Ít người trong lịch sử từng đứng ở cả hai phía của một cuộc đổi triều như ông. Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên, là danh sĩ Bắc Hà cuối thời Lê – Trịnh, sau trở thành văn thần hàng đầu của vua Quang Trung: người bày kế rút quân về Tam Điệp năm 1788, người viết thay nhà vua Cầu hiền chiếu (học ở Ngữ văn 11) và nhiều văn thư bang giao với nhà Thanh. Cuối đời ông tu thiền với pháp hiệu Hải Lượng, rồi mất sau trận đòn ở Văn Miếu khi nhà Tây Sơn sụp đổ.
Ngô Thì Nhậm hay Ngô Thời Nhiệm?

| Tên | Ngô Thì Nhậm (吳時任); miền Trung, miền Nam thường viết Ngô Thời Nhiệm |
| Tự, hiệu | Tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên; pháp hiệu Hải Lượng thiền sư |
| Năm sinh – năm mất | 1746 – 1803 |
| Quê | Làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam; nay thuộc Hà Nội |
| Gia đình | Con trưởng của Ngô Thì Sĩ; thuộc dòng họ có nhiều người viết văn, sau được gọi là Ngô gia văn phái |
| Học vị, chức vụ | Tam giáp tiến sĩ năm 1775 (thời Lê – Trịnh); dưới triều Tây Sơn làm Thị lang, Thượng thư bộ Lại, từ 1790 là Thượng thư bộ Binh |
| Thể loại | Chiếu, biểu, văn thư bang giao, thơ chữ Hán, sử luận, sách thiền học |
| Tác phẩm tiêu biểu | Cầu hiền chiếu, Hàn các anh hoa, Bang giao hảo thoại, Hoàng hoa đồ phả, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Xuân thu quản kiến |
| Trong SGK | Cầu hiền chiếu – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập một |
Hai cách viết tên là chuyện kiêng húy. Theo PGS Lê Trung Hoa (sách Họ và tên người Việt Nam, được Wikipedia dẫn), chữ “Nhậm” và chữ “Thì” trùng với tên vua Tự Đức (Hồng Nhậm, còn có tên Thì), nên thời Nguyễn người ta đọc chệch thành Ngô Thời Nhiệm; ngay trên báo chí hôm nay vẫn gặp cả cách viết Ngô Thì Nhiệm. Ở miền Bắc, tên ông vẫn đọc theo âm cũ; sách giáo khoa hiện hành ghi Ngô Thì Nhậm. Hai cái tên chỉ một người.
Dòng họ Ngô Thì ở làng Tó
Ông sinh năm 1746 trong một gia đình khoa bảng ở làng Tả Thanh Oai, cha là Ngô Thì Sĩ, nhà sử học, tác giả Việt sử tiêu án. Con nhà học, ông đỗ đạt sớm, viết sử từ rất trẻ, và năm 1775 đỗ tam giáp tiến sĩ, cùng khoa với Phan Huy Ích, người về sau cũng ra giúp nhà Tây Sơn. Thời chúa Trịnh Sâm, ông làm quan ở các chức Hiến sát, Đốc đồng Kinh Bắc, Thái Nguyên, dâng nhiều bản điều trần về giáo dục, pháp luật, chính sự.
Dòng họ này đông người cầm bút đến mức đời sau gọi chung là Ngô gia văn phái. Chính nhóm tác giả ấy đã viết bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí (17 hồi). Theo lời giới thiệu của Ngô Tất Tố, bảy hồi đầu đề “Học Tốn công di thảo”, tức của Ngô Thì Chí, em ông; theo gia phả họ Ngô, Ngô Thì Du viết bảy hồi tiếp. Có ý kiến cho rằng Ngô Thì Nhậm cũng góp tay, nhưng Ngô Tất Tố cho là không có gì chắc chắn. Trong hồi thứ mười bốn, Ngô Thì Nhậm hiện lên như một nhân vật bên cạnh vua Quang Trung.
Vụ án Canh Tý và một lời đồn theo ông suốt đời
Năm 1780, phủ chúa xảy ra vụ án Canh Tý: thế tử Trịnh Khải (Trịnh Tông) cùng phe cánh bị khép tội mưu đoạt quyền, nhiều người bị xử. Theo Wikipedia tiếng Việt và các sách giai thoại, Ngô Thì Nhậm được thăng chức ngay sau đó nên trong giới sĩ phu Bắc Hà nổi lên lời đồn ông là người tố giác; cùng thời gian ấy cha ông mất, và người ghét ông gán cho ông câu “sát tứ phụ nhi thị lang”, nghĩa là giết bốn người cha (cha ruột và ba người bạn vong niên của cha) để được làm thị lang.
Đó là lời đồn, không phải phán quyết của sử, và chưa thấy chép trong chính sử. Các tài liệu kể ông phải bỏ về quê vợ ở Bách Tính (Nam Định) lánh nạn khi phe Trịnh Khải trở lại nắm quyền. Nhiều năm sau, ông là người đầu tiên trong đám sĩ phu cựu triều ra hợp tác với Tây Sơn, phần nào cũng vì con đường làm quan ở triều cũ của ông đã khép lại.
Năm 1788: từ người lánh Tây Sơn đến Thượng thư bộ Lại
Lần đầu quân Tây Sơn ra Bắc (1786), Ngô Thì Nhậm vẫn coi họ là giặc. Đến năm 1788, khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, vua Lê và chúa Trịnh đều đã mất chỗ đứng; Nguyễn Huệ ra lệnh tìm quan lại cũ, và ông là một trong những người đầu tiên đến trình diện. Ông được giao chức Tả thị lang (Hoàng Lê nhất thống chí ghi bộ Lại, có tài liệu ghi bộ Công), cùng tướng Ngô Văn Sở trông coi việc ở Bắc Hà, ít lâu sau thăng Thượng thư bộ Lại.
Đây là bước ngoặt lớn nhất đời ông và cũng là chỗ người đương thời chê trách nhiều nhất: một tiến sĩ triều Lê đi làm quan cho triều mới. Đặt vào hoàn cảnh nhà Lê – Trịnh đã tan rã, lựa chọn ấy dễ hiểu hơn; quan trọng là ông đem sở học ra làm việc gì cho triều mới.
Kế lui về Tam Điệp, mùa xuân Kỷ Dậu
Cuối năm Mậu Thân (1788), theo lời cầu viện của Lê Chiêu Thống, quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy kéo sang. Lực lượng Tây Sơn ở Bắc Hà mỏng. Ngô Thì Nhậm bàn với Ngô Văn Sở bỏ Thăng Long, rút toàn bộ quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn, giữ nguyên lực lượng chờ đại quân từ Phú Xuân ra. Lui về chỗ hiểm thì giữ được nguyên quân, cứ để giặc vào Thăng Long rồi sẽ tính sau.
Kết quả là trận đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Trong đoạn trích Quang Trung đại phá quân Thanh, vua Quang Trung nói khi mới nghe tin rút quân đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ trương, rằng để ông ở lại cùng các tướng chính là đã lo sẵn cho tình thế ấy, và giao trước cho ông việc dùng lời lẽ giao thiệp với nhà Thanh sau chiến tranh. Chân dung nhà vua trong hồi truyện ấy được phân tích kỹ ở bài hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Ngòi bút viết thay vua Quang Trung
Sau chiến thắng, việc khó nhất của Tây Sơn ở Bắc Hà không còn là đánh trận mà là thu phục lòng người và giữ hòa với nước lớn. Cả hai việc đều đi qua ngòi bút của Ngô Thì Nhậm. Ông soạn các chiếu, biểu, thư từ, trong đó có Cầu hiền chiếu (khoảng 1788 – 1789), lời vua Quang Trung kêu gọi người hiền tài Bắc Hà ra giúp nước: mở bằng hình ảnh người hiền như sao sáng trên trời phải chầu về ngôi Bắc Thần, kể chuyện kẻ sĩ lánh đời, im lặng hay làm quan cầm chừng, rồi nêu cụ thể ba cách tiến cử. Sách Hàn các anh hoa do dòng họ Ngô Thì lưu giữ chép lại nhiều văn bản loại này, có cả tờ chiếu khuyến nông.
Năm 1790 ông được giao chức Thượng thư bộ Binh nhưng thực chất là người chủ trì việc ngoại giao với nhà Thanh; ông đi sứ phương Bắc (các tài liệu ghi khác nhau về năm: 1790, 1792 hoặc 1793), để lại các tập Bang giao hảo thoại và thơ đi sứ Hoàng hoa đồ phả. Văn bang giao của ông mềm mỏng trong lời mà không nhún nhường trong ý, một kiểu văn khó viết hơn văn chiến thắng nhiều.
Cầu hiền chiếu và Hoàng Lê nhất thống chí trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Quan hệ với Ngô Thì Nhậm | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Cầu hiền chiếu (Chiếu cầu hiền) | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập một, Bài 3: Cấu trúc của văn bản nghị luận | Ông viết thay vua Quang Trung | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Hoàng Lê nhất thống chí (trích hồi 2 và hồi 14) | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập hai, Bài 9: Âm vang của lịch sử | Tác phẩm của Ngô gia văn phái; ông là nhân vật trong hồi 14 | Soạn bài · Tóm tắt · Phân tích |
Khi học Cầu hiền chiếu, cần nhớ người đứng tên là vua Quang Trung, còn người chấp bút là Ngô Thì Nhậm. Giọng văn khiêm nhường mà thẳng thắn của bài chiếu dễ hiểu hơn khi biết người viết chính là một sĩ phu Bắc Hà từng do dự, nên ông hiểu nỗi ngần ngại của những người mà bài chiếu muốn thuyết phục.
Hải Lượng thiền sư và Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh
Năm 1792 vua Quang Trung mất; dưới triều Cảnh Thịnh ông không còn được trọng dụng như trước. Ông quay sang Phật học, cùng một số đồng đạo lập Trúc Lâm tông ở Thăng Long, tự nhận nối pháp dòng thiền mà vua Trần Nhân Tông khai sáng ở Yên Tử gần năm trăm năm trước. Tác phẩm thiền học chính của ông là Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh (1796), chủ trương Nho, Phật, Lão cùng một nguồn và dùng khái niệm Nho học để giảng giải giáo lý nhà Phật.
Từ ông quan bày mưu giữ nước đến nhà sư giảng thiền, khoảng cách tưởng xa, nhưng đều xuất phát từ một con người nhập thế: ngay cả khi tu, ông vẫn nói đến việc tu giữa đời, gắn với trách nhiệm với gia đình và đất nước.
Trận đòn ở Văn Miếu năm 1803 và câu đối “thế thời phải thế”
Năm 1802 nhà Nguyễn diệt Tây Sơn. Theo Wikipedia tiếng Việt và nhiều sách kể, năm sau một số văn thần cũ, trong đó có Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, bị đánh đòn ở Văn Miếu (Hà Nội); Ngô Thì Nhậm mất năm 1803, sau trận đòn ấy.
Quanh cái chết của ông có một giai thoại nổi tiếng. Tương truyền người chủ trì trận đòn là Đặng Trần Thường, vốn có hiềm khích cũ với ông. Đặng Trần Thường ra vế đối “Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”, Ngô Thì Nhậm đối lại “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. Giai thoại còn kể roi bị tẩm thuốc độc. Đây là chuyện truyền miệng, có nhiều dị bản về câu chữ, các sách chép không giống nhau; nên đọc như một cách người đời sau bày tỏ cảm tình với ông hơn là một sự kiện đã được xác minh.