Soạn bài Biến đổi khí hậu – mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta dưới đây gợi ý trả lời toàn bộ câu hỏi trước khi đọc, trong khi đọc, sau khi đọc và phần viết kết nối (trang 72 – 75) sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập hai, Bài 8 Tiếng nói của lương tri. Văn bản trích từ bài nói của An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, người đứng đầu Liên hợp quốc – một lời cảnh báo khẩn thiết gửi tới toàn nhân loại về khủng hoảng khí hậu.
Tìm hiểu chung về văn bản Biến đổi khí hậu – mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta
Nắm chắc người nói, hoàn cảnh và hệ thống luận điểm sẽ giúp em trả lời các câu hỏi sau khi đọc nhanh và có căn cứ hơn.

Tác giả An-tô-ni-ô Gu-tê-rét
- An-tô-ni-ô Gu-tê-rét (António Guterres, sinh năm 1949) là chính khách, nhà ngoại giao quốc tịch Bồ Đào Nha.
- Ông từng làm Thủ tướng Bồ Đào Nha (1995 – 2002), sau đó giữ cương vị Tổng Thư kí Liên hợp quốc từ đầu năm 2017.
- Trên cương vị người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh, ông nhiều lần lên tiếng kêu gọi các quốc gia hành động quyết liệt trước biến đổi khí hậu, chiến tranh và bất bình đẳng.
Xuất xứ và hoàn cảnh ra đời
- Xuất xứ: SGK trích từ Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, bản dịch của Huy Toàn, in trong cuốn Những bài diễn văn làm thay đổi thế giới từ 1945 đến nay (Kim Đồng xuất bản năm 2022, Ca-lô Ba-ta chủ biên). Nhan đề Biến đổi khí hậu – mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta do người biên soạn sách đặt.
- Hoàn cảnh: bài nói được trình bày tại trụ sở Liên hợp quốc vào tháng 9 năm 2018, sau một mùa hè đầy cháy rừng và nắng nóng; khi ấy thế giới đang chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh khí hậu năm sau và hội nghị năm 2020 – dịp các nước rà soát, nâng mức cam kết sau Thỏa thuận Pa-ri.
- Chú ý: sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo cũng học bài phát biểu này, với nhan đề và đoạn trích khác.
Thể loại, phương thức biểu đạt
Văn bản thuộc loại văn bản nghị luận (bàn về một vấn đề xã hội mang tầm toàn cầu), được trình bày dưới hình thức một bài diễn văn: có lời xưng hô với người nghe, có lời cảm ơn mở đầu và kết thúc. Phương thức chính là nghị luận, kết hợp thuyết minh (nêu dữ kiện khoa học) và biểu cảm (giọng kêu gọi khẩn thiết).
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: khủng hoảng khí hậu đang ở mức rất nghiêm trọng, trực tiếp đe dọa sự sống còn của loài người, vì vậy cả thế giới phải hành động ngay.
- Luận điểm 1 (từ câu chào mở đầu đến “teo tóp lại”): nêu vấn đề, khẳng định tính cấp bách và liệt kê hàng loạt biểu hiện và hệ lụy đang xảy ra.
- Luận điểm 2 (từ “Ngọn núi phía trước” đến “các khí phát thải đó gây ra”): con người có cách vượt qua – những giải pháp cụ thể và trách nhiệm đạo đức của các nước giàu.
- Luận điểm 3 (từ “Đã đến lúc” đến “lãng phí nữa”): vai trò, trách nhiệm của các nhà lãnh đạo, xã hội dân sự, giới trẻ, phụ nữ và kế hoạch hành động cụ thể.
- Luận điểm 4 (đoạn cuối): mỗi ngày chậm trễ là một ngày thêm tổn thất – lời thúc giục mọi người nhận lấy thách thức khi còn kịp.
Trước khi đọc (trang 72)
Câu 1: Tác hại của biến đổi khí hậu ở địa phương em (trang 72)
Biến đổi khí hậu đã gây tác hại như thế nào đến lao động sản xuất và sinh hoạt của cư dân ở địa phương em? Vấn đề có nghiêm trọng không? Căn cứ vào đâu mà em kết luận như vậy?
Trả lời:
Em trả lời theo thực tế nơi mình sống. Ví dụ ở vùng đồng bằng ven biển:
- Với sản xuất: mùa khô kéo dài, nước mặn lấn sâu vào kênh rạch khiến lúa chết khô, vườn cây ăn trái giảm năng suất; nhiều hộ phải chuyển sang nuôi trồng khác hoặc bỏ ruộng đi làm ăn xa.
- Với sinh hoạt: thiếu nước ngọt để ăn uống, có nơi phải mua nước theo can; triều cường dâng cao gây ngập đường, sạt lở bờ sông đe dọa nhà cửa; nắng nóng gay gắt làm người già, trẻ nhỏ dễ ốm.
- Mức độ: vấn đề rất nghiêm trọng, vì thiệt hại lặp lại năm này qua năm khác và ngày càng nặng hơn.
- Căn cứ: những gì em và gia đình trực tiếp chứng kiến; số liệu thiệt hại do chính quyền địa phương, báo chí, đài truyền hình đưa tin; lời kể của ông bà, cha mẹ khi so sánh thời tiết hiện nay với mấy chục năm trước.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi theo dõi (trang 72 – 74)
Trong khi đọc, SGK yêu cầu em chú ý năm điểm sau.
Câu 1 (trang 72): Cách nêu vấn đề và xác định tầm quan trọng của vấn đề
Trả lời:
- Cách nêu vấn đề: tác giả vào thẳng vấn đề ngay sau lời chào, không rào đón. Câu “Tôi đã đề nghị các bạn đến đây để nghe tiếng chuông báo động.” biến buổi gặp mặt thành một lời cảnh báo khẩn cấp.
- Tầm quan trọng: biến đổi khí hậu được gọi là vấn đề “hạn định thời đại”, tức vấn đề quyết định số phận cả một thời đại; nó tiến triển nhanh hơn khả năng ứng phó của con người và nếu chậm trễ thì nhân loại sẽ lỡ mất thời cơ ngăn chặn.
Câu 2 (trang 73): Cách sử dụng bằng chứng
Trả lời:
Tác giả dồn dập đưa ra một chuỗi bằng chứng, trải từ vùng cực tới đại dương rồi lên đất liền:
- Băng biển Bắc Cực tan nhanh hơn mọi dự đoán; lớp băng lâu năm ở phía bắc Grin-len lần đầu tiên nứt vỡ.
- Cháy rừng dai dẳng, lan rộng, muội tro bám lên băng làm băng tan càng nhanh.
- Đại dương bị a-xít hóa, san hô chết hàng loạt, nghề cá suy giảm.
- Lượng các-bon đi-ô-xít tăng khiến lúa kém dinh dưỡng, đe dọa an ninh lương thực của hàng tỉ người; nhiều loài bị diệt vong, con người phải rời bỏ quê hương, xung đột nổ ra vì tài nguyên cạn dần.
Các bằng chứng đều có thật, được giới khoa học ghi nhận; chúng được sắp xếp theo kiểu dây chuyền – hiện tượng này kéo theo hiện tượng khác – nên người nghe thấy rõ mức độ nguy hiểm.
Câu 3 (trang 73): Cách chuyển luận điểm và nội dung được bàn ở luận điểm
Trả lời:
- Cách chuyển: sau khi phơi bày thực trạng đáng sợ, tác giả dùng hình ảnh ẩn dụ: “Ngọn núi phía trước chúng ta rất cao. Nhưng nó không phải là không thể vượt qua.” Câu văn vừa thừa nhận khó khăn vừa gieo niềm tin, tạo bước chuyển tự nhiên từ phần nêu vấn đề sang phần bàn cách giải quyết.
- Nội dung luận điểm mới: những việc con người làm được để chặn đà biến đổi khí hậu – giảm phát thải khí nhà kính, từ bỏ nhiên liệu hóa thạch, chuyển sang năng lượng sạch, chống phá rừng, thay đổi cách canh tác, phát triển kinh tế tuần hoàn.
Câu 4 (trang 73): Giải pháp cho vấn đề và trách nhiệm của các đối tượng
Trả lời:
- Giải pháp: huy động toàn bộ năng lực khoa học – kĩ thuật của loài người; đẩy mạnh năng lượng tái tạo (vốn đã cạnh tranh được, thậm chí rẻ hơn than đá, dầu mỏ); tăng tốc chuyển sang một tương lai xanh, sạch.
- Trách nhiệm: mọi người đều phải góp sức, nhưng các nước giàu gánh trách nhiệm lớn nhất vì họ gây ra nhiều khí thải nhất; họ vừa phải cắt giảm phát thải, vừa phải hỗ trợ các nước nghèo, các cộng đồng yếu thế (đặc biệt là phụ nữ, trẻ em gái) đủ sức chống chịu thiên tai.
Câu 5 (trang 74): Cách kêu gọi và nêu kế hoạch hành động
Trả lời:
- Cách kêu gọi: tác giả nói thẳng với những người có quyền lực: “Đã đến lúc các nhà lãnh đạo của chúng ta thể hiện rằng họ quan tâm đến những người mà họ nắm số phận trong tay.” Đồng thời ông mời gọi xã hội dân sự, giới trẻ và phụ nữ cùng lên tiếng, buộc lãnh đạo phải vào cuộc.
- Kế hoạch: có mốc thời gian rõ ràng – các nhà lãnh đạo dự hội nghị thượng đỉnh năm sau phải báo cáo cả việc đang làm lẫn việc sẽ làm trước hội nghị khí hậu năm 2020; tận dụng một năm để đưa ra quyết định chuyển đổi, lập liên minh; Liên hợp quốc cam kết đồng hành và ủng hộ những nhà lãnh đạo dám nhận thách thức.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 75
Câu 1: Luận đề, luận điểm và mối quan hệ giữa các luận điểm (trang 75)
Luận đề của văn bản là gì? Những luận điểm nào đã được triển khai nhằm làm nổi bật luận đề? Chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
Trả lời:
- Luận đề: khí hậu Trái Đất biến đổi là hiểm họa trực tiếp đối với sự sống còn của nhân loại, đòi hỏi hành động khẩn cấp.
- Các luận điểm:
(1) Khí hậu đang biến đổi nhanh, nghiêm trọng, đã gây nhiều hậu quả có thật.
(2) Con người vẫn có những giải pháp khả thi, trong đó các nước giàu phải gánh vác nhiều hơn.
(3) Các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm và toàn xã hội phải thúc đẩy họ hành động theo kế hoạch cụ thể.
(4) Không thể chậm trễ thêm, vì mỗi ngày trôi qua cái giá phải trả lại tăng lên. - Mối quan hệ: bốn luận điểm nối nhau theo logic: nhận diện vấn đề, tìm lối ra, xác định người thực hiện, rồi thúc giục hành động. Luận điểm trước là cơ sở cho luận điểm sau; tất cả cùng hướng về luận đề, khiến lời kêu gọi ở cuối bài có sức nặng.
Câu 2: Cách tác giả sử dụng lí lẽ và bằng chứng (trang 75)
Phân tích một số ví dụ để thấy được cách tác giả sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm.
Trả lời:
| Luận điểm | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Hậu quả nghiêm trọng đã xuất hiện | Con người đã được cảnh báo từ lâu nhưng nhiều nhà lãnh đạo làm ngơ, nên hậu quả đã đến sát kịch bản tồi tệ nhất. | Băng Bắc Cực tan nhanh, băng dày ở Grin-len vỡ; cháy rừng lan rộng; đại dương a-xít hóa, san hô chết; lúa kém dinh dưỡng; dân phải di cư, xung đột vì tài nguyên. |
| Có thể vượt qua khủng hoảng | Con người đã biết cách và đã có công cụ; công nghệ đứng về phía chúng ta. | Năng lượng tái tạo tăng mạnh, cạnh tranh được, thậm chí có giá thấp hơn than và dầu nếu cộng cả cái giá của ô nhiễm. |
| Các nước giàu phải gánh trách nhiệm lớn hơn | Ai gây ra nhiều thì phải chịu nhiều – đó là bổn phận đạo đức. | Nước nghèo, cộng đồng yếu thế, nhất là phụ nữ cùng các em gái, hứng chịu hạn hán, bão lũ trước tiên và nặng nề nhất. |
Nhận xét: lí lẽ ngắn gọn, đanh thép; bằng chứng cụ thể, mang tính khoa học và toàn cầu. Lí lẽ giúp người nghe hiểu ý nghĩa của bằng chứng, còn bằng chứng khiến lí lẽ không thể bác bỏ.
Câu 3: Nhận định “mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong” đúng hay sai? (trang 75)
Trong phần đầu của văn bản, tác giả cho rằng: “Chúng ta phải đối mặt với một mối đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong”. Theo em, vấn đề được nêu như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
Trả lời:
Em đồng ý rằng nhận định ấy là đúng, không hề phóng đại:
- Biến đổi khí hậu tác động tới mọi điều kiện sống cơ bản: nước, lương thực, đất ở, không khí. Khi các điều kiện ấy suy giảm cùng lúc, sự tồn tại của con người bị đe dọa thật sự.
- Những hậu quả được nêu trong bài đều đang diễn ra, không phải dự báo xa xôi; chúng lại tác động dây chuyền, làm nhau trầm trọng thêm.
- Người nói là Tổng Thư kí Liên hợp quốc, tiếp cận trực tiếp các báo cáo của giới khoa học thế giới, nên nhận định có cơ sở vững chắc.
Câu 4: Vị thế xã hội của người viết và thái độ khi đối thoại (trang 75)
Xác định vị thế xã hội của tác giả khi trình bày ý kiến về vấn đề. Vị thế đó cho phép tác giả thể hiện thái độ gì khi đối thoại?
Trả lời:
- Vị thế: tác giả nói với tư cách Tổng Thư kí Liên hợp quốc – người đứng đầu tổ chức đại diện cho gần như mọi quốc gia, có uy tín và trách nhiệm trước các vấn đề toàn cầu.
- Thái độ được thể hiện: thẳng thắn, quyết liệt, dám phê phán không ít nhà lãnh đạo vì đã ngoảnh mặt trước cảnh báo của khoa học; dám đòi hỏi các nước giàu làm nhiều hơn; dám đặt ra yêu cầu và mốc thời gian cụ thể. Bên cạnh đó vẫn có sự chân thành, gần gũi (cách xưng “các bạn thân mến”, “chúng ta”), tự nhận trách nhiệm của bản thân và Liên hợp quốc. Nhờ vị thế ấy, lời nói của ông vừa có sức nặng của người lãnh đạo, vừa có sức lay động của người cùng chung số phận.
Câu 5: Những thông tin khách quan và căn cứ nhận biết (trang 75)
Trong văn bản, những thông tin khách quan nào được tác giả nêu ra? Dựa vào đâu em nhận biết điều đó?
Trả lời:
- Thông tin khách quan: giới khoa học đã cảnh báo từ nhiều thập kỉ; băng Bắc Cực và băng Grin-len tan, vỡ; cháy rừng kéo dài; đại dương nhiễm a-xít, san hô chết; lượng CO2 trong khí quyển tăng làm lúa kém dinh dưỡng; năng lượng tái tạo đang rẻ dần; các nước nghèo hứng chịu hạn hán, bão lũ nặng nề.
- Căn cứ nhận biết: đó là những hiện tượng, số liệu có thể quan sát, đo đạc và kiểm chứng; chúng được nêu bằng câu trần thuật, không kèm từ ngữ bày tỏ cảm xúc hay đánh giá riêng. Ngược lại, các câu như lời kêu gọi, lời phê phán, những hình ảnh ví von mới là ý kiến chủ quan của người nói.
Câu 6: Giải pháp ứng phó và người có trách nhiệm thực thi (trang 75)
Tác giả đã nêu những giải pháp gì để ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay? Ai là người có trách nhiệm thực thi các giải pháp đó?
Trả lời:
- Giải pháp: giảm mạnh khí nhà kính; nhanh chóng chấm dứt sự lệ thuộc vào than, dầu, khí đốt; thay bằng điện từ nước, gió, Mặt Trời; chặn nạn phá rừng, khôi phục rừng đã suy thoái, đổi mới cách canh tác; dùng tài nguyên hiệu quả theo mô hình kinh tế tuần hoàn; các nước giàu vừa giảm phát thải vừa giúp người yếu thế tăng khả năng chống chịu.
- Người thực thi: trước hết là các nhà lãnh đạo quốc gia, doanh nghiệp, nhà khoa học – những người nắm quyền quyết định; cùng với đó là các lực lượng xã hội như đoàn thể thanh niên, tổ chức của phụ nữ, doanh nghiệp tư nhân, giới tôn giáo và phong trào quần chúng, có trách nhiệm giám sát, thúc đẩy. Nói rộng ra, mỗi người trên hành tinh đều có phần trách nhiệm.
Câu 7: Điểm giống nhau về đối tượng tác động với Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (trang 75)
Đối tượng tác động của văn bản này và văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của Mác-két giống nhau như thế nào? Nêu ý nghĩa của sự giống nhau đó.
Trả lời:
- Giống nhau: cả hai đều hướng tới toàn thể nhân loại, đặc biệt là các nhà lãnh đạo, các cường quốc – những người nắm trong tay quyết định có thể cứu hoặc hủy diệt sự sống. Mác-két cảnh báo về chiến tranh hạt nhân, Gu-tê-rét lên tiếng về hiểm họa khí hậu, song cùng chung tinh thần: hiểm họa toàn cầu cần tiếng nói chung.
- Ý nghĩa: sự giống nhau cho thấy những vấn đề sống còn của Trái Đất không của riêng quốc gia nào; muốn giải quyết phải có trách nhiệm và hành động của mọi người, mọi nước. Đó cũng là lí do hai văn bản được xếp cùng chủ điểm Tiếng nói của lương tri.
Câu 8: Thông điệp rút ra sau khi đọc văn bản (trang 75)
Trả lời:
Thông điệp em rút ra là: bảo vệ khí hậu không thể chờ đợi. Hành tinh đang ở “ngã tư của sự sinh tồn”, loài người vẫn còn cơ hội nhưng quỹ thời gian không còn nhiều. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức và mỗi cá nhân, tùy vị trí và sức mình, đều phải bắt tay hành động ngay hôm nay. Như tác giả khẳng định: “Số phận của chúng ta ở trong tay chúng ta.”
Viết kết nối với đọc (trang 75)
Câu 1: Đoạn văn trả lời câu hỏi về tình trạng Trái Đất nóng lên (trang 75)
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời câu hỏi: Phải chăng nhân loại không còn cách gì để đối phó với tình trạng Trái Đất ngày càng nóng lên?
Trả lời:
Gợi ý: nêu rõ quan điểm (nhân loại vẫn còn cách), đưa 2 – 3 giải pháp ở các cấp độ khác nhau, có thể dẫn ý của Gu-tê-rét làm điểm tựa, kết bằng điều kiện để giải pháp thành công.
Đoạn văn tham khảo
Trái Đất đang nóng lên từng năm, nhưng nói rằng loài người đã hết cách thì thật bi quan và không đúng sự thật. Chính An-tô-ni-ô Gu-tê-rét đã ví khủng hoảng khí hậu như một ngọn núi cao nhưng vẫn có thể leo qua. Con người đã có trong tay năng lượng mặt trời, điện gió, thủy điện nhỏ với giá thành ngày càng rẻ để thay dần than đá, xăng dầu. Chúng ta cũng biết trồng lại những cánh rừng đã mất, tưới tiêu tiết kiệm, tái chế rác thải thay vì chôn lấp. Ở mỗi gia đình, việc tắt thiết bị điện khi không dùng, đi xe đạp hay xe buýt, mang túi vải khi đi chợ đều góp phần giảm khí thải. Điều còn thiếu không phải là giải pháp mà là quyết tâm và sự đồng lòng. Khi chính phủ, doanh nghiệp và người dân cùng hành động, đà nóng lên chắc chắn sẽ được kìm lại. Vì vậy, thay vì lo sợ, mỗi người hãy biến nỗi lo thành việc làm cụ thể ngay từ hôm nay.
Kết luận
Soạn bài Biến đổi khí hậu – mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta, em cần nhớ: đây là văn bản nghị luận dưới dạng diễn văn, luận đề rõ ràng, hệ thống luận điểm chặt chẽ, bằng chứng khoa học xác thực và lời kêu gọi khẩn thiết. Văn bản cùng với Đấu tranh cho một thế giới hòa bình giúp em hiểu thế nào là tiếng nói của lương tri trước những hiểm họa chung của loài người.
Xem thêm:
- Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (Ngữ văn 9 Kết nối tri thức)
- Soạn bài Bài ca chúc Tết thanh niên (Ngữ văn 9 Kết nối tri thức)
- Mục lục Ngữ văn 9 Kết nối tri thức