.
- Phần 3 (khổ 6 – 8): ở đám hát, cô mải tìm “anh” nhưng anh không đến; buồn tủi trở về trong mưa đêm.
- Phần 4 (khổ 9 – 10): xuân tàn, hội chèo đi; lời nhắn gửi và mong ước được gặp lại.
Trước khi đọc (trang 51)
Câu 1: Chia sẻ những câu ca dao, bài thơ viết về mùa xuân (trang 51)
Chia sẻ những câu ca dao, bài thơ viết về mùa xuân mà em biết.
Trả lời:
Em có thể chia sẻ một số câu, đoạn quen thuộc:
- Ca dao: “Tháng giêng là tháng ăn chơi / Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà” – gợi nhịp sống thong thả của làng quê sau Tết.
- Truyện Kiều (Nguyễn Du): “Ngày xuân con én đưa thoi / Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” – bức tranh xuân trong trẻo, thời gian trôi nhanh.
- Hồ Chí Minh: “Mùa xuân là Tết trồng cây / Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.
- Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải): “Mọc giữa dòng sông xanh / Một bông hoa tím biếc”.
- Các bài Xuân về, Mưa xuân (II) – cũng của Nguyễn Bính.
Câu 2: Nêu cảm nhận của em về mùa xuân (trang 51)
Trả lời:
Với em, mùa xuân là mùa của sự bắt đầu. Tiết trời ấm dần, mưa phùn lất phất làm cây cối trổ lộc non, hoa đào, hoa mai nở rộ. Mùa xuân gắn với Tết – dịp cả nhà quây quần, được mặc áo mới, đi chúc Tết ông bà, thầy cô. Không khí ấy khiến lòng người nhẹ nhõm, háo hức và tràn đầy hi vọng; ai cũng muốn sống tốt hơn, đặt ra những dự định mới cho một năm mới.
Trong khi đọc (trang 51 – 52)
Khi đọc bài thơ, SGK gợi ý em chú ý ba điểm dưới đây.
Câu 1: Số tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ (trang 51)
Trả lời:
- Mỗi dòng có 7 tiếng.
- Vần chủ yếu là vần chân, gieo ở tiếng cuối các dòng 1, 2, 4 hoặc 2, 4 của mỗi khổ: “già – xa”, “bay – đầy – nay”, “tình – xinh – anh”, “sang – làng – nhàng”.
- Nhịp phổ biến 4/3 (“Em là con gái / trong khung cửi”), có chỗ 2/2/3 hoặc 2/5 tạo sự linh hoạt.
Câu 2: Khung cảnh làng quê mùa xuân (trang 51)
Trả lời:
Làng quê hiện lên với mưa xuân “phơi phới bay”, hoa xoan “lớp lớp rụng vơi đầy”, đoàn hội chèo đi ngang ngõ, xóm làng lên đèn, con đê nối hai thôn. Đó là khung cảnh bình dị, êm đềm mà rộn ràng không khí lễ hội.
Câu 3: Tâm trạng của “em” khi “anh” lỡ hẹn (trang 52)
Trả lời:
Cô gái hụt hẫng, buồn tủi: chờ mãi mà “anh chẳng sang”, trách anh đã “năm tao bảy tuyết” hò hẹn để “cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”. Trên đường về, cô “lầm lụi” một mình, con đê bỗng dài ra, mưa nặng hạt – cái lạnh của trời hòa với nỗi tủi thân trong lòng.
Sau khi đọc (trang 53)
Câu 1: Số tiếng, cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ (trang 53)
Xác định số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ.
Trả lời:
| Yếu tố | Đặc điểm trong bài Mưa xuân |
|---|---|
| Số tiếng | 7 tiếng/dòng; 10 khổ, mỗi khổ 4 dòng (thể thơ bảy chữ). |
| Gieo vần | Vần chân ở tiếng cuối dòng 1, 2, 4 hoặc dòng 2, 4: khổ 1 “già – xa”; khổ 2 “bay – đầy – nay”; khổ 7 “sang – làng – nhàng”; khổ 10 “ngày – đây – nay”. Có cả vần chính và vần gần (“tình – xinh – anh”, “đèn – hiên – xem”). |
| Ngắt nhịp | Chủ yếu 4/3 (“Bữa ấy mưa xuân / phơi phới bay”), xen 2/2/3 (“Em xin / phép mẹ / vội vàng đi”); nhịp đều mà mềm, hợp với giọng kể tâm tình. |
Câu 2: Câu chuyện của cô gái xưng “em” (trang 53)
Bài thơ là lời tự tình của một cô gái xưng “em”. Lời tự tình ấy cho biết câu chuyện gì về “em”?
Trả lời:
Đó là câu chuyện về mối tình đầu của một cô gái quê làm nghề dệt lụa:
- Cô sống cùng mẹ già, lòng “còn như cây lụa trắng”, chưa vướng bận yêu đương.
