Soạn bài Nắng mới (Lưu Trọng Lư) là văn bản đọc thứ nhất của Bài 2 – Thơ sáu chữ, bảy chữ, sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập một. Bài soạn dưới đây trả lời đầy đủ phần Chuẩn bị (trang 42), hai câu hỏi trong khi đọc (trang 43) và sáu câu hỏi Đọc hiểu (trang 44), bám sát văn bản trong sách giáo khoa.
Tìm hiểu chung về bài thơ Nắng mới
Trước khi trả lời câu hỏi, các em cần nắm vài thông tin cơ bản về tác phẩm.

- Tác giả: Lưu Trọng Lư (1911 – 1991), quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; một trong những người khởi xướng phong trào Thơ mới.
- Xuất xứ: bài thơ in trong tập Tiếng thu (1939).
- Thể thơ: bảy chữ, gồm 3 khổ, mỗi khổ 4 dòng.
- Nội dung khái quát: từ ánh “nắng mới” và tiếng gà trưa ở hiện tại, nhân vật “tôi” nhớ về người mẹ đã khuất với những hình ảnh bình dị, thân thương của thời thơ ấu.
Vì bài thơ còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, bài soạn chỉ trích những câu thơ cần thiết; các em đọc toàn văn trong sách giáo khoa (trang 42 – 43).
Chuẩn bị (trang 42)
Phần Chuẩn bị gợi ý những điều cần chú ý khi đọc một bài thơ bảy chữ và yêu cầu tìm hiểu về tác giả.
Câu 1: Bài thơ có được chia khổ không? Vần, nhịp thế nào? (trang 42)
Đề: Bài thơ có được chia khổ hay không? Vần trong bài thơ được gieo như thế nào? Các dòng thơ được ngắt nhịp ra sao?
Trả lời:
- Bài thơ chia thành 3 khổ, mỗi khổ 4 dòng bảy chữ.
- Vần chân, chủ yếu là vần bằng ở cuối các dòng 1, 2, 4 của mỗi khổ, có chỗ là vần gần (ví dụ song – nùng – không, thời – mười – phơi). Cách gieo vần này tạo sự liền mạch, ngân nga như lời kể nhớ.
- Nhịp thơ linh hoạt: phổ biến là 4/3, xen kẽ 3/4 và 2/5 (dòng thứ hai của khổ đầu tách riêng từ láy “Xao xác” ở đầu dòng). Nhịp chậm, êm, hợp với giọng hồi tưởng.
Câu 2: Bài thơ viết về ai? Mạch cảm xúc thế nào? (trang 42)
Đề: Bài thơ viết về ai, về điều gì? Người đang bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ là ai? Mạch cảm xúc của tác giả được thể hiện qua các phần của bài thơ như thế nào và cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?
Trả lời:
- Bài thơ viết về người mẹ đã mất và kỉ niệm tuổi thơ bên mẹ.
- Người bày tỏ cảm xúc là nhân vật trữ tình “tôi” – người con, cũng là hình bóng của chính nhà thơ.
- Mạch cảm xúc: khổ 1 – nắng mới, tiếng gà trưa ở hiện tại khơi dậy nỗi buồn và kỉ niệm; khổ 2 – trở về quá khứ, nhớ mẹ phơi áo ngày nắng mới; khổ 3 – hình dáng, nụ cười của mẹ vẫn in đậm trong tâm trí.
- Cảm hứng chủ đạo: nỗi nhớ thương, lòng biết ơn da diết của người con dành cho mẹ.
Câu 3: Từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật đặc sắc (trang 42)
Đề: Bài thơ có những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật đặc sắc nào và tác dụng của chúng là gì?
Trả lời:
- Từ láy: xao xác, não nùng, chập chờn, mường tượng – gợi âm thanh, trạng thái mơ hồ của kí ức và nỗi buồn lan tỏa.
- Hình ảnh: nắng mới, tiếng gà trưa, áo đỏ phơi trước giậu, nét cười đen nhánh sau tay áo – đều giản dị, quen thuộc với làng quê, dễ khơi sự đồng cảm.
- Biện pháp tu từ: nhân hóa (nắng “reo”), điệp cấu trúc “Mỗi lần nắng mới…” ở khổ 1 và khổ 2, đối lập hiện tại – quá khứ. Tác dụng: làm nổi bật niềm vui ngày còn mẹ, đối lập với nỗi buồn hiện tại, khiến nỗi nhớ thêm thấm thía.
Câu 4: Tìm hiểu thông tin về tác giả Lưu Trọng Lư (trang 42)
Đề: Đọc trước bài thơ Nắng mới; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Lưu Trọng Lư.
Trả lời:
- Lưu Trọng Lư sinh năm 1911, mất năm 1991, xuất thân trong một gia đình nhà nho ở Quảng Bình. Ông học ở Huế rồi ra Hà Nội viết văn, làm báo.
- Ông là một trong những người khởi xướng và cổ vũ nhiệt tình cho phong trào Thơ mới những năm 1930. Tập thơ tiêu biểu: Tiếng thu (1939); bài Tiếng thu với hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” rất nổi tiếng.
- Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia kháng chiến, hoạt động văn nghệ; sau này ông còn viết kịch và giữ nhiều cương vị trong ngành sân khấu.
- Thơ Lưu Trọng Lư giàu cảm xúc, mơ màng, giọng điệu nhẹ nhàng, thường viết về tình yêu, quê hương và kỉ niệm.
Xem thêm bài tác giả Lưu Trọng Lư: cuộc đời và sự nghiệp.
Câu 5: Chia sẻ cảm xúc của em khi đón nhận ánh nắng mới (trang 42)
Đề: Hãy tưởng tượng và chia sẻ cảm xúc, tâm trạng,… của em khi đón nhận ánh nắng mới.
Trả lời (gợi ý):
Sau những ngày cuối đông ẩm ướt, sáng nay em mở cửa sổ và thấy một vệt nắng vàng nhạt trải trên hiên nhà. Ánh nắng mới không gay gắt mà ấm, trong, khiến em thấy lòng nhẹ bẫng, muốn chạy ra sân. Em nghĩ ngay đến bà nội hay mang chăn màn ra phơi để “cho thơm mùi nắng”. Nắng mới đem lại cảm giác tươi vui, và cũng gợi những kỉ niệm thân thương với người thân trong gia đình.
Câu hỏi trong khi đọc (trang 43)
Trong khi đọc, các em chú ý các từ ngữ chỉ thời điểm, âm thanh, tâm trạng ở khổ 1 và trả lời hai câu hỏi bên lề.
Câu 1 (khi đọc): Ở các khổ 2, 3, “tôi” nhớ về ai? (trang 43)
Đề: Ở các khổ 2, 3: “Tôi” nhớ về ai? Chú ý các từ ngữ, hình ảnh thể hiện màu sắc, hành động trong các khổ thơ.
Trả lời:
- “Tôi” nhớ về người mẹ của mình, vào thời “tôi” khoảng mười tuổi, khi mẹ còn sống.
- Màu sắc: áo đỏ, nét cười đen nhánh (hàm răng nhuộm đen của phụ nữ xưa), ánh trưa hè.
- Hành động: mẹ “đưa” áo ra phơi trước giậu, mẹ “vào ra” trong nhà; người con thì “nhớ”, “mường tượng”.
Câu 2 (khi đọc): Thể thơ, vần và nhịp của bài thơ (trang 43)
Đề: Bài thơ được viết theo thể nào? Chỉ ra vần, nhịp của bài thơ.
Trả lời:
- Thể thơ bảy chữ.
- Vần chân, gieo ở cuối dòng 1, 2, 4 mỗi khổ (vần liền ở dòng 1 – 2, vần cách ở dòng 2 – 4): song – nùng – không; thời – mười – phơi; mờ – ra – thưa.
- Nhịp chủ yếu 4/3, có dòng 3/4 và 2/5, tạo giọng thơ chậm rãi, tha thiết.
Câu hỏi Đọc hiểu cuối bài (trang 44)
Sau khi đọc, các em trả lời 6 câu hỏi dưới đây.
Câu 1: Bài thơ Nắng mới là lời của ai, bộc lộ cảm xúc về ai? (trang 44)
Trả lời:
Bài thơ là lời của nhân vật trữ tình “tôi” – người con đã trưởng thành, bộc lộ cảm xúc nhớ thương về người mẹ đã khuất. Đại từ “tôi” xuất hiện trực tiếp (“Tôi nhớ mẹ tôi”), cho thấy tiếng nói rất riêng tư, gắn với trải nghiệm thật của nhà thơ.
Câu 2: Nhan đề bài thơ được đặt theo cách nào? (trang 44)
Đề: Nhan đề của bài thơ được đặt theo cách nào? A. Một hình ảnh, khơi nguồn cho cảm hứng của tác giả. B. Một sự việc gây ấn tượng sâu sắc cho tác giả. C. Một đề tài khái quát nội dung của cả bài thơ. D. Một âm thanh đặc biệt trong cảm nhận của tác giả.
Trả lời: Chọn A. “Nắng mới” là hình ảnh mở đầu bài thơ, trở lại ở khổ 2 và chính là chất xúc tác đánh thức kỉ niệm về mẹ.
Câu 3: Tâm trạng của tác giả và tác dụng của từ láy (trang 44)
Đề: Bài thơ thể hiện tâm trạng gì của tác giả? Chỉ ra các từ láy và tác dụng của chúng trong việc thể hiện tâm trạng ấy.
Trả lời:
- Tâm trạng: buồn thương, bâng khuâng khi nhớ lại quá khứ; nỗi nhớ mẹ da diết, xen lẫn niềm biết ơn và trân trọng.
- Các từ láy: xao xác, não nùng (âm thanh tiếng gà trưa buồn, vắng), chập chờn (kỉ niệm lúc ẩn lúc hiện), mường tượng (hình dáng mẹ hiện lên trong trí nhớ).
- Tác dụng: các từ láy vừa gợi âm thanh, hình ảnh, vừa diễn tả trạng thái mơ hồ, bồi hồi của tâm hồn khi kí ức trở về; nhờ chúng, nỗi buồn không nói thẳng mà thấm dần vào cảnh vật.
Câu 4: Ba hình ảnh khắc họa người mẹ (trang 44)
Đề: Hãy tìm ba hình ảnh trong bài thơ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau được tác giả sử dụng để khắc họa về người mẹ. Qua những hình ảnh ấy, người mẹ hiện lên như thế nào trong nỗi nhớ của tác giả?
Trả lời:
- Ba hình ảnh: nắng mới – áo đỏ – nét cười đen nhánh. Nắng mới là lúc mẹ mang áo ra phơi; chiếc áo đỏ phơi trước giậu gắn với dáng mẹ; và cuối cùng là nụ cười mẹ thấp thoáng sau tay áo. Ba hình ảnh nối nhau theo trình tự từ khung cảnh đến chi tiết, từ xa đến gần.
- Người mẹ hiện lên đảm đang, tần tảo, chăm lo cho gia đình qua những việc nhỏ; đồng thời duyên dáng, kín đáo, hiền hậu với nụ cười e ấp theo nét đẹp phụ nữ xưa. Mẹ chỉ hiện ra qua vài nét chấm phá nhưng in đậm, sống động trong kí ức người con.
Câu 5: Có thể hoán đổi hai động từ “hắt” và “reo” không? (trang 44)
Đề: Có thể hoán đổi vị trí của hai động từ (hắt, reo) miêu tả hình ảnh “nắng mới” trong khổ thơ thứ nhất (Mỗi lần nắng mới hắt bên song) và thứ hai (Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội) được không? Vì sao?
Trả lời:
Không thể hoán đổi, vì hai động từ gắn với hai thời điểm và hai tâm trạng khác nhau:
- “Hắt” ở khổ 1 thuộc hiện tại: ánh nắng chiếu xiên, yếu ớt vào song cửa của một căn nhà vắng, hòa với tiếng gà “não nùng” – gợi nỗi buồn cô quạnh của người con khi mẹ đã mất.
- “Reo” ở khổ 2 thuộc quá khứ: nắng được nhân hóa như đang reo vui ngoài đồng nội – đó là cái nắng của những ngày còn mẹ, tràn đầy sức sống và hạnh phúc.
Nếu đổi chỗ, sự tương phản giữa hiện tại buồn và quá khứ vui sẽ mất đi, mạch cảm xúc của bài thơ bị phá vỡ.
Câu 6: Viết đoạn văn về hình ảnh người mẹ của em (trang 44)
Đề: Trong kí ức tuổi thơ của nhân vật “tôi” ở bài Nắng mới, người mẹ hiện lên qua những hình ảnh được lựa chọn, để lại ấn tượng sâu đậm cho tác giả. Với em, hình ảnh, chi tiết nào về người mẹ của mình khiến em thấy yêu thương nhất? Hãy chia sẻ bằng một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng).
Trả lời (đoạn văn tham khảo):
Đọc bài thơ Nắng mới, em chợt nhớ đến hình ảnh mẹ mà em yêu nhất: dáng mẹ cúi bên bếp lửa mỗi sáng mùa đông. Khi cả nhà còn ngủ, mẹ đã dậy nhóm bếp, ánh lửa hồng hắt lên gương mặt mẹ với đôi mắt còn ngái ngủ. Mẹ khẽ khàng đặt nồi cháo, thỉnh thoảng lại xoa hai bàn tay vào nhau cho đỡ lạnh. Lúc em thức dậy, bát cháo nóng đã được đặt sẵn trên bàn, còn mẹ vội vàng chuẩn bị đi làm. Có lần em hỏi mẹ có mệt không, mẹ chỉ cười bảo: “Nhìn con ăn ngon là mẹ vui rồi.” Hình ảnh ấy bình dị như chiếc áo đỏ trước giậu của mẹ nhà thơ, nhưng với em, đó là biểu tượng của sự chăm chút lặng thầm. Em tự nhủ sẽ chăm ngoan hơn để mẹ bớt vất vả.
Kết luận
Qua bài soạn, các em hiểu cách Lưu Trọng Lư dùng thể thơ bảy chữ, những từ láy giàu sức gợi và ba hình ảnh nắng mới – áo đỏ – nét cười để khắc họa người mẹ trong nỗi nhớ. Bài thơ nhắc mỗi người trân trọng những khoảnh khắc bình dị bên mẹ khi còn có thể.
Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm Nắng mới (Lưu Trọng Lư)
- Soạn văn Nắng mới – Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo
- Những bài thơ hay của Lưu Trọng Lư
- Đường về quê mẹ – tác giả, tác phẩm (cùng Bài 2)