Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa – Dàn ý + 11 bài văn mẫu (lớp 8)

Cập nhật 07/10/2026·MMavrick Nguyễn·46 phút đọc·Ngữ văn 8·Bài 1: Truyện ngắn
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài kể lại một chuyến đi tham quan di tích
  • Bài văn kể chuyến về với những di tích thời dựng nước
  • Bài văn kể chuyến đi thăm những địa chỉ lịch sử thời hiện đại
  • Bài văn kể chuyến tham quan di tích văn hóa

Kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa là bài Viết của lớp 8 ở cả ba bộ sách: Bài 1 Câu chuyện của lịch sử (Tập 1, trang 28–32) trong Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, Bài 9 (Tập 2, trang 92–97) trong Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo và Bài 1 (Tập 1, trang 29–33) trong Ngữ văn 8 Cánh diều, nơi đề cho chọn giữa một chuyến đi và một hoạt động xã hội. Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài, dàn ý, 11 bài văn mẫu kể 11 chuyến đi khác nhau (từ đền Hùng, thành Cổ Loa đến địa đạo Vịnh Mốc, làng gốm Bát Tràng và một ngôi đình làng), lỗi hay gặp và mẹo viết. Tên gọi, năm tháng, số liệu về di tích trong các bài đã được đối chiếu với ít nhất hai nguồn công khai (bách khoa mở, báo Nhân Dân, trang của các khu di tích); chi tiết thuộc truyền thuyết được ghi là tương truyền.

kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa lớp 8
Kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa – văn mẫu lớp 8

Yêu cầu của kiểu bài kể lại một chuyến đi tham quan di tích

Đây là bài văn tự sự kể một việc có thật em đã trực tiếp tham gia, nên người kể xưng tôi hoặc em (ngôi thứ nhất). Điểm khó là vừa kể hành trình, vừa đưa vào những thông tin đúng về di tích, lại vừa có cảm xúc riêng, không biến bài văn thành tờ rơi du lịch. Dùng bảng sau để tự kiểm tra.

Tiêu chí Bài viết đạt khi
Thông tin chuyến đi Nêu rõ đi đâu, khi nào, đi cùng những ai, ai đứng ra tổ chức và vì sao có chuyến đi ấy.
Diễn biến Kể theo trình tự hợp lí: trên đường đi, lúc đến nơi, lần lượt các điểm tham quan, hoạt động chính, lúc ra về. Có điểm nhấn, không kể đều đều như bản liệt kê.
Thông tin về di tích Đan vào lời kể vài đặc điểm nổi bật (cảnh quan, công trình, hiện vật, sự kiện lịch sử gắn với nơi ấy) và phải đúng. Chi tiết truyền thuyết ghi là tương truyền.
Miêu tả, biểu cảm Có tả cảnh, tả người ở những chỗ đáng nhớ; cảm xúc gắn với chi tiết cụ thể chứ không chỉ là những lời khen chung.
Suy nghĩ Kết bài nêu được em hiểu thêm điều gì về lịch sử, văn hóa, về con người và về chính mình sau chuyến đi.
Bố cục, diễn đạt Đủ ba phần; mỗi đoạn thân bài một chặng hoặc một điểm đến; giữ ngôi kể thứ nhất từ đầu đến cuối.

Ba bộ sách cùng kiểu bài nhưng dẫn dắt khác nhau:

Bộ sách Vị trí Điểm nhấn
Kết nối tri thức Tập 1, Bài 1 Câu chuyện của lịch sử, trang 28–32 Đề gắn chặt với di tích lịch sử, văn hóa. Sách yêu cầu bài viết cho biết vì sao có chuyến đi, kể lại hành trình và các điểm đến theo thứ tự, nói được điều em ấn tượng nhất ở di tích (cảnh, công trình, con người), có cảm xúc, suy nghĩ riêng và biết đan miêu tả, biểu cảm vào lời kể. Bài tham khảo kể chuyến tham quan khu lưu niệm Nguyễn Du.
Chân trời sáng tạo Tập 2, Bài 9 Âm vang của lịch sử, trang 92–97 Đề ghi chung là một chuyến đi, nhưng văn bản mẫu kể chuyến về Ba Tri thăm mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu. Sách nhấn: kể ở ngôi thứ nhất, cho người đọc biết chuyến đi diễn ra khi nào, ở đâu, có những ai, tả lại khung cảnh nơi đến và kể đúng sự thật theo một trình tự hợp lí.
Cánh diều Tập 1, Bài 1, phần Viết trang 29–33 Đề là kể lại một chuyến đi hoặc một hoạt động xã hội; người viết phải là người trực tiếp tham gia. Phần thực hành của sách lấy đề hoạt động xã hội, nhưng em hoàn toàn có thể chọn một chuyến tham quan như các mẫu dưới đây. Nếu chọn hoạt động xã hội, xem trang kể lại một hoạt động xã hội.
Dàn ý

Dàn ý bài văn kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa

368 từ

1. Mở bài

– Giới thiệu chuyến đi: tên di tích, thời gian, người cùng đi, ai tổ chức.
– Lí do, mục đích, hoặc tâm trạng của em trước chuyến đi.

2. Thân bài

a. Trên đường đi
+ Phương tiện, quãng đường, cảnh vật hai bên đường.
+ Không khí trong đoàn, một chi tiết vui hoặc đáng nhớ.

b. Đến di tích
+ Ấn tượng đầu tiên: cổng, không gian, cây cối, âm thanh.
+ Lần lượt từng điểm tham quan theo đường đi; ở mỗi điểm, một vài thông tin chính (công trình, hiện vật, sự kiện, nhân vật) xen với điều em thấy, em nghĩ.

c. Hoạt động nổi bật
+ Nghe thuyết minh, dâng hương, trải nghiệm, phỏng vấn người địa phương, chụp ảnh…
+ Khoảnh khắc em xúc động hoặc bất ngờ nhất: kể chậm, tả kĩ.

d. Lúc ra về
+ Tâm trạng của đoàn, của em.

3. Kết bài

– Ý nghĩa của chuyến đi: hiểu biết mới, tình cảm với lịch sử, quê hương.
– Mong muốn, việc em định làm sau chuyến đi.

Mẹo chuẩn bị: trước khi viết, ghi ra hai cột. Cột trái là những việc đã diễn ra theo giờ; cột phải là thông tin về di tích em chắc chắn đúng (đã đọc ở biển giới thiệu, nghe hướng dẫn viên, tra sách). Khi viết, mỗi đoạn lấy một dòng bên trái làm xương sống, chêm một ý bên phải vào đúng chỗ.

Bài văn kể chuyến về với những di tích thời dựng nước

Mẫu 1

Mẫu 1: Một buổi sáng leo núi Nghĩa Lĩnh, thăm đền Hùng

888 từ

Bậc đá thứ một trăm, tôi bắt đầu đếm nhầm. Bậc thứ hai trăm thì tôi thôi đếm, chỉ còn nghe tiếng thở của chính mình và tiếng Nhật Minh phía sau hỏi lần thứ năm: sắp tới chưa? Đó là buổi sáng cuối tháng chín, lớp 8A của tôi được nhà trường tổ chức về thăm Khu di tích lịch sử Đền Hùng, chuyến đi đầu tiên của năm học.

Xe rời trường lúc năm giờ rưỡi, trời còn tối. Cô Quyên chủ nhiệm ngồi ở hàng ghế đầu, đến khi qua cầu thì cầm micro giới thiệu: các đền thờ vua Hùng nằm rải từ chân lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi không cao lắm nhưng đường lên toàn bậc đá. Cả xe ồ lên, có đứa tính ngay số bậc theo kiểu bài toán chuyển động, bị cô cười bảo để dành sức.

Chúng tôi xuống xe ở chân núi khi nắng vừa lên. Cổng đền cao, mái cong, cây cổ thụ hai bên đường rủ bóng xuống bậc đá. Điểm dừng đầu tiên là đền Hạ. Chị hướng dẫn viên kể rằng, theo lời truyền, mẹ Âu Cơ đã sinh bọc trứng ở chính chỗ này. Tôi đứng trước sân đền, nhìn mấy đứa bạn đang chen nhau chụp ảnh, tự dưng thấy buồn cười: một trăm anh em cùng một bọc, chắc cũng ồn ào y như lớp mình.

Lên tiếp là đền Trung. Người xưa kể đây là chỗ các vua Hùng ngồi bàn việc nước với những người giúp việc thân cận. Ở đây gió thổi lồng lộng, nhìn xuống thấy cả một vùng đồi xanh và mấy mái nhà nhỏ như hộp diêm. Đoạn đường từ đền Trung lên đền Thượng dốc hơn. Nhật Minh ngồi phịch xuống bậc đá, tuyên bố sẽ chờ cả lớp ở đây. Cô Quyên không nói gì, chỉ chìa cho bạn một chai nước, và thế là bạn lại đứng dậy.

Lên tới đỉnh, chúng tôi đứng trước đền Thượng. Khói hương bay lên, quyện vào tán cây. Cả lớp xếp hàng ngay ngắn, lớp trưởng thay mặt dâng hương. Không ai bảo ai, ồn ào tắt hẳn. Bên cạnh đền là lăng mà theo truyền thuyết là mộ vua Hùng thứ sáu. Tôi đứng lâu trước những bậc lăng, nghĩ đến chuyện người xưa đã chọn đỉnh núi cao nhất vùng để đặt nơi thờ tổ tiên, chắc để từ đây có thể nhìn bao quát cả đất nước mình đã dựng lên.

Trên đường xuống, chúng tôi ghé đền Giếng. Truyện kể hai nàng con gái vua Hùng thứ mười tám hay ra đây soi bóng, chải tóc. Nước giếng trong, mát lạnh. Gần đền Hạ có một nhà bia, tấm bia bên trong khắc lời Bác Hồ nói với các chiến sĩ năm xưa, đại ý: tổ tiên đã dựng nên đất nước thì con cháu hôm nay có bổn phận giữ cho bằng được. Cô đọc to cho cả lớp nghe, rồi bảo mỗi đứa chép lại vào sổ tay.

Về đến trường đã gần tối. Chân tôi mỏi rã, nhưng trong sổ có một dòng chữ viết hơi nghiêng vì chép trên đầu gối. Tôi hiểu vì sao giỗ Tổ mồng mười tháng ba được coi là ngày của cả nước: ai lên đến đỉnh Nghĩa Lĩnh cũng thấy mình đang đi về nhà, một ngôi nhà rất cũ, rất cao, phải leo bằng chính đôi chân mình mới tới.