- Một ngày mưa xuân, hội chèo làng Đặng về hát ở thôn Đoài; nghe mẹ báo tin, lòng cô “giăng tơ một mối tình”, nghĩ đến “anh” – chàng trai từng hò hẹn với cô.
- Cô xin phép mẹ đi xem hát, nhưng suốt đêm mải tìm anh mà anh không đến. Cô buồn tủi trở về trong mưa lạnh.
- Xuân tàn, hội chèo lại đi qua ngõ, cô chỉ còn biết mong mùa hội năm sau để được gặp anh.
Câu chuyện giản dị, không có biến cố lớn, nhưng chứa đầy những rung động tinh tế của tâm hồn thiếu nữ.
Câu 3: Bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ (trang 53)
Xác định bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ.
Trả lời:
- Bố cục: khổ 1 – lời tự giới thiệu; khổ 2 – 5 – mưa xuân, hội chèo và niềm háo hức; khổ 6 – 8 – chờ đợi, thất vọng, buồn tủi; khổ 9 – 10 – xuân tàn và niềm mong ước.
- Mạch cảm xúc: đi theo trình tự thời gian của câu chuyện: bình yên, hồn nhiên → xao xuyến, bẽn lẽn khi tình cảm chớm nở → háo hức, tin tưởng → hụt hẫng, trách móc, tủi buồn → tiếc nuối nhưng vẫn khắc khoải hi vọng.
Câu 4: Sự thay đổi tâm trạng của cô gái (trang 53)
Em cảm nhận như thế nào về sự thay đổi tâm trạng của cô gái từ lúc “mưa xuân phơi phới bay” đến khi “mùa xuân đã cạn ngày”?
Trả lời:
- Lúc “mưa xuân phơi phới bay”: lòng cô cũng “phơi phới” như mưa – vui tươi, rộn ràng. Nghe tin hát chèo, cô “ngừng thoi”, má “bừng đỏ”, chắc mẩm “Thế nào anh ấy chả sang xem!” – một niềm tin hồn nhiên, háo hức.
- Khi chờ không thấy anh: niềm vui chuyển thành hụt hẫng, trách móc nhẹ nhàng (“Thế mà hôm nọ hát bên làng”), rồi tủi thân: “Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”.
- Đến lúc “mùa xuân đã cạn ngày”: mưa “đã ngại bay”, hoa xoan “đã nát dưới chân giày” – cảnh tàn theo cuộc hẹn dang dở. Cô tiếc nuối, buồn bã, nhưng câu hỏi “Bao giờ em mới gặp anh đây?” cho thấy cô vẫn chờ, vẫn hi vọng.
Sự thay đổi ấy rất tự nhiên, chân thật: đó là tâm trạng của một thiếu nữ lần đầu biết yêu, vừa e ấp, vừa tha thiết, dễ vui mà cũng dễ tủi.
Câu 5: Mối liên hệ giữa không gian mùa xuân và tâm trạng cô gái (trang 53)
Không gian mùa xuân của làng quê Bắc Bộ và dòng tâm trạng, cảm xúc của cô gái có mối liên hệ như thế nào? Chỉ ra những hình ảnh thơ thể hiện mối liên hệ đó.
Trả lời:
Không gian và tâm trạng gắn bó chặt chẽ, cảnh vật đổi thay theo lòng người (tả cảnh ngụ tình):
| Thời điểm | Hình ảnh không gian | Tâm trạng cô gái |
|---|---|---|
| Đầu xuân, hội về | Mưa xuân “phơi phới bay”, hoa xoan “lớp lớp rụng vơi đầy”, hội chèo “đi ngang ngõ” | Vui tươi, rạo rực, tình cảm chớm nở |
| Chiều tối đi xem hát | Hàng xóm “lên đèn”, mưa “chấm bàn tay từng chấm lạnh”, “Mưa bụi nên em không ướt áo”, thôn Đoài “cách có một thôi đê” | Háo hức, tin tưởng; đường đi thấy gần |
| Đêm về một mình | “Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt”, dải đê “có ngắn gì đâu”, “canh khuya” lạnh lẽo | Hụt hẫng, buồn tủi; đường về thấy xa |
| Cuối xuân | Mưa “đã ngại bay”, hoa xoan “đã nát dưới chân giày”, hội chèo “về ngang ngõ” | Tiếc nuối, mong chờ |
Cùng là mưa, cùng là con đê, nhưng khi lòng vui thì mưa nhẹ, đường gần; khi lòng buồn thì mưa nặng, đường xa. Không gian làng quê vì thế vừa thật vừa mang đậm màu sắc tâm trạng.
Câu 6: Nhận xét về ngôn ngữ của bài thơ (trang 53)
Trả lời:
- Mộc mạc, đậm chất quê: từ ngữ đời thường như “chả thiết xem”, “có ngắn gì đâu”, “năm tao bảy tuyết”, “thôi đê”, “hát tối nay” – giống lời ăn tiếng nói của người nhà quê.
