Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử – Dàn ý + 12 bài văn mẫu (lớp 7)

Cập nhật 07/10/2026·MMavrick Nguyễn·50 phút đọc·Ngữ văn 7·Bài 1: Truyện ngắn và tiểu thuyết
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử
  • Bài văn kể về nhân vật, sự kiện thời dựng nước và giữ nước
  • Bài văn kể về nhân vật, sự kiện thời hiện đại
  • Bài văn mẫu ngắn

Kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử là kiểu bài tự sự học ở lớp 7 trong cả ba bộ sách: Bài 7 (tập 2) của Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, Bài 2 (tập 1) của Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo và Bài 1 (tập 1) của Ngữ văn 7 Cánh diều. Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài theo từng bộ, dàn ý chung, 12 bài văn mẫu (mỗi bài kể một sự việc khác nhau, từ ngọn cờ Hai Bà Trưng dựng lên năm 40 đến Tết trồng cây đầu tiên năm 1960) và những lỗi hay gặp khi viết. Năm tháng, tên người, địa danh trong các bài mẫu đã được đối chiếu với tư liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, báo Nhân Dân, Báo Chính phủ và bách khoa mở; chỗ sử sách chép khác nhau được ghi rõ là tương truyền hoặc sử cũ chép.

kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử
Kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử – văn mẫu lớp 7

Yêu cầu của kiểu bài kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử

Sự việc có thật là việc đã xảy ra ngoài đời, không do người viết tưởng tượng ra, được nhiều người biết hoặc được sử sách, báo chí ghi lại. Nhân vật lịch sử không chỉ là người cầm quân đánh giặc mà còn có thể là nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn, người lao động có đóng góp lớn. Dùng bảng dưới đây để tự kiểm tra bài sau khi viết.

Tiêu chí Bài viết đạt khi
Sự việc Có thật, gắn với một nhân vật hoặc một sự kiện lịch sử cụ thể, có năm tháng, nơi chốn. Không lấy truyền thuyết (Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thủy Tinh…) làm sự việc chính.
Giới thiệu Mở bài nêu được nhân vật hoặc sự kiện, sự việc sẽ kể; có thể cho biết em biết chuyện qua đâu: sách Lịch sử, lời người thân kể, phim tư liệu, bảo tàng.
Ngôi kể Ngôi thứ nhất (em nghe kể, tìm hiểu rồi thuật lại) hoặc ngôi thứ ba (kể khách quan); đã chọn thì giữ đến cuối bài.
Trình tự Theo thời gian: bối cảnh – mở đầu – diễn biến – kết thúc; các mốc ngày tháng, địa danh rõ ràng, không đảo lộn.
Miêu tả, biểu cảm Có tả quang cảnh, con người, hành động ở những chỗ then chốt; cảm xúc của người viết đặt đúng lúc, không lấn át phần kể.
Tư liệu Tên, năm, số liệu đúng; chi tiết truyền tụng ghi là tương truyền; câu trích dẫn đúng nguyên văn, có xuất xứ. Không bịa lời thoại cho nhân vật lịch sử.
Ý nghĩa Chỉ ra sự việc ấy có ý nghĩa gì; em nghĩ gì, nhớ nhất điều gì về nhân vật hoặc sự kiện.
Bố cục, diễn đạt Đủ ba phần; câu rõ, có nhịp; bài văn kể chuyện chứ không phải bản tóm tắt tiểu sử.

Ba bộ sách cùng một kiểu bài nhưng đặt trọng tâm hơi khác:

Bộ sách Vị trí Điểm nhấn của đề
Kết nối tri thức Tập 2, Bài 7 Thế giới viễn tưởng (Viết, trang 45) Đề nhấn vào một nhân vật lịch sử mà em nhớ nhất. Sách đòi hỏi bài viết giới thiệu được người và việc định kể, kể theo trình tự hợp lí có miêu tả, chỉ ra ý nghĩa sự việc và cảm nghĩ riêng về nhân vật. Bài viết tham khảo kể việc Ê-đi-xơn phát minh bóng đèn điện, tức là nhân vật có thể là nhà khoa học, kể cả người nước ngoài.
Chân trời sáng tạo Tập 1, Bài 2 Bài học cuộc sống (Viết, trang 47) Mở rộng thành nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Văn bản mẫu Thăm đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang do người viết xưng tôi thuật lại lễ hội tưởng nhớ, có tả quang cảnh. Dàn ý trong sách lưu ý nêu hoàn cảnh em thu thập tư liệu, gợi lại bối cảnh, dấu tích và đưa ra bằng chứng như tư liệu, câu trích.
Cánh diều Tập 1, Bài 1 Truyện ngắn và tiểu thuyết (Viết, trang 34) Cũng là nhân vật hoặc sự kiện, thuộc mọi lĩnh vực: đấu tranh giữ nước, văn hóa, khoa học, lao động sản xuất. Sách nhắc xác định sự việc em nghe kể hay đọc được, chọn ngôi kể, xác định ai là nhân vật trung tâm, việc gì là việc chính, kết hợp miêu tả. Văn bản tham khảo kể chuyện nhạc sĩ Văn Cao sáng tác Tiến quân ca.
Dàn ý

Dàn ý bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử

404 từ

1. Mở bài

– Giới thiệu nhân vật hoặc sự kiện lịch sử và sự việc em sẽ kể (thời gian, địa điểm).
– Có thể nêu em biết chuyện qua đâu, vì sao em chọn kể chuyện này.

2. Thân bài

a. Bối cảnh
+ Đất nước, nhân vật lúc ấy ở vào hoàn cảnh nào.
+ Nguyên nhân dẫn đến sự việc.

b. Diễn biến (kể theo thời gian)
+ Sự việc bắt đầu ra sao.
+ Các bước chính, mỗi bước gắn với một mốc thời gian hoặc một địa danh.
+ Lúc căng thẳng nhất: tả cảnh và việc làm, cử chỉ của nhân vật.
+ Sự việc kết thúc thế nào.
⇒ Có thể dẫn một câu trong văn bản lịch sử hoặc một chi tiết sử sách ghi lại, nhưng phải đúng nguyên văn.

c. Kết quả và ý nghĩa của sự việc
+ Sự việc thay đổi điều gì cho đất nước, cho nhân vật.
+ Dấu tích còn lại: đền thờ, tên phố, hiện vật, ngày kỉ niệm.

3. Kết bài

– Ấn tượng, suy nghĩ của em về nhân vật hoặc sự kiện.
– Liên hệ bản thân bằng một việc làm hoặc một hình ảnh cụ thể.

Mẹo tìm tư liệu: đọc ít nhất hai nguồn đáng tin (sách Lịch sử, trang của bảo tàng, báo lớn), ghi các mốc năm vào một phiếu nhỏ trước khi viết. Chi tiết nào chỉ thấy ở một nơi, hoặc các nơi chép khác nhau, thì kể thận trọng bằng những chữ như tương truyền, sử cũ chép, có sách cho rằng.

Bài văn kể về nhân vật, sự kiện thời dựng nước và giữ nước

Mẫu 1

Mẫu 1: Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm 40

908 từ

Đầu Công nguyên, vùng châu thổ sông Hồng của người Việt vẫn nằm dưới ách đô hộ của nhà Đông Hán. Đứng đầu bộ máy cai trị ở Giao Chỉ khi ấy là thái thú Tô Định, kẻ khét tiếng tham lam và tàn bạo. Hắn tăng thuế, bắt dân đi phu dịch, dùng luật lệ khắt khe trói buộc cả những Lạc tướng vốn được dân làng kính phục. Ở huyện Mê Linh, hai người con gái của Lạc tướng là Trưng Trắc và Trưng Nhị lớn lên giữa những năm tháng nặng nề ấy. Sử sách tả hai chị em là người cứng cỏi, gan góc, không chịu cúi đầu trước quan lại phương Bắc.

Trưng Trắc lấy chồng là Thi Sách, con Lạc tướng huyện Chu Diên ở vùng đất kề bên. Hai nhà chung một chí hướng, ngầm liên kết các thủ lĩnh trong vùng chuẩn bị nổi dậy. Theo sử Việt chép, Tô Định biết được ý định ấy nên giết Thi Sách hòng dập tắt mầm chống đối. Cũng có sách cổ chép khác về số phận của Thi Sách, nhưng các nhà sử học đều cho rằng nguyên nhân sâu xa của cuộc khởi nghĩa là chính sách bóc lột và đồng hóa hà khắc của nhà Hán. Nỗi đau riêng không làm Trưng Trắc chùn bước, trái lại còn khiến bà quyết định khởi binh sớm hơn.

Năm 40, Hai Bà dựng cờ khởi nghĩa. Ta có thể hình dung buổi xuất quân ở Mê Linh: cờ bay rợp các gò đất ven sông, tiếng trống đồng dội từ làng này sang làng khác, trai tráng cầm giáo, cầm nỏ kéo về đông như hội. Đi đầu đoàn quân là hai người phụ nữ trẻ, gương mặt nghiêm nghị, mắt hướng về phía các thành lũy của giặc. Người dân khắp nơi nghe tin đều hưởng ứng, nhiều thủ lĩnh địa phương đem quân đến hợp sức.

Nghĩa quân tiến nhanh như nước vỡ bờ. Thành này nối tiếp thành kia rơi vào tay người Việt; chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà đã lấy lại 65 thành, gần như toàn bộ đất đai của người Việt thời ấy. Tô Định hoảng hốt bỏ cả thành trì, trốn chạy về nước. Tương truyền hắn phải cắt tóc, cạo râu, lẫn vào đám quân lính tan tác mới thoát thân. Đất nước sạch bóng quân đô hộ, Trưng Trắc được tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Người đời sau gọi bà là Trưng Vương.

Nền tự chủ ấy giữ được gần ba năm. Năm 42, nhà Hán sai tướng Mã Viện đem đại quân sang đánh. Hai Bà chỉ huy nghĩa quân chống trả quyết liệt, nhưng lực lượng hai bên quá chênh lệch, lại có thủ lĩnh bỏ đi giữa chừng. Năm 43, cuộc kháng chiến thất bại, Hai Bà hi sinh. Dân gian truyền rằng Hai Bà đã gieo mình xuống dòng sông Hát để giữ trọn khí tiết, không chịu rơi vào tay giặc.

Ba năm là một quãng thời gian rất ngắn. Nhưng em nghĩ chính vì ngắn mà nó càng đáng quý: lần đầu tiên sau nhiều đời bị đô hộ, người Việt được làm chủ đất mình, và người dẫn đường lại là hai người phụ nữ. Ngọn cờ năm 40 cho các thế hệ sau thấy rằng ách áp bức dù nặng đến đâu cũng có thể bị lật đổ, chỉ cần có người dám đứng lên trước và có cả làng, cả nước cùng đi theo.