Mẫu 2

Mẫu 2: Đi tìm ba vòng thành Cổ Loa cùng bố

602 từ

Bố tôi có một thói quen: cứ thấy tôi đọc sách Lịch sử là hỏi một câu đố. Hôm ấy bố hỏi: thành Cổ Loa có mấy vòng? Tôi đáp chín, vì trong truyện kể thành xoáy như trôn ốc. Bố cười, bảo sáng Chủ nhật hai bố con đi đếm thử.

Từ nhà tôi ở Long Biên, bố chở tôi bằng xe máy khoảng bốn mươi phút. Khu di tích nằm ở Đông Anh, phía bắc sông Hồng. Gần đến nơi, bố đi chậm lại, chỉ cho tôi một dải đất cao chạy dài, cây cối mọc um tùm, bên dưới là một con lạch nước. Đó là một đoạn tường thành, bố bảo, đắp hoàn toàn bằng đất từ hơn hai nghìn năm trước, khi người Âu Lạc chưa nung gạch. Tôi nhìn mãi mà không tưởng tượng nổi có ngày nó là một bức tường.

Tấm biển giới thiệu ở khu di tích cho tôi câu trả lời: dấu tích còn lại chỉ có ba vòng thành, mỗi vòng có hào nước bao quanh. Vòng ngoài cùng dài khoảng tám cây số. Con số chín vòng là theo lời truyền, còn ba vòng là điều các nhà khảo cổ tìm thấy. Bố nháy mắt: thế là con thua một câu.

Chúng tôi vào đền Thượng thờ vua An Dương Vương. Trước đền là một hồ nước hình bán nguyệt, giữa hồ có giếng Ngọc. Người ta kể rằng Trọng Thủy, sau khi Mị Châu chết, đã nhảy xuống giếng này. Cách đó không xa là am Bà Chúa thờ Mị Châu. Tôi đứng ở đó khá lâu. Câu chuyện chiếc lông ngỗng và nỏ thần tôi đã đọc từ năm lớp năm, nhưng đứng giữa chính nơi người xưa bảo là đã xảy ra, câu chuyện bỗng nặng hơn hẳn.

Lúc về, bố cho xe chạy men theo một đoạn thành đất. Gió thổi qua những ngọn tre. Tôi nghĩ đến những người dân Âu Lạc gánh từng sọt đất đắp thành, chắc họ cũng có một buổi sáng mệt nhoài như thế này. Tôi không còn sai câu đố của bố nữa, nhưng tôi mang về một câu hỏi mới: vì sao một tòa thành vững đến thế mà vẫn mất? Cô giáo Lịch sử chắc sẽ thích câu hỏi ấy.

Mẫu 3

Mẫu 3: Lên Côn Sơn, xuống Kiếp Bạc với ông nội

667 từ

Ông nội tôi là người vùng Chí Linh. Mỗi lần về quê, ông lại bảo: ở đây có một ngọn núi Nguyễn Trãi từng sống và một ngôi đền thờ Đức Thánh Trần, thế mà cháu chưa lên lần nào. Kì nghỉ hè năm lớp 8, tôi cùng ông đi trọn một ngày ở Khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc.

Chúng tôi đến Côn Sơn lúc sáng sớm. Chùa Côn Sơn nằm dưới chân núi, tên chữ là Thiên Tư Phúc tự. Ông kể chùa gắn với các vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm, trong đó có thiền sư Huyền Quang từng về đây tu hành. Sân chùa lát gạch cũ, rêu xanh bám ở chân tường. Mấy cụ già ngồi quét lá, tiếng chổi tre sột soạt giữa không gian rất yên.

Bên cạnh chùa là đền thờ Nguyễn Trãi. Ông thắp hương rồi đứng rất lâu. Trên đường leo lên núi, ông vừa đi vừa đọc mấy câu thơ trong bài ca Côn Sơn, có tiếng suối, có rừng thông, có đá rêu phơi. Tôi thở hổn hển, ông bảo hồi xưa ông đọc bài ấy trong sách lớp bảy, còn bây giờ là đang đi trong chính bài thơ. Đường lên núi lát đá, hai bên thông reo. Tôi để ý thấy chỗ nào cũng có bóng cây, lên đến lưng chừng thì mồ hôi đã khô vì gió.

Buổi chiều, ông cháu sang đền Kiếp Bạc. Đây là nơi thờ Trần Quốc Tuấn, vị tướng chỉ huy quân dân nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông, đền nằm giữa một vùng núi non, phía trước là sông Lục Đầu, nơi ông bảo mấy con sông gặp nhau. Hồi chống quân Nguyên thế kỉ XIII, vùng này từng là căn cứ quan trọng. Ông đứng ở sân đền, chỉ ra mặt sông rộng và bảo hồi ấy thuyền chiến của nhà Trần tụ về đây. Tôi nheo mắt nhìn theo tay ông, cố tưởng tượng những đoàn thuyền chiến ngày xưa.

Trên đường về, ông kể năm 2025 cả quần thể Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa thế giới. Ông nói giọng rất bình thường, nhưng tôi thấy ông vui ra mặt. Một ngày, tôi đi qua một nhà thơ và một vị tướng, hai con người khác nhau mà cùng một lòng với đất nước. Tối hôm ấy tôi mở sách ra đọc lại bài Côn Sơn ca. Lần này tôi đọc chậm, vì biết tiếng suối trong thơ ở đâu.

Bài văn kể chuyến đi thăm những địa chỉ lịch sử thời hiện đại

Mẫu 4

Mẫu 4: Sau cánh cửa sắt nhà tù Hỏa Lò

571 từ

Cánh cửa sắt đóng lại sau lưng đoàn với một tiếng rất khẽ, vậy mà tôi giật mình. Phía trên cổng, hàng chữ tiếng Pháp Maison Centrale vẫn còn nguyên. Hôm ấy lớp 8B có buổi học Lịch sử ngoài lớp học, chúng tôi đi bộ từ trường đến Di tích Nhà tù Hỏa Lò giữa trung tâm Hà Nội.

Anh hướng dẫn viên giới thiệu nhà tù do thực dân Pháp xây từ năm 1896, trên đất của một làng xưa chuyên làm lò, ấm bằng đất nung. Phần lớn khu nhà tù cũ đã được phá đi để xây cao ốc, phần còn lại được giữ làm nơi lưu niệm. Nghe vậy, tôi tưởng sẽ chẳng còn gì nhiều. Tôi đã nhầm.

Khu giam tập thể hẹp và tối. Dọc hai bên là những bục xi măng, trên bục là tượng người tù bị cùm chân vào một thanh sắt dài. Một bạn nữ khẽ hỏi họ nằm như thế bao lâu. Anh hướng dẫn viên trả lời có người nằm như thế nhiều năm. Cả nhóm im bặt. Sang phòng có chiếc máy chém thật, tôi không dám nhìn lâu, chỉ thấy lưỡi thép xám và cái khung gỗ cao, lạnh lẽo.

Điều làm tôi nhớ nhất lại là một căn phòng nhỏ kể chuyện vượt ngục. Những người tù cách mạng đã tìm đường thoát qua cống ngầm, có người đã cải trang lẫn với người nhà đi thăm nuôi. Trong một nơi được dựng lên để bẻ gãy con người, họ vẫn nghĩ cách học tập, hát, truyền tin cho nhau. Ở khu cuối, anh hướng dẫn viên kể thời chiến tranh chống Mỹ, nơi đây giam giữ phi công Mỹ bị bắt, họ gọi đùa nó là Hanoi Hilton.

Ra khỏi cổng, nắng trưa chói chang, xe cộ đông đúc như mọi ngày. Tôi đứng chờ đèn đỏ, chợt nghĩ: bức tường cao kia cách dòng người này chỉ vài bước chân, mà phía bên trong từng là cả một thế giới khác. Tôi không biết gọi cảm giác ấy là gì, chỉ biết từ hôm đó, mỗi lần đi qua phố Hỏa Lò, tôi đều nhìn lên bức tường ấy.

Mẫu 5

Mẫu 5: Một nhành hoa trên sông Thạch Hãn

1.066 từ

Bà ngoại tôi chưa bao giờ đi xa quá tỉnh nhà. Vậy mà mùa hè năm ngoái, khi cả nhà bàn chuyện đi du lịch miền Trung, bà chỉ xin một điều: cho bà ghé Thành cổ Quảng Trị. Đến lúc ấy tôi mới biết, người anh họ của bà từng ra trận năm 1972 và không trở về.

Chúng tôi khởi hành từ Huế lúc sáng sớm. Bà mặc chiếc áo bà ba màu nâu, cầm theo một bó hoa cúc vàng mua ở chợ. Suốt dọc đường, bà ít nói, chỉ thỉnh thoảng nhìn ra những cánh đồng lúa đang thì con gái hai bên quốc lộ. Mẹ ngồi cạnh, nắm tay bà. Tôi ngồi ghế sau, tay cầm điện thoại định chơi điện tử, nhưng thấy cả xe im lặng quá, tôi lại cất đi. Có lúc bà hỏi bố còn bao xa, rồi tự trả lời: chắc anh ấy cũng đi con đường này. Tôi không dám hỏi anh ấy là ai.

Thành cổ hiện ra trước mắt tôi không giống trong tưởng tượng chút nào. Tôi nghĩ sẽ thấy tường thành sừng sững, nhưng trước mặt là một khu vườn rộng, cỏ xanh mướt, cây cối mát rượi. Bố đọc cho tôi tấm biển giới thiệu: tòa thành có từ thời nhà Nguyễn, làm nơi đóng quân và làm việc của bộ máy cai trị. Năm 1972, nơi đây diễn ra trận chiến kéo dài 81 ngày đêm, bom đạn gần như san phẳng cả tòa thành. Những đoạn tường, những cổng thành tôi đang thấy hầu hết là phần được phục dựng về sau.

Giữa thành là đài tưởng niệm. Người đến viếng đông mà rất lặng. Có một nhóm cựu chiến binh tóc bạc, ngực đeo huân chương, đứng thành hàng thẳng tắp. Một bác cầm micro đọc tên đơn vị cũ, giọng run run. Bà tôi đặt bó cúc xuống bậc đài, thắp ba nén hương, rồi đứng yên rất lâu, môi mấp máy. Tôi không nghe được bà nói gì. Tôi chỉ thấy lần đầu tiên trong đời bà khóc mà không lau nước mắt.

Bãi cỏ quanh đài mềm và xanh đến lạ. Mẹ khẽ bảo tôi bước nhẹ thôi. Tôi hiểu vì sao người ta nói cả khu thành cổ là một nghĩa trang không có mộ: dưới lớp cỏ ấy có những người lính mà không ai còn tìm thấy được.

Buổi chiều, cả nhà ra bờ sông Thạch Hãn. Dòng sông chảy qua thị xã, nước trong, lặng, phản chiếu mây trắng. Bà chia cho mỗi người một nhành hoa. Tôi thả nhành cúc của mình xuống nước, nhìn nó xoay một vòng rồi trôi theo dòng, nhỏ dần giữa những bông hoa của người khác. Bên cạnh tôi, một cậu bé người địa phương cũng đang thả hoa. Cậu bảo nhà cậu năm nào cũng ra đây.

Tôi hỏi cậu thả hoa cho ai. Cậu nhún vai, bảo cho các chú bộ đội, ông nội cậu dặn thế. Cậu không có người thân nào nằm lại ở thành cổ, vậy mà năm nào cũng ra. Tôi chợt thấy mình ngượng: tôi đến đây vì bà, còn cậu bé ấy đến vì những người cậu chưa từng gặp. Bố tôi đứng ở bậc kè, lặng lẽ chụp một tấm ảnh dòng sông đầy hoa, rồi cất máy đi, bảo có những cảnh chụp lại cũng không giữ được hết.

Tối hôm đó, ở khách sạn, bà ngồi kể cho tôi nghe về người anh họ mà bà chỉ còn nhớ nụ cười. Anh đi năm mười chín tuổi, hơn tôi có năm tuổi. Tôi nằm nghĩ mãi về con số ấy. Trước chuyến đi, 81 ngày đêm chỉ là một dòng trong sách Lịch sử. Bây giờ, nó có gương mặt của một người, có giọng của bà tôi, có màu vàng của một nhành cúc trôi trên sông. Có những nơi người ta đến không phải để ngắm cảnh, mà để nhớ. Tôi sẽ còn quay lại Thạch Hãn, lần sau, tôi muốn là người cầm bó hoa cho bà.

Mẫu 6

Mẫu 6: Ba tầng đất dưới làng Vịnh Mốc

599 từ

Trước khi xuống địa đạo, chú hướng dẫn viên phát cho mỗi đứa một chiếc đèn pin nhỏ và dặn: cúi đầu, đi chậm, đừng chạm tay vào vách đất. Hai mươi bạn trong câu lạc bộ Lịch sử của trường tôi khi ấy đang ở Vĩnh Linh, chặng thứ hai trong chuyến đi hè về miền đất lửa Quảng Trị.

Cửa hầm chỉ vừa một người lách vào. Bên trong là một đường hầm hẹp, trần thấp, vách đất đỏ còn nguyên vết cuốc. Ánh đèn pin quét đến đâu, đất đỏ hiện ra đến đó. Chú kể dân làng đã đào địa đạo này bằng những công cụ thô sơ trong hai năm, từ 1965 đến 1967, huy động khoảng mười tám nghìn ngày công. Hầm có ba tầng, càng xuống sâu càng an toàn trước bom đạn.

Dọc hai bên đường hầm chính là những ngăn khoét sâu vào vách, mỗi ngăn vừa cho một gia đình. Tôi ngồi thử vào một ngăn, co gối lại vẫn chạm vách. Cả nhà ba, bốn người từng sống trong khoảng không chật như thế, ngày này qua ngày khác. Chúng tôi đi qua giếng nước, qua căn phòng làm nơi hội họp, và dừng lâu nhất ở căn phòng nhỏ làm nơi sinh nở. Chú bảo đã có mười bảy em bé chào đời ngay dưới lòng đất này. Một bạn trong nhóm buột miệng: thế giấy khai sinh ghi nơi sinh là gì hả chú? Mọi người bật cười, rồi lại im, vì ai cũng chợt nghĩ đến những người mẹ đã sinh con trong tiếng bom.

Đi mãi, phía trước bỗng có ánh sáng và hơi gió mặn. Lối ra mở thẳng ra biển. Từ trong bóng tối bước ra bãi cát, nắng chói đến mức tôi phải nheo mắt. Sóng vỗ rì rào. Chú hướng dẫn viên chỉ ra khơi xa, nơi có đảo Cồn Cỏ, kể rằng ngày trước dân làng vẫn chở hàng ra đảo từ chính bờ biển này.

Chỉ hơn một tiếng đồng hồ dưới hầm mà khi lên, lưng tôi mỏi nhừ, quần áo lấm đất đỏ. Thế mà người dân Vịnh Mốc đã sống như thế nhiều năm. Tối đó, trong cuốn sổ hành trình của câu lạc bộ, tôi chỉ ghi một câu: làng không bỏ đất, làng đi xuống lòng đất.

Mẫu 7

Mẫu 7: Bên suối Lê-nin ở Pác Bó (bài ngắn)

558 từ

Mùa xuân năm lớp 8, tôi được chọn vào đoàn đội viên tiêu biểu của thành phố đi Cao Bằng thăm Khu di tích Pác Bó. Đoàn có ba mươi bạn, đi trên một chiếc xe khách cũ, ghế ngồi kêu cót két mỗi lần xe vào cua. Xe chạy qua những con đèo uốn lượn, sương còn phủ trắng các sườn núi, có đoạn tài xế phải bật đèn pha dù đã gần trưa. Bạn ngồi cạnh tôi say xe, tôi đưa bạn quả quýt mẹ dặn mang theo, bóc vỏ cho bạn ngửi.

Đến nơi, điều đầu tiên tôi thấy là dòng suối nước xanh trong, nhìn rõ từng viên sỏi dưới đáy. Đó là suối Lê-nin. Phía bên kia là ngọn núi đá được đặt tên là núi Các Mác. Chị hướng dẫn viên kể ngày 28 tháng 1 năm 1941, sau ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, Bác Hồ trở về Tổ quốc, chọn nơi này làm chỗ ở và làm việc. Chính Bác đã đặt tên cho dòng suối và ngọn núi. Nghe đến đó, cả đoàn đang ồn ào bỗng lặng đi, ai cũng quay lại nhìn dòng suối lần nữa.

Chúng tôi men theo bờ suối đến hang Cốc Bó. Cửa hang nhỏ, bên trong ẩm và lạnh. Ngồi một lúc đã thấy hơi lạnh thấm qua áo, tôi không hiểu Bác đã ở đây qua những đêm mùa đông vùng biên ra sao. Ngoài bờ suối có bộ bàn ghế bằng đá, người ta bảo đó là nơi Bác ngồi làm việc.

Trước khi về, tôi vốc một vốc nước suối rửa mặt. Nước lạnh buốt. Trên đường về, bạn say xe hôm trước đã khỏe, ngồi kể cho cả xe nghe về con suối trong vắt. Còn tôi cứ nghĩ đến hang đá ẩm lạnh và bộ bàn ghế đá bên suối. Cái lạnh của nước suối theo tôi suốt chặng đường, nhắc tôi rằng có những người đã chọn sống giản dị đến tận cùng để làm một việc rất lớn. Về nhà, tôi dán tấm ảnh chụp cả đoàn bên suối Lê-nin lên góc bàn học, ngay cạnh thời khóa biểu.

Mẫu 8

Mẫu 8: Về làng Sen, làng Hoàng Trù tháng năm

598 từ

Tháng năm ở Nghệ An nắng như đổ lửa, nhưng mẹ tôi vẫn quyết định đưa cả nhà về thăm quê Bác đúng dịp sinh nhật Người. Mẹ là giáo viên dạy Văn, mẹ bảo có những bài học không dạy được trên lớp.

Từ thành phố Vinh, xe chạy chưa đầy nửa tiếng đã đến khu di tích Kim Liên. Chúng tôi ghé làng Hoàng Trù trước. Mẹ giải thích Hoàng Trù là quê mẹ của Bác và là nơi Bác được sinh ra; người dân quanh vùng còn quen gọi là làng Chùa. Ngôi nhà tranh của ông bà ngoại Bác thấp, mái dày, bên trong mát rượi dù ngoài trời nắng gắt. Đồ đạc đơn sơ đến mức tôi đếm được trên đầu ngón tay. Tôi cố hình dung một cậu bé ngày nào nằm nghe mẹ hát ru trong gian nhà ấy.

Cách đó không xa là làng Sen, quê cha của Bác. Con đường vào làng rợp bóng cây, hai bên là ao sen đang mùa hoa. Mùi sen thoang thoảng theo gió. Ngôi nhà ở làng Sen là một ngôi nhà lá năm gian. Chị thuyết minh viên kể năm 1901, cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Bác, đỗ phó bảng, dân làng đã góp tiền dựng ngôi nhà này để mừng cụ. Bác đã sống những năm thơ ấu trong ngôi nhà ấy. Gian thờ đặt ở phía ngoài, mấy gian trong là nơi sinh hoạt, vật dụng vẫn mộc mạc như nhà quê bình thường.

Dòng người xếp hàng vào thăm rất dài. Phía trước tôi là một đoàn cựu chiến binh từ miền núi xuống, ai cũng đội mũ cối, đứng thẳng lưng dưới nắng. Phía sau là một nhóm sinh viên nói giọng miền Nam. Không ai chen lấn. Tôi chợt nhận ra người ta về đây như về thăm nhà một người thân, chứ không phải đi tham quan.

Buổi trưa, cả nhà ngồi nghỉ dưới gốc cây bên đường. Mẹ hỏi tôi thấy điều gì đáng nhớ nhất. Tôi nghĩ một lúc rồi đáp: sự đơn sơ. Một người sau này làm Chủ tịch nước lại lớn lên trong những ngôi nhà tranh nhỏ như thế. Mẹ mỉm cười, không nói gì thêm. Tôi đoán đó chính là bài học không dạy được trên lớp mà mẹ muốn tôi tự thấy.

Bài văn kể chuyến tham quan di tích văn hóa

Mẫu 9

Mẫu 9: Một buổi chiều trong Bảo tàng Dân tộc học (bài ngắn)

589 từ

Tôi từng nghĩ bảo tàng là nơi chỉ có tủ kính và những tấm biển chữ nhỏ, đi một vòng là buồn ngủ. Chuyến tham quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội với lớp vào một buổi chiều thứ sáu đã làm tôi đổi ý. Hôm ấy trời nắng nhẹ, xe buýt của trường thả chúng tôi trước cổng lúc hai giờ. Cô chủ nhiệm chia lớp thành sáu nhóm, mỗi nhóm một tờ phiếu với những câu hỏi phải tự tìm câu trả lời trong bảo tàng.

Tòa nhà chính trưng bày về 54 dân tộc ở Việt Nam. Tôi đi chậm qua từng gian, ngạc nhiên vì mỗi dân tộc có một kiểu váy áo, một kiểu nhà, một cách đựng nước, nấu cơm. Nhưng nơi cả lớp ồn ào nhất lại là khu ngoài trời. Giữa vườn cây là những ngôi nhà thật, được dựng lại theo đúng kiểu của từng dân tộc. Chúng tôi trèo lên nhà sàn dài của đồng bào Ê Đê, đếm mãi không hết số cột. Ngôi nhà rông Ba Na cao vút, mái nhọn như lưỡi rìu, đứng dưới chân nhìn lên phải ngửa cổ.

Cô giáo bảo mỗi nhóm tìm một đồ vật và đoán công dụng. Nhóm tôi đoán sai bét về một cái gùi, cứ tưởng là chiếc giỏ đựng cá. Cô cười, bảo không sao, đến bảo tàng là để biết mình chưa biết những gì. Một chị hướng dẫn viên đi ngang, kể rằng người dân vùng cao đeo gùi sau lưng để lên nương, đựng ngô, đựng củi, có khi đựng cả em bé. Cả nhóm ồ lên, rồi tranh nhau ghi vào phiếu.

Ra về, tôi nghĩ đến con số 54. Trước đó, nó chỉ là một con số trong bài học Địa lí. Giờ nó là những mái nhà, những cầu thang gỗ mòn vẹt, những chiếc gùi, mỗi thứ một vẻ. Đất nước mình rộng hơn tôi tưởng, và còn rất nhiều điều tôi chưa biết. Tờ phiếu của nhóm tôi được cô chấm điểm cao nhất lớp, nhưng thứ tôi giữ lại lâu hơn là tấm ảnh chụp cả nhóm đứng dưới mái nhà rông, ai cũng ngửa cổ nhìn lên.

Mẫu 10

Mẫu 10: Chiếc bình méo ở làng gốm Bát Tràng

625 từ

Chiếc bình tôi nặn ở Bát Tràng hiện đang đặt trên bàn học, nghiêng hẳn sang một bên như người say ngủ. Đứa em tôi gọi nó là bình bị gió thổi. Mỗi lần nhìn nó, tôi lại nhớ buổi sáng thứ bảy cả lớp đi trải nghiệm ở làng gốm bên bờ sông Hồng.

Xe vừa vào đầu làng, tôi đã thấy gốm ở khắp nơi: chum vại xếp chồng trước cửa nhà, bát đĩa bày kín các gian hàng. Chú dẫn đoàn kể nghề gốm ở đây đã có từ nhiều thế kỉ trước, người làng truyền nghề cho nhau qua bao đời. Nhiều nhà vẫn giữ lò nung riêng sau nhà, khói bốc lên từ sáng sớm. Chú bảo muốn biết một người thợ giỏi hay không, cứ nhìn đôi bàn tay: tay thợ gốm lâu năm thường thô ráp, đầu ngón tay bóng lên vì cọ vào đất. Chúng tôi đi qua một con ngõ nhỏ, thấy mấy bà cụ đang ngồi vuốt những chiếc bình mộc, tay chạm vào đất nhẹ như vuốt tóc trẻ con.

Vào xưởng, mỗi đứa được ngồi trước một bàn xoay. Cô thợ trẻ làm mẫu: cục đất sét ướt đặt giữa bàn, chân đạp đều, hai bàn tay ôm lấy đất, chỉ vài phút đã nổi lên một chiếc bình cổ cao. Đến lượt tôi, cục đất lắc lư như muốn nhảy khỏi bàn. Tôi ấn mạnh tay, thành bình lệch hẳn. Bạn bên cạnh còn thảm hơn, chiếc bình của bạn sụp xuống thành một cái đĩa. Cả xưởng cười rộ. Cô thợ đến bên, cầm tay tôi, bảo đừng ép đất mà hãy để đất tự lên. Lần thứ ba, tôi được một chiếc bình méo nhưng đứng vững. Tôi giơ hai bàn tay lấm đất lên, sung sướng như vừa làm xong một việc lớn.

Buổi chiều, chúng tôi vẽ màu lên những chiếc bát mộc rồi gửi lại cho xưởng nung. Lúc đi ngang chợ gốm, tôi mua tặng mẹ một chiếc cốc nhỏ men xanh. Cầm nó lên, tôi thấy khác hẳn những lần trước: giờ tôi biết phía sau một chiếc cốc tròn trịa là bao nhiêu lần bàn tay người thợ phải học cách để đất tự lên.

Chiếc bình méo vẫn ở trên bàn học. Tôi không định đổi nó lấy một chiếc bình đẹp hơn.

Mẫu 11

Mẫu 11: Ngôi đình làng ngày hội (bài ngắn)

571 từ

Đình làng quê ngoại tôi không có tên trong sách du lịch nào. Năm ngoái, đình được công nhận là di tích cấp tỉnh, và cả làng làm lễ đón bằng ngay trong dịp hội đầu xuân. Tôi về quê từ chiều hôm trước, theo xe khách của bác hàng xóm. Sáng hôm sau, trời còn sương, ông ngoại đã đánh thức tôi dậy, bảo mặc áo ấm rồi đi cùng ông.

Đình nằm giữa làng, quay mặt ra một hồ nước nhỏ. Mái đình rộng, bốn góc cong vút, ngói cũ đã ngả màu nâu sẫm. Ông chỉ cho tôi những hình rồng, hình mây chạm trên các đầu xà, có con rồng chỉ còn một nửa vì gỗ đã mục. Ông bảo hồi ông bằng tuổi tôi, đình từng có lúc làm kho chứa thóc của hợp tác xã, nay mới được tu sửa lại. Mấy năm trước, người làng góp tiền, góp công thay những viên ngói vỡ, sơn lại hàng cột. Tên từng nhà góp công được viết lên một tấm bảng gỗ treo ở hiên đình, trong đó có tên ông tôi.

Ngày hội, sân đình rực cờ. Đội tế mặc áo the, bước từng bước chậm rãi theo tiếng trống. Lũ trẻ chúng tôi chen nhau xem đấu vật, reo hò mỗi khi có một đô vật bị nhấc bổng khỏi mặt đất. Ông từ coi đình, người mà cả làng gọi là cụ Thìn, kể cho tôi nghe chuyện vị thành hoàng của làng theo cách cụ đã nghe từ ông cụ, có chỗ còn thêm một câu tôi đoán là cụ tự nghĩ ra.

Trưa, ông dẫn tôi vào hậu cung thắp hương. Bên trong tối và thơm mùi gỗ cũ. Ông khấn rất lâu, tôi chỉ nghe được tên tôi và tên mẹ tôi. Ra ngoài, ông bảo đình là nơi cả làng gửi những điều mong ước, nên dù nghèo đến mấy người làng cũng không để đình dột.

Chiều về, tôi ngoái nhìn mái đình lần cuối dưới nắng. Một di tích không cần nổi tiếng mới đáng quý. Nó đáng quý vì có những người như ông tôi, như cụ Thìn, vẫn nhớ và kể về nó.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi Sửa thế nào
Bài văn thành bản thuyết minh: chép một loạt năm tháng, diện tích, số hiện vật Mỗi điểm đến chỉ cần một, hai thông tin chính, đặt vào lời kể (ai nói, em đọc ở đâu). Phần còn lại dành cho việc em thấy, em làm, em nghĩ.
Kể như nhật kí giờ giấc: sáu giờ lên xe, tám giờ đến, chín giờ vào đền… Chọn một, hai khoảnh khắc làm điểm nhấn để kể chậm (Mẫu 5: lúc bà đặt hoa; Mẫu 10: lần nặn bình thứ ba). Những chặng khác lướt nhanh.
Thông tin sai hoặc không chắc (năm xây dựng, số vòng thành, ai được thờ) Chỉ ghi điều đã đọc ở biển giới thiệu, sách, trang chính thức; truyền thuyết thì ghi tương truyền. Không nhớ chắc thì nói chung, đừng đoán số.
Cảm xúc chung chung, câu nào cũng là em rất vui, rất tự hào Gắn cảm xúc với một hình ảnh: chiếc cùm sắt, ngăn hầm chật, nhành cúc trên sông, chiếc bình méo.
Đổi ngôi kể hoặc kể chuyến đi mình không tham gia Đây là bài kể việc em trực tiếp trải qua, giữ ngôi thứ nhất. Kể những gì em thấy, nghe; điều nghe người khác kể thì ghi rõ ai kể.
Kết bài bằng lời hứa sáo rỗng Kết bằng một việc cụ thể em đã làm hoặc sẽ làm (đọc lại một bài thơ, chép một câu vào sổ, muốn quay lại cùng ai) hoặc một hình ảnh đọng lại.

Mẹo cộng điểm: mở bài bằng một chi tiết, một câu đối thoại, một vật kỉ niệm mang về (như Mẫu 1, 2, 4, 10) thay vì câu giới thiệu chung; kể có người cùng đi với những lời nói, cử chỉ riêng để chuyến đi có hơi thở thật.

Chọn mẫu nào để luyện viết?

Nếu làm đề Kết nối tri thức (tham quan di tích lịch sử, văn hóa), các Mẫu 1, 3, 4 và 8 bám sát nhất yêu cầu: có lí do chuyến đi, trình tự điểm tham quan, thông tin về di tích và suy nghĩ riêng. Muốn bài viết có chiều sâu cảm xúc, xem Mẫu 5 và Mẫu 6. Đề Chân trời sáng tạo chỉ ghi một chuyến đi, nên ngoài di tích lịch sử, em có thể chọn hướng văn hóa như Mẫu 9, 10, 11. Với Cánh diều, nếu em muốn kể một hoạt động xã hội thay vì chuyến đi, hãy xem trang kể lại một hoạt động xã hội lớp 8 có dàn ý và 12 bài mẫu riêng; các mẫu ở đây phục vụ nửa đề kể chuyến đi. Khi phải viết trong một tiết, Mẫu 7, 9 và 11 cho thấy cách gói một chuyến đi trong khoảng ba trăm rưỡi đến bốn trăm chữ.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet