Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ, nhà quân sự và nhà kinh tế thời Nguyễn, người có công lớn với thể hát nói (ca trù) và là tác giả Bài ca ngất ngưởng nổi tiếng. Ông quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, làm quan gần ba mươi năm với nhiều lần thăng giáng hiếm có, và được nhân dân hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn thờ phụng vì công khẩn hoang. Bài viết của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp, phong cách và các bài thơ của ông được học ở trường phổ thông.
Tác giả Nguyễn Công Trứ là ai?
Nguyễn Công Trứ là một nhà nho tài tử đầu thế kỷ XIX: vừa làm tướng cầm quân, vừa làm quan cai trị, vừa mộ dân lấn biển lập làng, đồng thời là cây bút hát nói hàng đầu của văn học trung đại. Ông sáng tác phần lớn bằng chữ Nôm, xoay quanh chí làm trai, lẽ sống ngất ngưởng và cái nhìn tỉnh táo về thói đời.

| Tên | Nguyễn Công Trứ (阮公著) |
| Tự, hiệu | Tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn (Hi Văn) |
| Năm sinh – năm mất | 1778 – 1858 (Wikipedia ghi sinh ngày 19/12/1778, mất ngày 7/12/1858) |
| Quê quán | Làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh ra ở huyện Quỳnh Côi (Thái Bình cũ), nơi thân phụ làm quan |
| Thể loại | Hát nói (ca trù), thơ Nôm Đường luật, lục bát, phú Nôm |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bài ca ngất ngưởng, Kẻ sĩ, Chí làm trai (Chí khí anh hùng), Đi thi tự vịnh, Vịnh cây vông, Hàn nho phong vị phú |
| Chức vụ tiêu biểu | Dinh điền sứ, Tham tán quân vụ, Tổng đốc, Phủ doãn Thừa Thiên |
| Trong SGK hiện hành | Vịnh cây vông (Ngữ văn 8), Bài ca ngất ngưởng và Chí khí anh hùng (Ngữ văn 11) |
Thân phụ ông là Nguyễn Công Tấn, làm tri phủ thời Lê – Trịnh. Theo một số tài liệu, cậu bé Trứ sinh ra ở nơi cha làm quan, khoảng mười tuổi mới theo gia đình về quê cha ở Hà Tĩnh. Tuổi trẻ của ông trôi qua trong cảnh nghèo và những biến động cuối thời Tây Sơn.
Cuộc đời Nguyễn Công Trứ qua các mốc chính
Ít nhà thơ trung đại nào có cuộc đời nhiều sóng gió như Nguyễn Công Trứ. Các mốc dưới đây đối chiếu giữa Wikipedia tiếng Việt và bài viết của báo VnExpress nhân dịp 240 năm ngày sinh ông (2018).
- 1778: sinh ở huyện lỵ Quỳnh Côi, phủ Thái Bình; quê gốc làng Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
- 1819: sau nhiều lần lều chõng không đỗ, đến 41 tuổi mới đậu Giải nguyên kỳ thi Hương.
- 1820: bắt đầu làm quan với chức Hành tẩu ở Quốc sử quán; sau đó làm tri huyện, Tư nghiệp Quốc Tử Giám.
- 1827: tham gia dẹp cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định.
- 1828 – 1829: làm Dinh điền sứ, mộ dân khai hoang lấn biển; lập huyện Tiền Hải (tháng 10/1828) và huyện Kim Sơn (tháng 3/1829).
- 1833: tham gia dẹp cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân ở Tuyên Quang.
- 1841 – 1843: liên tiếp gặp nạn: bị giáng, bị kết án rồi được tha, có lúc bị cách hết chức tước, sung làm lính thú.
- 1847: giữ chức Phủ doãn phủ Thừa Thiên – chức quan cuối cùng.
- 1848: năm đầu triều Tự Đức, được về hưu; sống những năm cuối đời phóng khoáng ở quê nhà.
- 1858: khi quân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng, cụ già 80 tuổi vẫn dâng sớ xin đi đánh giặc; vua không cho vì tuổi cao. Cuối năm ấy ông qua đời ở quê nhà.

Gần ba mươi năm làm quan qua các đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ông từng lên tới Tổng đốc, rồi cũng từng bị hạ liền ba, bốn bậc. Chính những thăng trầm ấy làm nên cái nhìn vừa hăm hở, vừa ngạo nghễ trước danh lợi trong thơ ông. Câu chuyện ông cầm quân được kể lại trong bài Nguyễn Công Trứ và câu chuyện dẹp loạn Phan Bá Vành.
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Trứ
Văn chương bằng tiếng mẹ đẻ. Là nhà nho nhưng Nguyễn Công Trứ ít làm thơ chữ Hán; sáng tác của ông phần nhiều là thơ quốc âm, lưu truyền qua truyền miệng, chép tay, vì thế mỗi bài có thể có vài dị bản.
Người đưa hát nói lên đỉnh cao. Ông viết rất nhiều bài hát nói – thể thơ gắn với lối hát ả đào (ca trù) – và được xem là một trong những tác giả hát nói lớn nhất thời trung đại; sau ông, Cao Bá Quát cũng nổi tiếng ở thể loại này. Các bài tiêu biểu: Bài ca ngất ngưởng, Kẻ sĩ, Chí làm trai, Cầm kỳ thi tửu.
Thơ Nôm Đường luật và phú. Mảng này gồm những bài tự thuật chí hướng (Đi thi tự vịnh), than cảnh nghèo, châm biếm thói đời (Vịnh cây vông) và bài phú Nôm Hàn nho phong vị phú tả cảnh nghèo của nhà nho bằng giọng hóm hỉnh.
Toàn văn các bài thơ tiêu biểu kèm lời bình có trong bài tuyển tập thơ Nguyễn Công Trứ hay nhất.
Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ
Bài ca ngất ngưởng (sau 1848)
Bài hát nói được cho là viết khi ông đã về hưu, tổng kết cả một đời làm quan với giọng tự hào xen tự trào. Từ “ngất ngưởng” lặp đi lặp lại như một tuyên ngôn về lối sống vượt khuôn phép nhưng vẫn giữ trọn đạo vua tôi. Câu kết là lời thách thức nổi tiếng:
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Đọc thêm: toàn văn Bài ca ngất ngưởng, tác giả – tác phẩm Bài ca ngất ngưởng, phân tích Bài ca ngất ngưởng.
Chí làm trai (Chí khí anh hùng)
Bài hát nói khẳng định lí tưởng của nam nhi: phải vẫy vùng bốn bể, trả cho xong “nợ tang bồng”, để lại tiếng thơm cho đời rồi mới thảnh thơi hưởng nhàn. Khi đưa vào Ngữ văn 11, bộ Chân trời sáng tạo đặt cho bài nhan đề Chí khí anh hùng. Xem: bài thơ Chí làm trai, Chí khí anh hùng – tác giả, tác phẩm.
Đi thi tự vịnh
Bài thơ tám câu bảy chữ ra đời từ thời ông còn nghèo, đang theo đuổi khoa cử. Cặp câu thứ năm, thứ sáu trở thành châm ngôn sống của nhiều thế hệ:
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Đọc toàn bài: Đi thi tự vịnh (Nguyễn Công Trứ).
Vịnh cây vông
Bài thơ trào phúng mượn hình ảnh cây vông – thân to, ruột xốp, nhiều gai, không dùng làm rường cột được – để chế giễu hạng quan lại bất tài mà hợm hĩnh. Tương truyền ông làm bài này trong một bữa tiệc để châm một vị quan đồng triều.
Kẻ sĩ
Bài hát nói này là bản “tuyên ngôn” về vai trò kẻ sĩ trong xã hội phong kiến: lúc chưa gặp thời thì giữ mình, gặp thời thì ra gánh vác việc nước, xong việc mới lui về vui thú thanh nhàn. Đây là chìa khóa để hiểu quan niệm “hành – tàng” của tác giả.
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Công Trứ
- Cái tôi ngất ngưởng: ông dám nói về mình một cách tự tin, đôi khi ngạo nghễ, điều hiếm thấy trong văn chương nhà nho vốn đề cao sự khiêm nhường.
- Chí làm trai và trách nhiệm kẻ sĩ: công danh được xem như món nợ phải trả với đời; thơ ông vì thế mang âm hưởng hào hùng, thôi thúc hành động.
- Triết lí hưởng lạc và thái độ với thói đời: sau khi làm tròn bổn phận, ông đề cao thú vui cầm, kì, thi, tửu; mặt khác ông chế giễu sự bạc bẽo của nhân tình thế thái bằng giọng chua chát, hóm hỉnh.
- Bậc thầy thể hát nói: câu thơ co duỗi tự do, xen chữ Hán với lời Nôm, nhịp điệu phóng khoáng, phù hợp với cá tính tự do của tác giả. Tìm hiểu thêm về thể hát nói qua bài soạn Bài ca ngất ngưởng.
Nhận định về Nguyễn Công Trứ
Bộ sử Đại Nam chính biên liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn có một đoạn ngắn nhận xét về ông (theo bản dịch tiếng Việt):
“Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều”
Lời nhận xét của chính sử cho thấy ngay từ thời ấy, tài thơ Nôm của ông đã được ghi nhận bên cạnh tài cầm quân và khẩn hoang. Học sinh có thể triển khai thêm các ý sau (nhận xét của người biên tập, không trích của ai):
- Nguyễn Công Trứ là hình mẫu nhà nho hành động: lí tưởng trong thơ được ông thực hiện bằng những việc cụ thể như lập hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn.
- Cái “ngông” của ông không phải thói kiêu căng mà là cách khẳng định bản lĩnh cá nhân giữa khuôn phép phong kiến.
Tác phẩm của Nguyễn Công Trứ trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Lớp – bộ sách | Bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Vịnh cây vông | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 4 – Tiếng cười trào phúng trong thơ (thực hành đọc) | Soạn bài Vịnh cây vông |
| Chí khí anh hùng | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 5 – Băn khoăn tìm lẽ sống (đọc kết nối chủ điểm) | Soạn bài Chí khí anh hùng |
| Bài ca ngất ngưởng | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 2 | Bài 9 – Lựa chọn và hành động | Soạn bài Bài ca ngất ngưởng |
Lưu ý: bộ Kết nối tri thức lớp 11 cũng có văn bản mang tên Chí khí anh hùng, song văn bản ấy trích từ Truyện Kiều (Nguyễn Du), viết về Từ Hải. Khi làm bài cần ghi đúng tác giả theo bộ sách mình học.
Tóm tắt tiểu sử Nguyễn Công Trứ ngắn gọn
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong gia đình nhà nho, tuổi trẻ nghèo khó, đến năm 1819 mới đỗ Giải nguyên khi đã 41 tuổi. Gần ba mươi năm làm quan triều Nguyễn, ông nhiều lần thăng giáng, từng cầm quân dẹp loạn, làm Dinh điền sứ lập hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn, rồi về hưu năm 1848 với chức Phủ doãn Thừa Thiên. Ông là bậc thầy của thể hát nói với các bài Bài ca ngất ngưởng, Kẻ sĩ, Chí làm trai; thơ ông đề cao chí nam nhi và một lối sống tự do, ngất ngưởng.
Câu hỏi thường gặp về Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ quê ở đâu?
Ông quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; theo nhiều tài liệu, ông sinh ra ở huyện Quỳnh Côi (vùng Thái Bình), nơi cha ông đang làm quan.
Hy Văn là ai?
Hy Văn (còn viết Hi Văn) là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. Trong Bài ca ngất ngưởng, ông tự gọi mình là “ông Hi Văn”.
Nguyễn Công Trứ đỗ Giải nguyên năm bao nhiêu tuổi?
Ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1819, khi đã 41 tuổi, sau nhiều lần đi thi không đỗ.
Nguyễn Công Trứ có công gì với đất nước?
Ngoài thơ văn, ông có công mộ dân khai hoang lấn biển, lập hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn (1828 – 1829), và nhiều lần cầm quân dẹp các cuộc nổi dậy dưới triều Minh Mạng.
Chí khí anh hùng của Nguyễn Công Trứ khác gì Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều?
Đây là hai văn bản khác nhau trùng tên: bài của Nguyễn Công Trứ là bài hát nói (còn gọi Chí làm trai) học ở Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo; còn Chí khí anh hùng của Nguyễn Du là đoạn trích Truyện Kiều về Từ Hải.
Lời kết
Một đời thăng trầm, làm quan, cầm quân, khẩn hoang rồi ngất ngưởng cưỡi bò vàng dạo chơi, tác giả Nguyễn Công Trứ đã sống đúng như những gì ông viết. Hiểu tiểu sử của ông là cách tốt nhất để cảm được Bài ca ngất ngưởng hay Chí khí anh hùng. Đọc tiếp tuyển tập thơ Nguyễn Công Trứ trên Văn VN.
Xem thêm: Giới thiệu tác giả Cao Bá Quát · Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến · Giới thiệu tác giả Tú Xương