Mẫu 2

Mẫu 2: Ngô Quyền và bãi cọc trên sông Bạch Đằng năm 938 (qua lời bố kể)

759 từ

Bố tôi làm việc ở cảng Hải Phòng, sáng nào cũng xem bảng giờ thủy triều trước khi ra bến. Có lần tôi hỏi sao bố phải xem kĩ thế, bố cười:

– Nước lên nước xuống mà tính sai thì tàu mắc cạn như chơi. Hơn một nghìn năm trước, có người đã dùng chính con nước để đánh tan cả một đoàn chiến thuyền đấy.

Tối hôm ấy, bố mở sách Lịch sử của tôi, chỉ vào lược đồ trận Bạch Đằng năm 938 và kể. Cuối năm 937, nha tướng Kiều Công Tiễn giết Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ để cướp quyền. Ngô Quyền, con rể và là tướng giỏi của Dương Đình Nghệ, liền kéo quân từ Ái Châu ra Bắc hỏi tội. Sợ hãi, Công Tiễn sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán nhân dịp ấy sai con trai là Lưu Hoằng Tháo đem thủy quân vượt biển sang, còn mình đóng quân ở biên giới chờ tiếp ứng. Ngô Quyền ra tay trước, giết Kiều Công Tiễn khi quân Nam Hán chưa kịp vào, rồi tính kế đón giặc ở cửa sông Bạch Đằng.

Kế ấy giấu dưới đáy sông. Ngô Quyền cho quân và dân lên rừng đẵn gỗ, vót nhọn đầu, bịt sắt, rồi đóng thành bãi cọc ở gần cửa biển. Lúc triều cường, nước ngập kín, mặt sông phẳng lặng như không có gì. Quân thủy, quân bộ được giấu sẵn trong các nhánh sông và hai bên bờ.

Cuối năm 938, đoàn chiến thuyền của Hoằng Tháo tiến vào cửa Bạch Đằng. Đúng lúc nước đang lên, mấy chiếc thuyền nhẹ của quân ta ra khiêu chiến rồi giả thua, chèo ngược vào trong. Hoằng Tháo hăm hở đuổi theo, vượt qua bãi cọc mà không hề hay biết. Đợi khi nước triều rút mạnh, Ngô Quyền mới ra lệnh phản công. Quân mai phục đổ ra đánh dồn, thuyền giặc quay đầu chạy ra biển thì đâm phải những hàng cọc vừa nhô lên: chiếc thủng đáy, chiếc nghiêng lật, chiếc va vào nhau. Quá nửa quân Nam Hán bỏ mạng, Hoằng Tháo tử trận. Vua Nam Hán nghe tin, đành thu nhặt tàn quân rút về.

Bố gõ ngón tay lên trang sách:

– Cái khó là ở giờ giấc. Nước rút sớm quá thì cọc lộ ra, giặc tránh được. Rút muộn quá thì thuyền giặc đã qua mất rồi.

Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa. Thời kì Bắc thuộc kéo dài hơn nghìn năm khép lại từ dòng sông ấy. Sử cũ khen Ngô Quyền là người “mưu giỏi mà đánh cũng giỏi”. Đọc câu đó, tôi lại nghĩ đến tấm bảng thủy triều của bố. Cái tài của Ngô Quyền không chỉ ở lòng gan dạ, mà còn ở chỗ ông hiểu con sông quê mình kĩ đến từng giờ nước lên.

Mẫu 3

Mẫu 3: Lý Thường Kiệt giữ phòng tuyến sông Như Nguyệt (qua lời ông kể)

749 từ

– Ông ơi, sông Cầu có gì đặc biệt mà ông bảo là con sông của Lý Thường Kiệt?

Ông Thịnh nhà tôi dạy Lịch sử gần bốn mươi năm ở một trường cấp hai ven sông Cầu. Nghe tôi hỏi, ông đặt chén trà xuống, kéo tôi ngồi sát lại bên hiên. Câu chuyện ông kể hôm ấy, tôi xin thuật lại.

Năm 1076, nhà Tống sai Quách Quỳ làm tướng, Triệu Tiết làm phó, kéo đại quân sang đánh Đại Việt. Thái úy Lý Thường Kiệt đoán trước đường tiến của giặc, cho dựng một phòng tuyến dọc bờ nam sông Như Nguyệt, tức đoạn sông Cầu chảy qua đất Bắc Ninh. Quân ta cắm những hàng rào tre dọc bờ, đóng quân giữ các bến sông.

Tháng Giêng năm 1077, quân bộ của Tống vượt biên giới, kéo đến bờ bắc sông Như Nguyệt. Ông bảo tôi hình dung: bên kia sông, cờ quạt, lều trại của giặc san sát; bên này, lũy tre im lìm, lính ta nấp sau rào. Quách Quỳ chờ thủy quân đến để cùng vượt sông, nhưng thủy quân Tống đã bị quân ta chặn đánh ngoài biển, không vào được.

Sốt ruột, quân Tống bắc cầu phao, đưa một cánh quân qua sông. Cánh quân ấy vừa tiến sâu vào bờ nam thì bị quân ta đổ ra chặn đánh, cầu phao phía sau lại bị cắt đứt, đường về không còn. Gần hết số giặc vượt sông bị tiêu diệt. Lần sau, chúng đóng những chiếc bè lớn chở quân sang, chặt và đốt rào tre, nhưng vẫn không phá nổi phòng tuyến; đợt nào đổ bộ lên bờ nam cũng bị đánh lui.

Đến đây ông dừng lại, đọc chậm mấy câu thơ dịch trong Nam quốc sơn hà. Theo lời ông, tương truyền vào một đêm giữa những ngày giằng co, trong ngôi đền bên sông bỗng vang lên bài thơ khẳng định sông núi nước Nam là của người Nam, quân giặc đến xâm phạm thì sẽ chuốc lấy bại vong. Quân ta nghe thì phấn chấn, quân giặc nghe thì hoang mang.

– Ông nói tương truyền, cháu nhớ nhé. Sách cũ không ghi chắc ai làm bài thơ ấy. Viết về lịch sử, chỗ nào chưa chắc thì phải nói là chưa chắc.

Bị chặn đứng bên kia sông, quân Tống ngày càng mỏi mệt, ốm đau, thiếu lương. Cuộc xâm lược thất bại, Quách Quỳ phải rút quân về nước. Đại Việt giữ vững được bờ cõi.

Hôm sau, đứng trên cầu nhìn dòng sông Cầu lững lờ chảy, tôi cứ tự hỏi: một con sông hiền như thế đã từng chặn đứng cả một đạo quân, vậy những người ngày ngày qua cầu có ai còn nhớ những hàng rào tre năm ấy không?

Mẫu 4

Mẫu 4: Quang Trung đại phá quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu 1789

940 từ

Ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân, tức ngày 22 tháng 12 năm 1788, trên núi Bân ở phía nam kinh thành Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập đàn tế trời đất rồi lên ngôi hoàng đế ngay tại đó. Niên hiệu ông chọn là Quang Trung. Buổi lễ vừa xong, nhà vua lập tức thúc quân ra Bắc. Lúc ấy, quân Thanh dưới quyền Tôn Sĩ Nghị đã chiếm đóng Thăng Long, chia quân giữ một loạt đồn lũy phía nam kinh thành.

Đoàn quân đi gấp ngày đêm. Đến Nghệ An, vua dừng lại tuyển thêm quân, mở cuộc duyệt binh lớn, nói cho tướng sĩ hiểu vì sao phải đánh đuổi giặc. Hàng vạn tiếng hô đáp lời vua vang dậy cả vùng. Cuối tháng Chạp, quân Tây Sơn tới Tam Điệp, hợp với cánh quân đã rút về giữ nơi đây từ trước. Nhà vua chia quân làm năm đạo, giao cho mỗi đạo một hướng đánh. Rồi vua cho tướng sĩ ăn Tết sớm, hẹn đến ngày mồng 7 tháng Giêng sẽ mở tiệc mừng ở thành Thăng Long. Nghe lời hẹn, ai nấy đều nức lòng.

Đêm 30 Tết, khi nhà nhà ở Bắc Hà đang chờ giao thừa, đạo quân chủ lực do vua trực tiếp chỉ huy vượt sông, đánh tan đồn Gián Khẩu. Các đồn tiền tiêu của giặc nối nhau thất thủ. Ở Hà Hồi, quân Tây Sơn vây kín đồn trong đêm, quân Thanh bên trong hoảng loạn, kéo nhau ra hàng. Quân ta thu được rất nhiều lương thực, khí giới.

Mờ sáng mồng 5 Tết, trận quyết chiến nổ ra ở Ngọc Hồi, đồn lũy mạnh nhất chắn đường vào Thăng Long. Từ trong đồn, súng giặc bắn ra như mưa. Quân Tây Sơn khiêng những tấm mộc lớn bằng gỗ, bên ngoài quấn rơm thấm nước, cứ hai mươi người một tấm, kết thành một bức tường di động tiến lên; theo sau là những người lính giắt dao ngắn bên hông. Đạn lửa cắm vào rơm ướt, không xuyên được. Voi chiến ầm ầm xông tới, ngựa của giặc sợ hãi lùi lại giẫm lên nhau. Đến khi bức tường mộc áp sát chân đồn, quân ta vứt mộc, rút dao xông vào. Đồn Ngọc Hồi vỡ, quân Thanh chết và bị thương vô kể.

Cùng lúc ấy, ở gò Đống Đa, một đạo quân Tây Sơn khác đánh thẳng vào doanh trại của Sầm Nghi Đống. Bị vây chặt, thế cùng lực kiệt, viên tướng này thắt cổ tự tử.

Tin dữ dồn dập bay về đại bản doanh. Tôn Sĩ Nghị cuống cuồng bỏ chạy, vượt cầu phao sông Hồng trốn về phía bắc. Quân lính thấy chủ tướng chạy cũng tranh nhau lên cầu, cầu phao đứt, người ngựa rơi xuống sông nhiều không kể xiết. Ngay trong ngày mồng 5 Tết, quân Tây Sơn đã tiến vào Thăng Long, sớm hơn lời hẹn ở Tam Điệp hai ngày.

Chỉ trong mấy ngày Tết, một đạo quân xâm lược rất đông đã bị quét sạch. Bí quyết của trận đánh nằm ở hai chữ thần tốc: đi nhanh hơn mọi tính toán của giặc, đánh vào đúng lúc chúng lơi là nhất, và đánh bằng những cách chúng không ngờ tới. Em đặc biệt nhớ hình ảnh ngày mồng 7 tháng Giêng: đúng như lời hẹn, các đạo quân áo vải được nghỉ ngơi, ăn Tết khai hạ ngay giữa kinh thành vừa giải phóng. Lời hứa của một vị vua với ba quân đã thành sự thật chỉ sau một tuần lễ.

Mẫu 5

Mẫu 5: Nguyễn Trãi soạn Bình Ngô đại cáo năm 1428

649 từ

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, câu mở đầu ấy được Nguyễn Trãi viết vào năm 1428, khi những trận đánh cuối cùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vừa lắng xuống. Câu văn ngắn mà chứa cả lí do vì sao người Việt đã cầm vũ khí suốt những năm dài kháng chiến: đánh giặc không phải để báo thù, mà để dân được sống yên.

Cuối năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn mở chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang, đánh tan các đạo viện binh nhà Minh kéo sang cứu nguy. Tướng giặc Liễu Thăng tử trận. Vương Thông, viên tướng đang cố thủ trong thành Đông Quan, biết không còn đường nào khác, phải xin giảng hòa để rút quân về nước. Bình Định Vương Lê Lợi chấp nhận. Ông không truy sát kẻ bại trận, lại còn cấp thuyền, cấp ngựa cho quân Minh về nước. Chiến tranh khép lại.

Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi soạn một bài cáo, thay lời ông báo cho khắp nước biết cuộc kháng chiến đã toàn thắng. Nguyễn Trãi là người đã sát cánh bên Lê Lợi qua những năm kháng chiến. Ta không biết ông ngồi viết dưới ngọn đèn nào, trong bao nhiêu đêm. Ta chỉ biết bài cáo viết bằng chữ Hán ấy đã đi qua gần sáu thế kỉ để đến với chúng ta.

Bài cáo khẳng định nước Đại Việt có nền văn hiến lâu đời, có núi sông bờ cõi riêng, phong tục khác hẳn phương Bắc, có các triều đại sánh ngang với các triều đại bên kia biên giới. Tiếp đó, Nguyễn Trãi kể tội giặc Minh: lấy cớ diệt nhà Hồ để cướp nước, vơ vét của cải, hành hạ dân lành. Ông thuật lại những ngày đầu gian khổ của nghĩa quân, lúc lương cạn, quân ít, rồi những trận thắng liên tiếp cho đến ngày toàn thắng. Cuối cùng, bài cáo tuyên bố đất nước từ nay được độc lập, thái bình lâu dài.

Cũng trong năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt. Người đời sau gọi bài cáo của Nguyễn Trãi là một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc. Mỗi lần đọc lại, em thích nhất một câu ngắn ở đoạn đầu, giọng như một lời khẳng định không ai lay chuyển được: “Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Bài văn kể về nhân vật, sự kiện thời hiện đại

Mẫu 6

Mẫu 6: Người phụ bếp tên Văn Ba rời bến Nhà Rồng năm 1911

714 từ

Ngày 3 tháng 6 năm 1911, ở cảng Sài Gòn, một chàng trai trẻ tìm đến con tàu Amiral Latouche-Tréville xin một chân phụ bếp. Đó là một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách sắp đi Pháp. Anh khai tên là Văn Ba. Không ai trên tàu biết tên thật của anh là Nguyễn Tất Thành, càng không ai đoán được người phụ bếp ấy sau này sẽ trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trước ngày đến bến cảng, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều nơi trên đất nước. Anh đã chứng kiến nhiều phong trào yêu nước đầu thế kỉ nổi lên rồi lần lượt thất bại, đồng bào vẫn khổ cực dưới ách thực dân. Anh nghĩ phải ra nước ngoài để tận mắt xem các nước phương Tây sống ra sao, vì sao họ mạnh. Về sau, khi trả lời một nhà văn Mỹ, Người kể lại ý nghĩ thời ấy: “Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Muốn đi xa mà không có tiền, anh chọn cách làm thuê trên tàu. Công việc phụ bếp rất nặng: từ tờ mờ sáng đã phải quét dọn gian bếp lớn, đốt lò, khuân than, xuống hầm lạnh lấy rau, thịt, cá, rồi vác lên những bậc thang hẹp trong khi con tàu chòng chành. Gian bếp nóng như lò lửa, dưới hầm lại lạnh buốt. Đôi bàn tay quen cầm bút giờ phải quen với xoong chảo, than bụi.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, con tàu rời bến Nhà Rồng. Ta có thể hình dung giây phút ấy: còi tàu rúc lên một hồi dài, khói đen cuộn trên ống khói, mặt sông Sài Gòn loang loáng nắng. Trên boong, giữa những thủy thủ đang tất bật, người phụ bếp trẻ đứng lặng một lúc nhìn về phía bờ, nơi những mái nhà, hàng cây cứ nhỏ dần rồi khuất hẳn sau khúc quanh của dòng sông.

Chuyến đi ấy mở đầu cho một hành trình kéo dài ba mươi năm qua nhiều nước, nhiều châu lục. Người làm đủ nghề để sống và để học: phụ bếp, đốt lò, cào tuyết, làm vườn, chụp ảnh. Đến đầu năm 1941, Người mới trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Em thường nghĩ về khoảnh khắc con tàu tách bến. Một chàng trai trẻ, không có tiền, không có người quen ở nơi sắp đến, chỉ có một câu hỏi lớn về con đường cứu nước. Ngày 5 tháng 6 sau này được chọn làm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Với em, đó cũng là ngày của lòng can đảm: dám rời bến khi chưa biết bến tiếp theo ở đâu.

Mẫu 7

Mẫu 7: Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945

685 từ

Ở phố Hàng Ngang, giữa khu phố cổ Hà Nội, có ngôi nhà mang số 48. Cuối tháng 8 năm 1945, chỉ ít ngày sau khi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc ở đây và soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Từ một căn phòng nhỏ trên gác, những trang viết ấy chuẩn bị cho một ngày lớn của cả dân tộc.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hà Nội như mở hội. Từ sáng sớm, người dân nội thành và các vùng quanh Hà Nội đã kéo về vườn hoa Ba Đình, nay là Quảng trường Ba Đình. Có các cụ già, có những đoàn thiếu nhi vừa đi vừa hát, có người buôn bán, công nhân, nông dân từ các làng ven đô. Cờ đỏ sao vàng bay khắp quảng trường. Hàng chục vạn con người đứng chật kín, ngước nhìn về phía lễ đài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu Chính phủ lâm thời, bước ra và bắt đầu đọc. Mở đầu, Người dẫn lời bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và “Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được”, như quyền sống, quyền được tự do, quyền theo đuổi hạnh phúc. Người nhắc tiếp văn kiện về nhân quyền, dân quyền mà cách mạng Pháp đã công bố. Dựa vào những lẽ phải ai cũng phải thừa nhận ấy, bản Tuyên ngôn vạch rõ những việc làm tàn ác thực dân Pháp gây ra hơn tám mươi năm trên đất nước ta, khẳng định nhân dân Việt Nam đã tự đứng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật.

Cả quảng trường lặng đi nghe từng câu. Đến đoạn Người nói rằng một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm, đã đứng về phe Đồng Minh chống phát xít, thì dân tộc ấy phải được tự do, “Dân tộc đó phải được độc lập!”, những tiếng hô hưởng ứng vang lên như sóng. Bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Em chưa từng thấy buổi lễ ấy, chỉ được xem những tấm ảnh đen trắng và nghe giọng đọc trong bản ghi âm được thu lại nhiều năm sau. Vậy mà mỗi lần nghe, em vẫn thấy lạ: chỉ mấy trang giấy viết trên một căn gác nhỏ mà làm cả một dân tộc đứng thẳng lên. Có lẽ vì mỗi chữ trong đó đã được trả bằng mồ hôi và máu của bao nhiêu thế hệ, nên nó nặng đến thế.

Mẫu 8

Mẫu 8: Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo

761 từ

Trong danh sách Bảo vật quốc gia của nước ta có một khẩu pháo cao xạ 37 li mang số hiệu 510681. Lần đầu đọc dòng chữ ấy trên báo, em thắc mắc vì sao một khẩu pháo lại được quý như cổ vật. Câu trả lời gắn với một người lính tên là Tô Vĩnh Diện.

Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình nông dân nghèo, từ nhỏ đã phải đi ở cho nhà giàu. Năm 1949, anh vào bộ đội. Năm 1953, quân đội ta thành lập những đơn vị pháo cao xạ đầu tiên; anh được chọn làm khẩu đội trưởng một khẩu pháo 37 li thuộc đại đội 827.

Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Để đưa pháo vào trận địa, bộ đội phải kéo bằng sức người trên những con đường mới mở, xuyên qua núi cao, vực sâu. Mỗi khẩu pháo nặng hàng tấn, con dốc nào cũng phải dùng tời, dùng dây, hàng trăm người cùng níu giữ. Rồi có lệnh từ trên: kéo pháo ra, vì cách đánh của chiến dịch thay đổi. Kéo pháo vào đã khó, kéo ra còn gian nan hơn, bởi giặc đã biết đường và bắn phá dữ dội.

Một đêm giáp Tết Giáp Ngọ, đầu năm 1954, khẩu pháo của Tô Vĩnh Diện xuống một con dốc cao và hẹp. Pháo giặc bất ngờ bắn tới, đúng lúc ấy dây tời đứt. Hàng tấn sắt thép bắt đầu trôi xuống, mỗi lúc một nhanh, lao về phía vực sâu. Hàng trăm cánh tay níu dây mà không giữ nổi. Giữa tiếng nổ và bóng tối, Tô Vĩnh Diện vừa hô đồng đội quyết giữ lấy pháo, vừa lao lên phía trước, lấy chính thân mình chèn vào khẩu pháo. Pháo khựng lại, nghiêng tựa vào sườn núi, không rơi xuống vực. Đồng đội chạy tới thì anh đã hi sinh.

Khẩu pháo được cứu sống ấy về sau tiếp tục chiến đấu, cùng đồng đội của anh góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1956, Tô Vĩnh Diện được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sử sách ghi lại ngày anh hi sinh và cả cách anh chèn pháo không hoàn toàn giống nhau, vì câu chuyện được truyền miệng qua nhiều người trước khi được các nhà nghiên cứu xác minh lại. Nhưng điều cốt lõi thì không ai nghi ngờ: anh đã đổi mạng mình lấy khẩu pháo.

Điều làm em nghĩ mãi là anh hi sinh không phải khi đang bắn máy bay, mà khi đang kéo pháo ra. Không có tiếng reo chiến thắng nào lúc ấy, chỉ có một con dốc tối và một mệnh lệnh phải thi hành. Có lẽ lòng dũng cảm lớn nhất đôi khi nằm ở những việc nặng nhọc, lặng lẽ như thế.

Bài văn mẫu ngắn

Mẫu 9

Mẫu 9: Lý Công Uẩn dời đô ra thành Đại La năm 1010

385 từ

Mùa thu năm 1010, một đoàn thuyền lớn rời kinh đô Hoa Lư, xuôi theo các dòng sông về phía bắc. Trên thuyền có vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn, cùng triều thần và tướng sĩ. Nhà vua lên ngôi chưa được bao lâu đã quyết định một việc lớn: dời đô.

Hoa Lư có núi đá bao quanh, hiểm trở, hợp với việc giữ thành thời loạn lạc, nhưng đất hẹp, khó mở mang. Mùa xuân năm ấy, nhà vua ban Chiếu dời đô, khen thành Đại La cũ “ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi”, đất rộng mà bằng phẳng, cao ráo, muôn vật tươi tốt, đúng là nơi tụ hội của bốn phương. Ông muốn đặt kinh đô ở chỗ đất nước có thể lớn lên lâu dài.

Tháng 7 năm ấy, đoàn thuyền đến dưới chân thành Đại La. Sử cũ chép rằng khi thuyền vua tạm đỗ, có rồng vàng hiện lên, vì thế nhà vua đổi tên thành là Thăng Long. Cũng có sách kể cái tên ấy đến với nhà vua trong một giấc mơ. Dù theo cách kể nào, hai chữ Thăng Long vẫn mang một nghĩa: rồng bay lên.

Từ mùa thu năm ấy, Thăng Long trở thành kinh đô của nhiều triều đại, và mảnh đất ấy là Hà Nội của chúng ta. Một nghìn năm đã trôi qua, quyết định của một vị vua trên con thuyền xuôi dòng vẫn còn hiện diện trong từng con phố em đi qua mỗi ngày.

Mẫu 10

Mẫu 10: Hội nghị Diên Hồng (qua bản tin thời sự)

421 từ

Tối qua, đang ngồi xem bản tin thời sự lúc bảy giờ cùng bố, tôi nghe phát thanh viên nói các đại biểu Quốc hội họp ở phòng Diên Hồng. Tôi hỏi bố Diên Hồng là gì. Bố bảo đó là tên một cung điện thời Trần, nơi từng diễn ra một hội nghị rất đặc biệt. Tò mò, tôi lấy cuốn sách Lịch sử ra lật tìm, vừa đọc vừa nghe bố kể tiếp.

Tháng Chạp năm Giáp Thân, sử sách thường ghi là năm 1284, quân Nguyên chuẩn bị kéo sang xâm lược nước ta lần thứ hai. Thế giặc rất mạnh. Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mời các bô lão khắp nơi trong nước về kinh thành Thăng Long. Các cụ, phần đông là người làng quê, quanh năm ruộng đồng, nay được ngồi dự yến ở thềm điện Diên Hồng. Thượng hoàng hỏi các cụ: giặc mạnh như thế, nên hòa hay nên đánh?

Các bô lão đồng thanh hô: “Đánh!”. Sử chép rằng muôn người như cùng một tiếng. Tiếng hô ấy cho triều đình biết lòng dân đã sẵn sàng, và chính các cụ khi trở về làng lại truyền ý chí đánh giặc tới từng nhà.

Người đời sau coi đây là một hội nghị mang tinh thần dân chủ hiếm có thời phong kiến, khi nhà vua hỏi ý dân trước một việc hệ trọng. Nghe bố kể xong, tôi bỗng thấy cái tên phòng họp trên tivi có âm thanh khác hẳn: trong đó có tiếng hô vang của những ông cụ chân lấm tay bùn hơn bảy trăm năm trước.

Mẫu 11

Mẫu 11: Thầy giáo Chu Văn An dâng Thất trảm sớ

439 từ

Bảy cái tên. Đó là bảy viên quan nịnh thần mà một ông thầy giáo đã viết vào tờ sớ dâng lên vua, xin vua chém đầu. Người thầy ấy là Chu Văn An, tờ sớ ấy về sau được gọi là Thất trảm sớ.

Chu Văn An sinh năm 1292 ở làng Văn, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan, mà mở trường dạy học ở Huỳnh Cung. Học trò kéo đến rất đông, nhiều người về sau đỗ đạt, làm quan giúp nước. Danh tiếng ấy khiến vua Trần Minh Tông mời ông về làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, trông coi việc học và dạy cho thái tử.

Đến đời vua Trần Dụ Tông, triều chính rối ren. Nhà vua ham chơi, bọn quyền thần lộng hành, dân chúng khổ sở. Thấy chính sự bê bối, Chu Văn An dâng Thất trảm sớ, xin trừng trị bảy kẻ gian, đều là những người quyền thế được vua yêu chiều. Tờ sớ làm cả triều đình chấn động, nhưng vua không nghe.

Can gián không thành, ông từ quan, rời kinh thành về núi Phượng Hoàng ở Chí Linh, tự đặt hiệu là Tiều Ẩn, nghĩa là người kiếm củi ở ẩn. Ở đó, ông tiếp tục dạy học, viết sách, hái thuốc chữa bệnh cho dân, cho đến khi mất năm 1370. Ông được thờ ở Văn Miếu, nơi người xưa thờ những bậc thầy lớn của đạo học.

Em hình dung ông thầy già bước xuống núi Phượng Hoàng mỗi sáng, phía sau là rừng thông, phía trước là lớp học trò đang chờ. Ông không giữ được chức quan, nhưng giữ được thứ khó giữ hơn nhiều: sự thẳng thắn của một người thầy.

Mẫu 12

Mẫu 12: Bác Hồ và Tết trồng cây

434 từ

Sáng thứ hai đầu xuân, cả lớp tôi xắn tay áo trồng cây ở góc sân trường. Trong lúc chờ các bạn tưới nước, cô Lan chủ nhiệm hỏi chúng tôi có biết Tết trồng cây bắt đầu từ đâu không. Cả lớp im lặng, cô bèn kể.

Ngày 28 tháng 11 năm 1959, báo Nhân Dân đăng bài Tết trồng cây ký tên Trần Lực, đó là một bút danh của Bác Hồ. Trong bài, Bác đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây vì việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều. Hưởng ứng lời Bác, nhân dân cả nước làm Tết trồng cây lần đầu tiên vào dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 1960. Mùa xuân năm ấy, chính Bác cũng tự tay xúc đất trồng cây cùng nhân dân Thủ đô ở Công viên Thống Nhất, Hà Nội.

Từ đó, xuân nào Bác cũng đi trồng cây ở một nơi. Mùng 1 Tết Kỷ Dậu năm 1969, dù sức khỏe đã yếu, Bác vẫn về xã Vật Lại, huyện Ba Vì để trồng cây cùng bà con. Đó là cái Tết cuối cùng của Bác. Cô đọc cho cả lớp nghe hai câu thơ của Bác mà người Việt Nam nào cũng thuộc:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Nghe cô kể xong, tôi nhìn lại cây bàng con nhóm mình vừa trồng, thân chỉ to bằng ngón tay cái, lá non xanh như mới nhú. Tôi chợt muốn ra trường sớm hơn mỗi sáng để tưới cho nó, để mấy năm nữa, cây có đủ tán che mát một góc sân.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi thường gặp Sửa thế nào
Kể truyền thuyết như chuyện có thật (Thánh Gióng đánh giặc Ân, nỏ thần An Dương Vương…) Chọn sự việc có sử sách, báo chí ghi lại. Nếu sự việc thật có kèm chi tiết truyền tụng (rồng vàng hiện lên, bài thơ vang lên trong đền) thì ghi rõ là tương truyền.
Sai năm, sai tên, nhầm hai sự kiện cùng tên (trận Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy năm 938 và trận do Trần Hưng Đạo chỉ huy năm 1288) Tra ít nhất hai nguồn, lập bảng mốc thời gian trước khi viết; kiểm lại tên người, tên đất sau khi viết xong.
Kể như tóm tắt tiểu sử: sinh năm, quê quán, chức tước, mất năm Chọn một sự việc, kể diễn biến có thời gian, nơi chốn, hành động; các thông tin tiểu sử chỉ giữ vài câu ở mở bài.
Bịa lời thoại trong ngoặc kép cho nhân vật lịch sử Chỉ trích những câu có trong văn bản lịch sử hoặc sử sách, đúng nguyên văn; còn lại kể gián tiếp. Lời thoại của người kể (ông, bố, cô giáo) thì được phép tự viết.
Mở bài dài dòng về truyền thống dân tộc, mãi mới vào chuyện Vào thẳng một thời điểm, một hiện vật, một câu trích hoặc một tình huống em nghe chuyện (xem Mẫu 2, 4, 5, 8).
Đưa số liệu không chắc (số quân giặc, số người chết) Các nguồn chép khác nhau thì bỏ con số, hoặc nói sử chép là khoảng bao nhiêu.
Chỉ kể, không tả; hoặc tả tràn lan làm loãng câu chuyện Tả kĩ ở hai, ba chỗ then chốt: quang cảnh trước trận, khoảnh khắc quyết định, hình ảnh kết thúc.
Đổi ngôi kể giữa bài (đang xưng tôi lại chuyển sang kể như người ngoài) Chọn một ngôi từ đầu. Kể qua lời người thân thì nói rõ ai kể, kể lúc nào.
Kết bài chỉ hô khẩu hiệu Nêu một suy nghĩ cụ thể về nhân vật, hoặc gắn với một dấu tích có thật: tên phố, đền thờ, ngày kỉ niệm, hiện vật.

Mẹo nhỏ để bài nổi bật: tìm một chi tiết đắt mà ít bạn nhắc tới (tấm mộc bọc rơm ướt ở Ngọc Hồi, khẩu pháo trở thành bảo vật quốc gia, bút danh Trần Lực), và nói rõ em biết chuyện từ đâu. Đề của Chân trời sáng tạo đặc biệt coi trọng phần nêu hoàn cảnh thu thập tư liệu và dùng bằng chứng.

Chọn mẫu nào để luyện viết?

Đề của Kết nối tri thức nhấn vào một nhân vật lịch sử, nên các mẫu kể quanh một con người là hợp nhất: Mẫu 1, 4, 6, 8 và 11. Đề của Chân trời sáng tạo và Cánh diều cho chọn nhân vật hoặc sự kiện; ngoài các mẫu trên, có thể tham khảo Mẫu 7 (một sự kiện trọng đại) và Mẫu 10 (một hội nghị). Nếu muốn viết bằng ngôi thứ nhất như văn bản mẫu của Chân trời sáng tạo, hãy xem Mẫu 2, 3, 10 và 12, nơi người kể nói rõ mình biết chuyện qua ai, trong hoàn cảnh nào. Cánh diều nhắc rằng nhân vật lịch sử có thể thuộc lĩnh vực văn hóa, giáo dục, lao động: Mẫu 5, 9, 11, 12 là những hướng ngoài chiến trận. Khi phải viết trong một tiết, nhóm bài văn mẫu ngắn (Mẫu 9 đến Mẫu 12) cho thấy cách gói một sự việc trong khoảng ba trăm chữ mà vẫn đủ bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet