Kể lại một hoạt động xã hội là bài Viết của lớp 8 trong Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo (Bài 4 Sắc thái của tiếng cười, Tập 1, trang 88–93, và được luyện lại ở Bài 6 Tình yêu Tổ quốc, Tập 2) và trong Ngữ văn 8 Cánh diều (Bài 1, Tập 1, đề cho chọn kể một chuyến đi hoặc một hoạt động xã hội). Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài, dàn ý, 12 bài văn mẫu kể 12 hoạt động khác nhau (nhặt rác bãi biển, ngày hội hiến máu, Giờ Trái Đất, đan khăn cho học sinh vùng cao, trồng cây ngập mặn, gói bánh chưng tặng người khó khăn…), lỗi hay gặp và mẹo viết. Nếu em chọn nửa còn lại của đề Cánh diều, xem trang kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa. Trường lớp, tên người và số liệu trong các bài mẫu là giả định để minh họa; tên các tổ chức (Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ) và thông tin về Giờ Trái Đất, tuổi hiến máu là thông tin thật, đã đối chiếu nguồn công khai.

Yêu cầu của kiểu bài kể lại một hoạt động xã hội
Hoạt động xã hội là việc làm có tổ chức, hướng tới lợi ích của cộng đồng: bảo vệ môi trường, giúp người gặp khó khăn, tuyên truyền một nếp sống tốt, gìn giữ truyền thống… Bài văn thuộc kiểu tự sự: em là người trực tiếp tham gia (hoặc chứng kiến, theo đề Chân trời sáng tạo tập 2), kể lại bằng ngôi thứ nhất và đan vào đó miêu tả, biểu cảm. Bảng sau giúp em tự kiểm tra bài viết.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Thông tin cơ bản | Người đọc biết đó là hoạt động gì, ai tổ chức, diễn ra lúc nào, ở đâu, những ai tham gia và nhằm mục đích gì. |
| Diễn biến | Các việc được kể theo trình tự hợp lí (chuẩn bị, bắt đầu, phần chính, kết thúc); có ít nhất một khoảnh khắc được kể chậm, tả kĩ thay vì liệt kê đều tay. |
| Miêu tả | Tả nơi diễn ra hoạt động (sáng hay chiều, nắng hay mưa, đông hay vắng) và con người cụ thể: một gương mặt, một đồ vật, một âm thanh, một câu nói. |
| Biểu cảm | Cảm xúc gắn với chi tiết: vì sao em ngại, em bất ngờ, em xúc động ở đúng chỗ ấy; tránh những lời khen chung chung. |
| Ý nghĩa | Kết bài nêu được giá trị của hoạt động với cộng đồng và điều em nghĩ, em hiểu thêm (về người khác, về chính mình). |
| Chân thực | Không phóng đại kết quả; số liệu nếu có phải hợp lí; ngôi kể giữ nhất quán từ đầu đến cuối. |
Hai bộ sách có cùng đề nhưng đặt trọng tâm hơi khác:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm cần chú ý |
|---|---|---|
| Chân trời sáng tạo | Tập 1, Bài 4, trang 88–93 | Đề yêu cầu kể một hoạt động xã hội khiến em nghĩ nhiều và xúc động thật sự; bài viết dùng miêu tả, biểu cảm, hoặc dùng cả hai. Văn bản phân tích trong sách kể chuyến thăm các bệnh nhi ở bệnh viện ung bướu. Sách gợi ý nhiều nhóm đề tài: bảo vệ môi trường, từ thiện, tuyên truyền nếp sống văn minh, giáo dục truyền thống. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 2, Bài 6, trang 13 | Đề nhấn vào hoạt động mang lại điều tốt cho cộng đồng; em có thể là người tham gia hoặc người đứng xem tận mắt. Lần này bài viết phải có đủ cả miêu tả lẫn biểu cảm. Sách gợi ý thêm việc gìn giữ văn hóa, lịch sử địa phương và những việc làm bày tỏ lòng yêu quê hương, đất nước (vẽ tranh về biển đảo, làm thiệp tặng bộ đội). |
| Cánh diều | Tập 1, Bài 1 | Đề cho chọn một chuyến đi hoặc một hoạt động xã hội; phần thực hành của sách lấy đề hoạt động xã hội giàu ý nghĩa. Dàn ý của sách đi theo ba ý lớn ở thân bài: hình thức tổ chức, quá trình tiến hành, kết quả (về vật chất và tinh thần). |
Dàn ý bài văn kể lại một hoạt động xã hội
1. Mở bài
– Giới thiệu hoạt động: tên gọi, đơn vị tổ chức, thời gian.
– Vì sao em tham gia, hoặc một chi tiết khiến em nhớ đến hoạt động ấy (một đồ vật, một câu nói, một tấm ảnh).
2. Thân bài
a. Thông tin và chuẩn bị
+ Mục đích của hoạt động; những ai tham gia; địa điểm, quang cảnh.
+ Việc chuẩn bị: phân công, dụng cụ, tâm trạng của em và các bạn.
b. Diễn biến
+ Lúc bắt đầu: không khí, lời dặn của người phụ trách.
+ Phần chính: kể theo trình tự; chọn một hai khoảnh khắc đáng nhớ để kể chậm, có tả người, tả cảnh, có lời thoại.
+ Khó khăn bất ngờ (nếu có) và cách mọi người giải quyết.
c. Kết thúc và kết quả
+ Kết quả cụ thể (vừa phải, hợp lí).
+ Thái độ của những người được giúp, của người cùng tham gia.
3. Kết bài
– Ý nghĩa của hoạt động đối với cộng đồng.
– Điều em nghĩ, em thay đổi sau hoạt động; có thể kết bằng một hình ảnh thay cho lời hứa.
Gợi ý chọn đề tài: hoạt động vì môi trường (nhặt rác, trồng cây, tái chế, tiết kiệm điện), hoạt động nhân đạo (hiến máu, quyên góp, thăm người già, người bệnh), hoạt động tuyên truyền (an toàn giao thông, phòng đuối nước, phòng chống tệ nạn), hoạt động truyền thống (thăm gia đình chính sách, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, giữ gìn di tích, làng nghề). Chọn việc em thật sự làm hoặc thấy tận mắt; một hoạt động nhỏ kể có chi tiết hay hơn một hoạt động lớn chỉ kể bằng con số.
Bài văn kể hoạt động vì môi trường
Mẫu 1: Buổi sáng nhặt rác trên bãi biển
Trên bậu cửa sổ phòng tôi có một lọ thủy tinh đựng đầy nắp chai nhựa đủ màu. Ai đến chơi cũng tưởng tôi sưu tầm. Thật ra đó là “chiến lợi phẩm” của buổi sáng Chủ nhật đầu tháng Tư, khi Liên đội trường tôi tổ chức nhặt rác trên bãi biển cách trường chừng hai cây số.
Tôi phải đặt đồng hồ báo thức lúc năm giờ. Năm giờ rưỡi, sân trường đã đông kín áo xanh đội viên. Cô Thắm, Tổng phụ trách Đội, phát cho mỗi lớp mấy cuộn bao tải, găng tay vải và những chiếc kẹp gắp rác làm bằng tre do bác bảo vệ tự chẻ. Cô dặn đúng ba điều: không xuống nước, không nhặt kim tiêm hay mảnh chai bằng tay, và rác phải chia làm hai loại, nhựa riêng, còn lại riêng.
Từ xa, bãi biển trông vẫn đẹp như mọi khi: cát vàng, sóng bạc đầu, mấy chiếc thuyền thúng úp ở mép đê. Chỉ khi cúi xuống tôi mới thấy những thứ nằm lẫn trong cát. Một chiếc dép tổ ong lẻ màu hồng. Vỏ hộp sữa. Túi ni lông quấn vào gốc phi lao như một lớp vỏ thứ hai. Đăng, đứa bạn ngồi cạnh tôi trong lớp, gắp lên một chai dầu gội đã bạc trắng, nhãn in chữ nước ngoài, rồi lắc đầu:
– Cái này chắc trôi qua mấy nước mới dạt vào đây.
Chúng tôi cười, nhưng rồi im dần. Đến bảy giờ, nắng lên gắt, bao tải nào cũng căng phồng mà bãi cát vẫn chưa sạch. Nắp chai là thứ nhiều nhất, nhỏ, nhẹ, vùi nửa trong cát nên rất khó gắp. Tôi quyết định ngồi xổm nhặt bằng tay đeo găng, nhặt đến mỏi lưng thì đếm thử: một trăm mười bốn chiếc, chỉ trong một khoảng chưa đầy hai sải tay.
Gần tám giờ, một bà cụ đi chợ sớm dừng lại xem. Bà bảo hồi bà còn con gái, bãi này sáng nào cũng chỉ có vỏ ốc với rong biển. Bà không trách ai, chỉ nói thế rồi đi, nhưng câu nói ấy làm cả nhóm tôi lặng đi một lúc.
Kết thúc buổi sáng, Liên đội gom được ba mươi hai bao rác, chất lên xe công nhân môi trường của xã. Bãi biển lộ ra một màu cát sạch hơn hẳn, dù tôi biết chỉ vài trận gió chướng là rác lại dạt vào. Lúc về, tôi xin cô Thắm giữ lại một túi nắp chai. Lọ thủy tinh trên bậu cửa là để nhắc tôi rằng mỗi chai nước tôi mua ở cổng trường đều có một chiếc nắp, và chiếc nắp ấy có thể nằm trên cát lâu hơn cả đời tôi.
Mẫu 2: Ngày hội đổi pin cũ lấy cây xanh
– Pin hết thì đừng vứt vào sọt rác, cháu ạ. Nó độc.
Ông nội tôi nói câu đó từ ngày tôi còn học lớp Ba. Từ đấy, mỗi khi chiếc điều khiển ti vi, chiếc đồng hồ treo tường hay cái đèn pin hết pin, ông lại tháo ra, bỏ vào một hộp bánh quy bằng sắt đặt trên nóc tủ. Tôi chưa bao giờ hỏi ông định làm gì với cái hộp ấy, cho đến sáng Chủ nhật tháng Mười năm ngoái.
Hôm ấy, Đoàn Thanh niên phường tổ chức ngày hội đổi rác thải lấy cây xanh ở sân nhà văn hóa. Thông báo dán ở bảng tin khu phố ghi rõ: cứ một số lượng pin cũ, vỏ chai nhựa hoặc giấy vụn nhất định thì đổi được một chậu cây nhỏ. Ông nội đưa cái hộp sắt cho tôi, nặng trĩu, rồi bảo tôi tự mang đi.
Sân nhà văn hóa sáng hôm ấy như một phiên chợ lạ. Ở một góc, các anh chị đoàn viên dựng ba cái bàn dài: bàn cân giấy, bàn đếm chai nhựa, bàn nhận pin. Phía sau là hàng trăm chậu cây xếp thành mấy dãy, nào sen đá, trầu bà, lưỡi hổ, cả những cây ớt con mới bén rễ. Người đến đổi đủ mọi lứa tuổi: một cô bế con nhỏ xách hai túi chai, một chú xe ôm buộc bó bìa các-tông sau yên, mấy bạn học sinh tiểu học khệ nệ khiêng thùng giấy báo.
Đến lượt tôi, chị Ánh ở bàn nhận pin mở nắp hộp và kêu lên khe khẽ. Chị đổ pin ra khay nhựa, đếm từng viên: pin tiểu, pin đũa, pin cúc áo của đồng hồ đeo tay. Tất cả hai trăm linh bảy viên, tích góp trong gần năm năm. Chị bảo đây là hộp pin nhiều nhất từ sáng, rồi cho tôi chọn hai chậu cây. Tôi lấy một cây lưỡi hổ cho ông, một cây ớt cho bà.
Trước khi về, tôi đứng xem các anh chị đóng thùng pin, dán nhãn để gửi cho đơn vị thu gom xử lí riêng. Tôi chợt hiểu thói quen kì quặc của ông: ông không biết bao giờ mới có người đến nhận, nhưng ông vẫn giữ, vì ông không muốn những viên pin ấy nằm dưới bãi rác cạnh cánh đồng nơi ông từng cấy lúa.
Chậu lưỡi hổ bây giờ đặt ở bậu cửa sổ phòng khách. Còn cái hộp bánh quy bằng sắt đã trở lại nóc tủ, rỗng không. Tuần trước, tôi bỏ vào đó viên pin đầu tiên của đợt mới, viên pin của chiếc chuột máy tính.
Mẫu 3: Một giờ tắt đèn ở chung cư
Khu chung cư tôi ở có mười hai tầng, mỗi tầng mười căn hộ. Tối thứ Bảy cuối tháng Ba năm nay, lần đầu tiên tôi thấy tòa nhà của mình tối gần như hoàn toàn, chỉ còn đèn hành lang và đèn thang thoát hiểm. Đó là kết quả của một tuần chúng tôi, nhóm thiếu nhi của tòa nhà, đi gõ cửa từng nhà để vận động hưởng ứng Giờ Trái Đất.
Giờ Trái Đất là chiến dịch do Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) khởi xướng, kêu gọi mọi người tắt đèn và các thiết bị điện không cần thiết trong một giờ, từ 20 giờ 30 đến 21 giờ 30 tối thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba. Chị Kim Chi, bí thư chi đoàn tổ dân phố, gom bảy đứa chúng tôi lại từ thứ Hai, phát cho mỗi đứa một xấp tờ rơi tự in và một tờ giấy kẻ bảng để ghi lại nhà nào đồng ý.
Việc gõ cửa khó hơn tôi tưởng. Nhà thứ nhất không ai mở. Nhà thứ hai, một chú vừa đi làm về, nghe tôi nói được nửa câu đã bảo “chú biết rồi” và đóng cửa. Tôi đứng trước cửa nhà thứ ba gần một phút mới dám bấm chuông. Đến tối thứ Tư, Hưng, đứa nhỏ nhất nhóm, nghĩ ra cách mới: thay vì nói chuyện tiết kiệm điện, nó mời mọi người xuống sân lúc tám giờ rưỡi để cùng ngắm sao và nghe kể chuyện. Câu mời ấy hiệu quả lạ lùng. Bảng ghi của chúng tôi kín dần.
Tối thứ Bảy, đúng tám giờ rưỡi, chị Kim Chi đếm ngược qua loa cầm tay. Từng ô cửa sổ phụt tắt, nhanh có, chậm có, như ai đó đang lần lượt khép những cuốn sách đang mở. Dưới sân, khoảng hơn bốn mươi người đã ngồi sẵn trên chiếu: ông bà, bố mẹ, trẻ con. Bác Khương ở tầng chín, từng làm thủy thủ, chỉ cho chúng tôi chòm sao Thợ Săn đang nghiêng dần về phía tây, nhận ra nhờ ba ngôi sao nằm thẳng hàng ở giữa. Có đứa đòi bật đèn pin điện thoại, bị mẹ nó giữ tay lại.
Một giờ trôi qua rất nhanh. Khi đèn bật sáng trở lại, ai cũng nheo mắt, rồi bật cười. Theo bảng ghi, có tám mươi chín trên một trăm hai mươi hộ đã đồng ý tham gia. Tôi biết một giờ tắt đèn không làm Trái Đất mát hơn ngay được. Nhưng tối hôm ấy, lần đầu tiên tôi biết tên bác Khương, biết cô ở tầng năm dạy đàn, biết khu nhà mình có nhiều người tốt bụng đến thế. Hóa ra khi đèn tắt, người ta lại nhìn thấy nhau rõ hơn.
Mẫu 4: Con cá chép trên bức tường cuối ngõ
Ngõ nhà tôi dài chừng trăm mét, cuối ngõ có một khoảng tường trống cạnh cột điện. Không biết từ bao giờ, chỗ ấy thành bãi rác: túi ni lông, xốp đựng cơm, cả một chiếc nệm cũ. Tổ dân phố đã cắm biển cấm đổ rác, cắm đến lần thứ ba thì tấm biển cũng bị vứt chung vào đống rác.
Đầu hè, bác tổ trưởng họp các gia đình và đưa ra một ý lạ: dọn sạch chỗ ấy rồi để bọn trẻ trong ngõ vẽ kín bức tường. Bố tôi lắc đầu bảo vẽ thì vẽ, rác vẫn hoàn rác. Nhưng sáng Chủ nhật, chính bố là người đầu tiên mang xẻng ra.
Người lớn dọn rác, quét vôi trắng mất cả buổi sáng. Buổi chiều là việc của chúng tôi. Thanh Mai, chị lớn nhất ngõ, học lớp mười một, phác bằng phấn một dòng sông chạy suốt bức tường. Mỗi đứa nhận một khoảng để vẽ thứ mình thích sống dưới sông. Tôi chọn con cá chép. Vẽ thì dễ, tô mới khó: sơn tường đặc, cọ to, con cá của tôi càng tô càng béo, cuối cùng trông như một quả bóng có vây. Thanh Mai đứng nhìn một lúc rồi phán một câu khiến cả ngõ cười: cá chép sắp hóa rồng thì phải béo thế mới đủ sức vượt vũ môn. Tôi được thể, vẽ thêm cho con cá hai cái râu dài, rồi một chuỗi bọt nước bay lên từ miệng nó.
Trong lúc chúng tôi vẽ, người lớn trong ngõ cũng không đi đâu. Bác hàng nước đầu ngõ mang ra một ấm chè vối với mấy cái bánh đa. Một chú đi làm về, dừng xe xem một lúc, rồi xắn tay áo cầm cọ tô giúp đám rong rêu dưới đáy sông. Đứa bé nhất ngõ không cầm được cọ, được giao giữ hộp màu, cứ chốc chốc lại hỏi bao giờ đến lượt nó.
Đến sáu giờ tối, bức tường đã có sông, có cá, có cây bèo, có cả chiếc thuyền giấy của đứa bé nhất ngõ. Tổ dân phố đặt thêm hai thùng rác có nắp ngay bên cạnh và ghi giờ xe rác đi qua.
Ba tuần sau, góc tường vẫn sạch. Không ai dặn ai, nhưng có lẽ không ai nỡ vứt túi rác vào mặt con cá chép béo của tôi. Mỗi lần đi học về qua đó, tôi lại nhìn con cá một chút, và nghĩ rằng đôi khi người ta không cần thêm một tấm biển cấm, chỉ cần một chỗ đẹp để giữ gìn.
Mẫu 5: Trồng cây ngập mặn ở bãi bồi đầu xuân
Bùn ngập đến đầu gối, mỗi bước chân rút lên lại nghe “ọc” một tiếng như bãi bồi đang cố giữ lấy chân mình. Đó là cảm giác đầu tiên tôi nhớ về buổi trồng cây ngập mặn hồi tháng Hai, trong dịp Tết trồng cây đầu xuân của xã tôi, một xã ven biển.
Năm nào xã cũng tổ chức Tết trồng cây, nhưng thường chỉ là trồng phi lao dọc đường liên thôn. Năm nay Đoàn xã phối hợp với trường tôi và một nhóm cán bộ lâm nghiệp trồng mấy nghìn cây bần, cây đước con trên dải bãi bồi phía ngoài đê. Lớp tôi được chọn đi vì năm ngoái cả lớp làm dự án nhỏ về rừng ngập mặn trong giờ Khoa học tự nhiên. Tôi háo hức suốt mấy ngày, đến mức chuẩn bị từ tối hôm trước: ủng cao su, mũ rộng vành, chai nước, cả một đôi tất cũ để đi trong ủng.
Sáng hôm ấy, nước ròng từ sớm. Bãi bồi lộ ra một màu nâu xám, phẳng lì đến tận chân trời, chỉ lác đác những rặng đước già trồng từ trước. Anh Khiết, cán bộ lâm nghiệp, cầm một cây bần con giơ lên cho cả đoàn xem. Cây chỉ cao hơn gang tay, rễ bọc trong túi bầu đất. Anh hướng dẫn cách đặt cây: bóc túi bầu, cắm cây xuống hố đã đào sẵn, ấn bùn quanh gốc, buộc thân vào một cọc tre để sóng không đánh bật đi. Anh nói, nếu cây sống qua được mùa mưa bão đầu tiên thì gần như sẽ sống mãi.
Chúng tôi chia thành từng cặp. Tôi đi cùng Tường Vi, bạn lớp trưởng. Hai đứa trồng được mười cây đầu tiên rất chậm, cây nào cũng nghiêng. Đến cây thứ mười một thì quen tay: Tường Vi đỡ thân, tôi ấn bùn, buộc dây, rồi cùng lội sang hố tiếp theo. Mặt trời lên cao, gió biển thổi mặn chát, bùn bắn lên tận mặt mà không ai buồn lau. Thỉnh thoảng một con cáy đỏ chạy vụt qua, chui tọt vào lỗ, làm Tường Vi giật mình kêu thét.
Giữa buổi, một ông cụ nuôi tôm ở đầm bên cạnh ra đứng xem. Ông kể hồi trẻ, bãi này rừng đước dày đến mức đi thuyền phải luồn. Sau mấy chục năm phá rừng làm đầm, một trận bão lớn đã đánh vỡ cả đoạn đê, nước mặn tràn vào ruộng. Ông chỉ tay ra những rặng đước già:
– Có rặng cây kia đứng chắn, sóng vào tới đê chỉ còn bằng nửa. Các cháu trồng hôm nay, mười năm nữa là che cho đê, che cho làng.
Đến khi nước bắt đầu lên, cả đoàn trồng xong khu được giao. Nhìn lại phía sau, bãi bồi điểm những chấm xanh nhỏ xíu, thẳng hàng, mỗi chấm có một chiếc cọc tre đứng bên. Lớp tôi trồng được hơn ba trăm cây, kết quả được ghi vào sổ của Đoàn xã cùng tên lớp.
Trên đường về, cả lớp ngồi trên thùng chiếc xe công nông của Đoàn xã, chân tay đứa nào cũng một lớp bùn khô trắng như đi ủng. Tường Vi lôi điện thoại ra xem lại những tấm ảnh chụp lúc sáng, tấm nào cũng chỉ thấy hai cái đầu đội mũ rộng vành cúi gằm xuống bùn. Chúng tôi cười suốt quãng đường.
Về đến nhà, mẹ phải giặt quần áo cho tôi ba lần mới hết mùi bùn. Tôi không thấy mệt, chỉ thấy lạ vì chưa bao giờ làm một việc mà kết quả phải chờ đến mười năm. Có lẽ đó là điều tôi học được nhiều nhất: có những việc tốt không cho ta thấy thành quả ngay, ta vẫn làm, vì người được hưởng là cả một làng, và cả những người chưa sinh ra. Hè năm nay, tôi sẽ xin anh Khiết cho ra thăm lại những cây bần của tôi và Tường Vi, xem chúng đã cao hơn cái cọc tre được chừng nào.
Bài văn kể hoạt động thiện nguyện, nhân đạo
Mẫu 6: Một buổi sáng làm tình nguyện viên ngày hội hiến máu
Trong ví của bố tôi có một xấp giấy chứng nhận hiến máu, cái mới, cái đã sờn mép. Hồi nhỏ, tôi tưởng đó là vé xem phim. Năm nay học lớp tám, tôi chưa đủ tuổi để hiến máu, vì theo quy định, người hiến máu phải từ đủ mười tám đến sáu mươi tuổi. Nhưng tôi đã có mặt ở ngày hội hiến máu của phường, với tư cách một tình nguyện viên hậu cần, và từ hôm ấy tôi hiểu xấp giấy trong ví bố nặng đến thế nào.
Ngày hội do Hội Chữ thập đỏ phường phối hợp với trạm y tế tổ chức vào một sáng Chủ nhật tháng Sáu, tại hội trường nhà văn hóa. Cô Hằng, chủ tịch Hội, cần thêm người giúp việc vặt nên nhờ trường gửi vài học sinh. Tôi giơ tay đầu tiên, phần vì tò mò, phần vì muốn biết bố làm gì mỗi lần đi hiến máu về là ăn liền hai bát cơm.
Sáu giờ rưỡi, hội trường đã được chia thành mấy khu. Khu đăng kí có bàn ghế học sinh xếp dài. Khu khám sàng lọc có các bác sĩ đo huyết áp, cân nặng, lấy một giọt máu ở đầu ngón tay để thử. Khu lấy máu có những chiếc giường gấp trải ga trắng, bên cạnh là giá treo túi đựng máu. Cuối cùng là khu nghỉ, nơi tôi được phân công: rót sữa, phát bánh, và mời mỗi người ngồi ít nhất mười lăm phút trước khi về.
Bảy giờ, người đến mỗi lúc một đông. Có những chú công nhân mặc nguyên đồng phục, một nhóm sinh viên đi xe đạp từ kí túc xá cách đó mấy cây số, một bà bán xôi đầu phố đã ngoài năm mươi. Tôi để ý một anh thanh niên ngồi chờ ở khu đăng kí, chân rung liên tục. Khi được gọi tên, anh đứng dậy rồi lại ngồi xuống. Bác sĩ hỏi, anh thú thật mình sợ kim từ bé, đây là lần đầu tiên đi hiến máu vì đứa cháu gái đang điều trị ở bệnh viện nhi phải truyền máu thường xuyên. Bác sĩ cười, bảo anh cứ nhìn lên trần nhà và đếm bóng đèn.
Mười lăm phút sau, anh ra khu nghỉ, mặt hơi tái, tay giữ miếng bông trên khuỷu tay. Tôi đưa anh hộp sữa và mấy cái bánh. Anh cầm, nhìn túi bánh một lúc rồi bảo:
– Tưởng gì, hóa ra cũng không đau lắm.
Anh cười, nụ cười của người vừa làm được một việc mình sợ cả đời.
Gần trưa, tôi đã rót không biết bao nhiêu cốc sữa, mỏi nhừ cả tay. Một người nhân viên trạm y tế đi qua, bảo tôi rằng có những người không hiến được vì huyết áp không đạt hoặc vừa ốm dậy, họ vẫn ngồi lại giúp xếp ghế. Tôi nhìn quanh, thấy đúng là có vài cô chú như thế, không ai bảo mà vẫn ở lại đến cuối.
Kết thúc buổi sáng, cô Hằng thông báo phường thu được gần một trăm đơn vị máu, sẽ chuyển ngay về ngân hàng máu của bệnh viện. Mọi người vỗ tay. Tôi không vỗ tay được vì đang bê một chồng cốc giấy, chỉ đứng cười.
Tối hôm đó, tôi kể chuyện anh thanh niên sợ kim cho bố nghe. Bố bảo lần đầu đi hiến, bố cũng run như thế. Tôi hỏi bố đã hiến bao nhiêu lần, bố đếm xấp giấy trong ví: mười bốn. Tôi lặng người. Mười bốn lần, có thể là mười bốn người tôi không bao giờ biết mặt, ở đâu đó đang sống tiếp nhờ những giọt máu ấy. Tôi đã ghi vào sổ tay ngày sinh nhật mười tám tuổi của mình, kèm một dòng nhỏ: đi cùng bố.
Mẫu 7: Ba mươi bảy chiếc khăn len gửi lên điểm trường vùng cao
Chiếc khăn len đầu tiên trong đời tôi đan có một sọc đỏ chạy lệch, đến giữa khăn thì phình ra như con rắn vừa nuốt quả trứng. Tôi là con trai, và tôi đã đan chiếc khăn ấy trong một hoạt động mà đầu tiên tôi định trốn.
Cuối tháng Mười, Chi đoàn giáo viên trường tôi phát động chương trình “Khăn ấm lên bản”: mỗi lớp đan khăn len gửi cho học sinh một điểm trường vùng cao phía Bắc, nơi mùa đông nhiệt độ có khi xuống rất thấp. Cô Duyên, cô dạy Công nghệ, mở lớp đan len miễn phí vào giờ ra chơi dài và chiều thứ Năm. Lớp tôi nhận chỉ tiêu ba mươi bảy chiếc, đúng bằng sĩ số. Mỗi người một chiếc, không phân biệt trai gái.
Bọn con trai chúng tôi phản đối ầm ĩ. Nghĩa bảo đan len là việc của bà ngoại. Tôi định xin đóng tiền mua khăn thay. Cô Duyên không ép, cô chỉ cho cả lớp xem một tấm ảnh thầy giáo ở điểm trường gửi về: mười mấy em bé ngồi quanh đống lửa giữa lớp học vách gỗ, má đỏ ửng, có em quấn tạm chiếc áo người lớn quanh cổ. Cô bảo khăn mua thì ấm, nhưng khăn tự đan thì các em biết có người đã nghĩ đến mình suốt mấy tuần. Không ai cãi nữa.
Những buổi đầu là thảm họa. Kim đan tuột khỏi tay, cuộn len lăn xuống gầm bàn, mũi đan chỗ chặt chỗ lỏng. Tôi tháo ra đan lại đến lần thứ tư thì Xuân, bạn ngồi bàn trên, quay xuống cầm tay tôi chỉ từng mũi: luồn kim, vắt len, kéo qua, tuột ra. Nhịp ấy lặp đi lặp lại cho đến khi tay tôi tự làm mà đầu không cần nghĩ. Tôi mang len về nhà đan cả buổi tối, đan cả lúc chờ mẹ nấu cơm. Bà ngoại thấy, cười đến chảy nước mắt, rồi lấy kính ra ngồi đan cùng.
Khó nhất là đổi màu len để tạo sọc. Sọc đỏ của tôi lệch vì tôi đếm nhầm mũi, đến khi phát hiện thì đã quá dài để tháo. Tôi định giấu chiếc khăn đi, nhưng cô Duyên bảo cứ để nguyên, sọc lệch thì chiếc khăn mới có “dấu vân tay” của người đan.
Ba tuần sau, ba mươi bảy chiếc khăn hoàn thành. Có chiếc đẹp như mua ở cửa hàng, của mấy bạn nữ khéo tay. Có chiếc dài quá khổ, chiếc ngắn cũn, chiếc hai đầu rộng hẹp khác nhau. Mỗi chiếc được kèm một tấm thiệp nhỏ, ghi tên người đan và một lời chúc. Tôi viết: Khăn này hơi lệch nhưng ấm thật đấy. Cả trường gom được hơn bốn trăm chiếc, cùng sách vở và áo ấm, gửi theo chuyến xe của Đoàn trường lên điểm trường vào đầu tháng Mười hai.
Gần Tết, cô Duyên chiếu lên bảng những tấm ảnh thầy giáo trên bản gửi về. Các em nhỏ đứng thành hàng trước sân trường, khăn đủ màu quàng trên cổ. Cả lớp nhao nhao tìm khăn của mình. Tôi tìm ra nó ngay: một em bé đứng hàng đầu, chiếc khăn quấn hai vòng, sọc đỏ lệch hẳn sang một bên. Em cười, thiếu một chiếc răng cửa.
Bọn con trai không ai nói gì, nhưng tôi thấy Nghĩa quay đi chỗ khác, dụi mắt. Tôi thì cứ nhìn mãi tấm ảnh. Chiếc khăn vụng về của tôi đã ở một nơi tôi chưa từng đến, trên cổ một em bé tôi không biết tên, và có lẽ đang giữ ấm cho em đúng vào lúc tôi ngồi trong lớp học có điều hòa. Năm nay tôi đã biết đan, nên tôi định đan thêm một chiếc nữa. Lần này, sọc đỏ sẽ thẳng hơn.
Mẫu 8: Chiều thứ Bảy đọc sách ở viện dưỡng lão
Tôi vào câu lạc bộ đọc sách của trường vì nghĩ ở đó được đọc truyện miễn phí. Không ngờ hoạt động đáng nhớ nhất của câu lạc bộ năm ấy lại là đọc sách cho người khác nghe, những người hơn tôi sáu, bảy mươi tuổi.
Từ tháng Chín, câu lạc bộ phối hợp với một viện dưỡng lão gần trường mở chương trình Chiều thứ Bảy đọc sách. Hai tuần một lần, sáu thành viên đến viện, chia nhau ngồi với các cụ, đọc to những gì các cụ muốn nghe: báo, truyện ngắn, có khi chỉ là thư con cháu gửi về. Cô phụ trách dặn chúng tôi đọc chậm, rõ, ngồi ngang tầm mắt các cụ, và quan trọng nhất là dừng lại khi cụ muốn nói.
Lần đầu tiên, tôi được xếp ngồi với cụ Lạc, một cụ ông chín mươi tuổi, nguyên là giáo viên dạy Văn. Tôi chọn đọc một truyện ngắn trong cuốn sách mang theo. Mới được ba câu, cụ giơ tay:
– Cháu đọc “nắng chang chang” mà như đọc “nắng tràn tràn”. Đọc lại nào.
Tôi đỏ mặt, đọc lại. Cụ gật gù. Được thêm một đoạn, cụ lại sửa chỗ tôi ngắt câu sai. Cả buổi chiều ấy, tôi đọc chưa hết một truyện, còn cụ Lạc thì như được trở lại bục giảng. Lúc tôi về, cụ bảo hôm nay vui nhất tuần.
Những lần sau, tôi chuẩn bị kĩ hơn, đọc trước ở nhà, tra những từ không chắc. Cụ Lạc vẫn sửa, nhưng ít dần. Có hôm cụ không nghe truyện mà kể cho tôi chuyện ngày cụ dạy học ở một trường làng, chuyện học trò bơi qua sông đến lớp, quần áo gói trên đầu. Tôi ngồi nghe, quên cả cuốn sách trên đùi. Bên cạnh, Bích đang đọc thư cho một cụ bà mắt kém; đến đoạn đứa cháu ở nước ngoài viết rằng Tết này sẽ về, cụ bà bảo Bích đọc lại đoạn ấy ba lần.
Cuối học kì, câu lạc bộ đã đến viện tám lần. Chúng tôi tặng viện mấy chục cuốn sách in chữ to do phụ huynh góp. Tôi không nhớ mình đã đọc được bao nhiêu trang, nhưng nhớ rõ giọng cụ Lạc mỗi lần bảo đọc lại. Trước kia tôi nghĩ giúp đỡ người già là mang quà đến. Bây giờ tôi biết, có khi điều các cụ cần chỉ là một người chịu ngồi yên và lắng nghe trọn một buổi chiều.
Mẫu 9: Nồi cháo lúc bốn giờ sáng (bài ngắn)
Ba giờ bốn mươi lăm phút, chuông báo thức reo. Mẹ đã dậy trước tôi từ lâu, bếp than tổ ong trong sân nhà bác Cẩn đầu xóm đã đỏ lửa. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi theo mẹ đi nấu cháo tình thương cho bệnh nhân nghèo ở bệnh viện tỉnh, một việc nhóm thiện nguyện của xóm tôi làm vào sáng thứ Năm hằng tuần đã mấy năm nay.
Nhóm có chín người, phần lớn là các cô các bác đã nghỉ hưu, góp tiền gạo mỗi tháng một ít, người nào có rau, có hành thì mang thêm. Nồi cháo to đến mức tôi có thể ngồi lọt vào trong. Gạo được vo từ tối, xương lợn ninh từ nửa đêm. Việc của tôi là nhặt hành, rửa thìa, xếp hộp nhựa. Các cô các bác vừa làm vừa chuyện trò, cười khúc khích, như chẳng ai thấy buồn ngủ. Năm giờ, cháo chín, mùi thơm bay khắp xóm. Các chú chở hai thùng cháo bằng xe máy, mẹ con tôi đi theo sau.
Ở cổng khu điều trị, người nhà bệnh nhân đã xếp hàng. Có cô bế đứa con nhỏ, có ông cụ chống nạng, có chú thanh niên cầm hai cái cặp lồng, một cho mình, một cho người cha đang nằm viện. Tôi đứng phát thìa và bánh mì. Mẹ dặn tôi đưa bằng hai tay và đừng hỏi người ta ốm bệnh gì. Một bà cụ nhận hộp cháo rồi cứ nắm lấy tay tôi, hỏi tôi học lớp mấy, sao không ở nhà mà ngủ. Bà kể bà đưa ông lên viện đã hai tuần, sáng nào cũng chờ ở đây, vì một bát cháo ngoài quán đủ để bà mua thuốc bổ cho ông một ngày. Tôi không biết nói gì, chỉ đưa thêm cho bà một ổ bánh mì.
Chưa đến sáu giờ, hai thùng cháo đã hết. Trên đường về, trời mới hửng sáng. Tôi ngồi sau xe mẹ, mắt cay vì buồn ngủ, nhưng lòng thì tỉnh như sáo. Tôi đã từng nghĩ làm từ thiện là việc của người giàu. Sáng hôm ấy tôi hiểu, đôi khi nó chỉ cần một cái chuông báo thức và một người chịu dậy sớm.
Mẫu 10: Gói bánh chưng tặng những nhà khó khăn
Chiếc bánh chưng đầu tiên tôi gói bị bác Lợi cầm lên, xoay một vòng rồi phán:
– Bánh này đem luộc thì thành cháo đậu.
Cả sân nhà văn hóa thôn cười ồ. Tôi cũng cười, dù hơi ngượng, rồi ngồi xuống gói lại từ đầu.
Đó là buổi chiều hai mươi lăm tháng Chạp năm ngoái, khi chi hội Chữ thập đỏ thôn tôi tổ chức gói bánh chưng tặng các hộ khó khăn ăn Tết. Gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn, lá dong do bà con trong thôn góp, mỗi nhà một ít. Người lớn lo phần sơ chế, còn đội thiếu nhi chúng tôi được giao rửa lá, lau lá và học gói bánh.
Sân nhà văn hóa chiều ấy rộn ràng như ngày hội. Những tàu lá dong xếp thành từng chồng xanh mướt, ướt nước. Mấy chiếc nong to đựng gạo nếp trắng ngần, đỗ xanh vàng ươm. Bác Lợi, người gói bánh khéo nhất thôn, ngồi giữa, trước mặt là chiếc khuôn gỗ vuông vức đã lên nước bóng. Bác chỉ cho chúng tôi từng bước: xếp lá sao cho mặt xanh quay ra ngoài, rải một lớp gạo, một lớp đỗ, đặt miếng thịt vào giữa, lại đỗ, lại gạo, rồi gấp lá, buộc lạt thật chặt. Bác bảo phải buộc chặt tay thì bánh luộc xong mới rền, cắt ra không bị nhão.
Chiếc bánh thứ hai của tôi khá hơn, chiếc thứ ba thì bác Lợi gật đầu. Vinh, thằng em họ tôi, chưa gói được chiếc nào ra hồn, nhưng buộc lạt rất nhanh nên được giao làm “thợ buộc” cho cả nhóm. Đến chập tối, chúng tôi gói được hơn hai trăm chiếc, xếp vào ba nồi lớn đặt trên bếp củi kê bằng gạch ở góc sân.
Đêm hôm ấy, bố cho tôi ở lại canh nồi bánh cùng các bác đến mười giờ. Lửa củi bập bùng, nước trong nồi sôi lục bục. Các bác kể chuyện ngày xưa thôn nghèo, Tết có nhà không đủ gạo gói nổi một chiếc bánh. Tôi ngồi nghe, mặt nóng ran vì lửa, lâu lâu lại được giao nhiệm vụ tiếp nước sôi vào nồi.
Sáng hai mươi sáu, bánh được vớt ra, rửa sạch, ép cho ráo nước. Mỗi hộ khó khăn được tặng mười chiếc, kèm một gói chè, một hộp mứt. Tôi theo cô Nhàn mang bánh đến nhà ông Tình, người già nhất thôn, sống một mình từ khi con trai đi làm ăn xa không về. Ông cầm chiếc bánh, đưa lên mũi ngửi, rồi bảo mấy năm rồi ông không có bánh chưng tự gói. Ông hỏi chiếc nào cháu gói. Tôi chỉ đại một chiếc vuông nhất.
Tết năm ấy, nhà tôi vẫn mua bánh chưng ở chợ như mọi năm. Nhưng tôi biết ở đâu đó trong thôn có mấy chiếc bánh méo mó của tôi đang nằm trên bàn thờ những nhà neo đơn. Nghĩ đến đó, tôi thấy Tết của mình đầy đặn hơn hẳn.
Bài văn kể hoạt động của Đội và nhà trường
Mẫu 11: Phiên cân giấy Kế hoạch nhỏ của lớp 8B
Năm nào Liên đội trường tôi cũng tổ chức thu gom giấy vụn trong phong trào Kế hoạch nhỏ. Nhưng phiên cân giấy học kì I năm nay của lớp 8B tôi đặc biệt hơn, vì cả lớp biết trước số tiền thu được sẽ dùng làm gì: mua một chiếc xe đạp cho Vũ, bạn cùng lớp, nhà ở xa trường gần năm cây số và chiếc xe cũ vừa bị mất.
Suốt hai tuần, ai cũng thành “đồng nát”. Tôi lục tung gầm giường, gom vở cũ từ lớp sáu, báo cũ của ông, cả mấy hộp giày các-tông mẹ định vứt. Lực, lớp phó lao động, đi xin giấy vụn ở cả cửa hàng photocopy đầu ngõ. Có bạn bê đến cả một thùng sách giáo khoa cũ, bị cô chủ nhiệm giữ lại để tặng thư viện chứ không bán. Tối nào nhóm chat của lớp cũng rộn lên những tấm ảnh chụp chồng giấy ở nhà từng đứa, kèm lời khoe đã được bao nhiêu cân, dù chưa ai có cân.
Sáng thứ Sáu, giấy chất thành một ngọn đồi nhỏ ở góc sân. Bác thu mua đến cân từng bó bằng chiếc cân đĩa to. Cả lớp đứng vây quanh, đọc to từng con số như xem bốc thăm. Đến bó cuối cùng, Lực lật ra thấy một cuốn vở có tên tôi, trong đó là bài văn được điểm chín hồi lớp bảy. Tôi xin giữ lại, cả lớp đòi tôi phải “chuộc” bằng cách đọc to một đoạn. Tôi đọc, mặt đỏ như gấc. Đọc xong, cả lớp vỗ tay, còn Lực thì tuyên bố cuốn vở ấy “nặng” hơn mọi bó giấy vì nó được đổi bằng một bài văn.
Tổng cộng lớp tôi gom được hai trăm mười bốn ki-lô-gam, cộng thêm tiền một số phụ huynh góp, đủ mua một chiếc xe đạp mới. Thứ Hai tuần sau, Vũ đạp xe đến trường. Nó không nói gì nhiều, chỉ dựng xe cẩn thận dưới gốc bàng rồi lấy khăn lau yên. Đến giờ ra chơi, nó đi một vòng quanh lớp, đến từng bàn, nói cảm ơn bằng cái giọng lí nhí, đứa nào trêu nó cũng chỉ cười. Tôi nghĩ, có lẽ mấy cuốn vở cũ của tôi đang nằm đâu đó trong chiếc xe ấy, ở cái chuông, cái đèn, hay đôi bàn đạp.
Mẫu 12: Một tuần đứng gác cổng trường an toàn giao thông
Bảy giờ kém mười lăm sáng thứ Hai, tôi đứng ở cổng trường, khoác chiếc áo phản quang màu cam rộng thùng thình, tay cầm tấm biển nhựa ghi dòng chữ Xin dừng xe đúng vạch. Tuần ấy, lớp tôi là lớp trực trong chương trình cổng trường an toàn giao thông do Liên đội phối hợp với công an phường tổ chức.
Cổng trường tôi nằm trên một con phố hẹp. Giờ đưa đón, xe máy của phụ huynh dừng tràn ra lòng đường, có hôm kín cả hai làn, ô tô và xe buýt chỉ còn cách nhích từng chút. Nhiệm vụ của lớp tôi là đứng thành hàng ở hai bên cổng, nhắc phụ huynh dừng xe sát vạch sơn vàng mới kẻ, cho con xuống nhanh rồi đi ngay, và dắt các em lớp sáu qua đường khi có chú công an ra hiệu.
Ngày đầu tiên thất bại hoàn toàn. Tiếng tôi nhỏ, tấm biển thì không ai nhìn. Một chú phụ huynh còn bóp còi, bảo tôi tránh ra kẻo chú muộn giờ làm. Tôi đứng sững, cổ họng nghẹn lại. Chú công an đứng gần đó không nói gì, chỉ bước ra, giơ tay ra hiệu, rồi quay lại bảo tôi:
– Cháu cứ đứng thẳng, nhìn vào người ta mà nói. Người ta không giận cháu đâu, người ta đang vội thôi.
Từ hôm thứ Ba, chúng tôi đổi cách. Thay vì giơ biển, tôi chào to “cháu chào chú ạ”, rồi mới chỉ vạch. Lạ thay, hầu hết phụ huynh đều cười và tấp vào. Đến thứ Năm, chính chú phụ huynh hôm trước dừng xe đúng vạch, gật đầu với tôi một cái. Tôi mừng đến mức suýt làm rơi tấm biển.
Cuối tuần, cô Tổng phụ trách cho biết thời gian ùn tắc ở cổng trường giảm thấy rõ. Tôi không biết điều ấy kéo dài được bao lâu khi lớp khác lên trực. Nhưng tôi biết một điều: muốn người khác thay đổi, đôi khi không cần nói to hơn, chỉ cần nói một cách lễ phép và kiên nhẫn hơn.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Mở bài bằng một câu tục ngữ, câu thơ hay lời bàn chung về lòng nhân ái rồi mới vào chuyện, cả đoạn không có chi tiết riêng. | Mở bằng một đồ vật, một âm thanh, một câu nói gắn với hoạt động (lọ nắp chai, chiếc khăn len, tiếng chuông báo thức). Nếu dùng tục ngữ thì chỉ một câu, đặt ở nơi nó thật sự cần. |
| Kể như biên bản: lớp trưởng phổ biến, về xin bố mẹ, hôm sau mang đến nộp, kết thúc. | Chọn một hai khoảnh khắc để kể chậm: một người cụ thể, một lời thoại, một khó khăn bất ngờ. Phần chuẩn bị chỉ nên vài câu. |
| Quên thông tin cơ bản: không rõ ai tổ chức, khi nào, ở đâu. | Đưa đủ bốn ý ai, khi nào, ở đâu, để làm gì vào mở bài hoặc đoạn đầu thân bài, gọn trong hai ba câu. |
| Kết quả phóng đại (quyên góp “hàng tấn”, “hàng tỉ đồng”) hoặc số liệu không hợp lí với một lớp học. | Nêu kết quả vừa phải, cụ thể (ba mươi bảy chiếc khăn, hai trăm mười bốn ki-lô-gam giấy). Thông tin thật về chương trình, quy định phải đúng nguồn. |
| Biểu cảm chung chung: em rất vui, thật ý nghĩa, em tự hứa sẽ tham gia nhiều hơn nữa. | Gắn cảm xúc vào chi tiết (vì sao vui, vui lúc nào) và thử kết bằng một hình ảnh hoặc một việc làm tiếp theo cụ thể. |
| Đổi ngôi kể giữa chừng (đang “tôi” chuyển sang “em”), hoặc kể như người ngoài cuộc. | Chọn một cách xưng hô và giữ đến cuối; người kể phải là người tham gia hay chứng kiến tận mắt. |
Mẹo nhỏ: trước khi viết, ghi ra ba chi tiết chỉ hoạt động của em mới có (một tên người, một đồ vật, một câu nói). Nếu bài văn của em thay tên hoạt động vào vẫn đúng với mọi hoạt động khác, nghĩa là bài còn thiếu những chi tiết ấy. Đề Chân trời sáng tạo tập 2 đòi hỏi bài viết có đủ cả miêu tả lẫn biểu cảm, nên hãy kiểm tra mỗi đoạn thân bài có ít nhất một câu tả và một câu bộc lộ cảm xúc.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu em cần một bài ngắn cho giờ kiểm tra, hãy xem mẫu 4, mẫu 9 và mẫu 11: mỗi bài chỉ xoay quanh một khoảnh khắc. Nếu muốn học cách đưa thông tin thật vào bài một cách tự nhiên, đọc mẫu 3 (Giờ Trái Đất) và mẫu 6 (ngày hội hiến máu). Mẫu 5 và mẫu 7 là bài dài, phù hợp khi em muốn luyện kể chậm, tả kĩ và kết bằng hình ảnh. Đừng chép nguyên một mẫu: hãy lấy cách mở, cách chọn chi tiết, rồi kể bằng hoạt động mà chính em đã tham gia.
Xem thêm:
- Kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa (lớp 8) – nửa còn lại của đề Cánh diều
- Nghị luận về một vấn đề của đời sống lớp 8
- Thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên (lớp 8)
- Văn biểu cảm về con người hoặc sự việc (lớp 7)
- Khoe của và Con rắn vuông – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
- Vắt cổ chày ra nước và May không đi giày (Văn 8)
- Soạn bài Tôi đi học – Ngữ văn 8 Cánh diều
- Lòng yêu nước của nhân dân ta – Văn 8 Chân trời sáng tạo (Bài 6)