- Giọng tự tình, kể chuyện: lời cô gái xưng “em” gọi “anh”, có cả lời mẹ được dẫn trực tiếp, tạo cảm giác tâm tình, thủ thỉ.
- Giàu hình ảnh và biện pháp tu từ: so sánh “Lòng trẻ còn như cây lụa trắng”; nhân hóa “Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”, “mưa xuân đã ngại bay”; khổ 9 lặp lại cấu trúc khổ 2; điệp ngữ “Mùa xuân đã cạn ngày”, “Bao giờ…”.
- Gần với ca dao: nhiều thành ngữ, cách nói ví von, câu hỏi tu từ, nhịp điệu nhẹ nhàng như lời hát.
Câu 7: Cảm hứng chủ đạo, chủ đề của bài thơ (trang 53)
Hãy nêu cảm hứng chủ đạo, chủ đề của bài thơ Mưa xuân và cho biết căn cứ vào đâu em xác định được chủ đề đó.
Trả lời:
- Cảm hứng chủ đạo: tình yêu, sự trân trọng vẻ đẹp làng quê Bắc Bộ và những rung động trong trẻo của tình yêu đôi lứa nơi thôn dã.
- Chủ đề: bài thơ kể về mối tình đầu e ấp, lỡ hẹn của cô gái quê trong mùa mưa xuân, qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người con gái nông thôn: hồn nhiên, tha thiết, thủy chung.
- Căn cứ xác định: nhan đề Mưa xuân (vừa là cảnh, vừa gợi tuổi xuân, tình xuân); nhân vật trữ tình “em” và lời tự tình của cô; hệ thống hình ảnh làng quê (khung cửi, hoa xoan, hội chèo, thôn Đoài, con đê); diễn biến câu chuyện và giọng điệu bài thơ.
Viết kết nối với đọc (trang 53)
Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nêu cảm nhận của em về không gian mùa xuân của làng quê Bắc Bộ được gợi lên trong bài thơ Mưa xuân.
Đoạn văn tham khảo 1:
Đọc Mưa xuân của Nguyễn Bính, em như được bước vào một làng quê Bắc Bộ đang độ xuân thì. Mưa xuân không ào ạt mà “phơi phới bay”, mỏng nhẹ đến mức người đi đường “không ướt áo”. Hoa xoan rụng “lớp lớp”, phủ đầy sân ngõ, gợi một vẻ đẹp dịu dàng, bình dị. Không gian ấy còn rộn rã tiếng hội chèo đi ngang ngõ, lời mẹ báo tin “Thôn Đoài hát tối nay”. Khi chiều xuống, xóm giềng lần lượt lên đèn, con đê nhỏ nối hai thôn trở thành lối đi của những người đi xem hát. Mọi hình ảnh đều quen thuộc, gần gũi như trong ca dao, không có gì cầu kì. Nhưng chính sự giản dị ấy làm nên nét duyên của làng quê Việt Nam xưa: êm đềm, ấm áp, chan chứa tình người. Bài thơ khiến em thêm yêu những mùa xuân nơi thôn dã và trân trọng những nét văn hóa truyền thống như hội làng, chiếu chèo.
Đoạn văn tham khảo 2:
Không gian mùa xuân trong bài thơ Mưa xuân đẹp nhất ở chỗ nó luôn đổi màu theo tâm trạng của cô gái. Lúc lòng cô đang rộn ràng, mưa xuân bay “phơi phới”, hoa xoan rụng đầy và tiếng hội chèo làm cả xóm vui lây. Buổi tối, mưa chấm lên bàn tay “từng chấm lạnh” nhưng cô vẫn tin chắc anh sẽ sang, nên đường sang thôn Đoài chỉ “cách có một thôi đê”. Đến khi chờ mãi không thấy anh, cũng con đê ấy lại dài ra, còn mưa thì nặng hạt, lạnh lùng. Cuối xuân, mưa “đã ngại bay”, hoa xoan “đã nát dưới chân giày”, như cùng tiếc nuối cho một cuộc hẹn lỡ làng. Nhờ lối tả cảnh ngụ tình ấy, làng quê Bắc Bộ trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là phong cảnh mà còn là một không gian có hồn. Em cảm nhận được cả vẻ đẹp của đất trời lẫn nhịp đập trái tim người con gái quê.
Kết luận
Khi soạn bài Mưa xuân, em cần nắm chắc đặc điểm thể thơ bảy chữ, câu chuyện được kể qua lời tự tình của cô gái, diễn biến tâm trạng từ háo hức đến tủi buồn và mối quan hệ giữa cảnh xuân với lòng người. Đó cũng là những ý chính để em làm tốt các đề đọc hiểu và viết đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ.
Xem thêm:
- Những bài thơ hay của Nguyễn Bính
- Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính
- Soạn bài Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Chân quê (Nguyễn Bính)