Ba trăm năm sau, thiên hạ ai người khóc Tố Như? Câu hỏi ấy Nguyễn Du tự đặt ra ở cuối bài Độc Tiểu Thanh ký, và người đọc hôm nay vẫn còn trả lời. Nguyễn Du (1765 – 1820), tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, là nhà thơ thời Lê mạt – Nguyễn sơ, tác giả Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), Văn chiêu hồn và ba tập thơ chữ Hán, được tôn xưng là Đại thi hào dân tộc.
Tố Như, Thanh Hiên và hai biệt hiệu của người đi săn, người đi câu

| Tên, tự, hiệu | Nguyễn Du (阮攸), tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên; biệt hiệu Hồng Sơn liệp hộ (có sách đọc “lạp hộ”), Nam Hải điếu đồ |
| Năm sinh – năm mất | Sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (theo gia phả, tức 3/1/1766; văn bản chính thức ghi 1765) – mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820) |
| Nơi sinh | Phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long |
| Quê quán | Làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (nay là xã Tiên Điền, tỉnh Hà Tĩnh); quê mẹ ở Kinh Bắc |
| Thể loại | Truyện thơ Nôm lục bát, văn tế song thất lục bát, thơ chữ Hán |
| Tác phẩm tiêu biểu | Truyện Kiều (3.254 câu), Văn chiêu hồn, Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục |
| Chức vụ cao nhất | Hữu tham tri bộ Lễ triều Nguyễn; Chánh sứ sang nhà Thanh (1813 – 1814) |
| Trong SGK | Các đoạn trích Truyện Kiều (Ngữ văn 9, 11), Độc Tiểu Thanh ký (Ngữ văn 11) |
Hai biệt hiệu sau cùng không phải bút danh văn chương. Theo những tài liệu Tuổi Trẻ dẫn lại, những năm về sống ở quê, khi đi với phường săn ông tự xưng Hồng Sơn liệp hộ (người đi săn ở núi Hồng, tức dãy Hồng Lĩnh), khi đi với phường chài thì xưng Nam Hải điếu đồ (người câu cá ở biển Nam).
Về năm sinh, ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu đã sang năm 1766 dương lịch, nhưng năm Ất Dậu phần lớn trùng với 1765 nên các lễ kỷ niệm chính thức (250 năm vào năm 2015, 260 năm vào năm 2025) đều tính theo 1765.
Con quan Tham tụng, mồ côi năm mười ba tuổi
Ông sinh ở kinh thành, trong một dòng họ hiển đạt bậc nhất thời Lê – Trịnh. Cha là Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, làm đến Tham tụng (tể tướng). Mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người Kinh Bắc, con một người làm chức Câu kế. Anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Khản hơn ông ba mươi mốt tuổi, cũng làm Tham tụng.
Cảnh giàu sang ấy không kéo dài. Cha mất năm 1775 (có tài liệu ghi 1776), mẹ mất năm 1778; đến năm mười ba tuổi (tuổi ta) ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, về ở với Nguyễn Khản. Năm 1780, Nguyễn Khản bị khép tội trong vụ án năm Canh Tý, ông được Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học; sau này ông lấy em gái Đoàn Nguyễn Tuấn là bà Đoàn Thị Huệ. Năm 1783, ông đỗ Tam trường kỳ thi Hương ở trường Sơn Nam và được tập ấm một chức võ quan nhỏ ở Thái Nguyên.
Mười năm gió bụi
Năm 1786 – 1789, quân Tây Sơn ra Bắc, nhà Lê sụp đổ. Từ đó đến giữa thập niên 1790 là quãng ông tự gọi trong bài U cư là “thập tải phong trần”, mười năm gió bụi: lưu lạc nhiều nơi rồi về Tiên Điền, đi săn, đi câu, làm thơ. Phần lớn Thanh Hiên thi tập ra đời trong những năm này.
Năm 1796, ông định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, bị tướng Tây Sơn Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An rồi được tha.
Làm quan nhà Nguyễn: từ tri huyện Phù Dung đến Hữu tham tri bộ Lễ
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long. Nguyễn Du ra yết kiến và được bổ ngay tri huyện Phù Dung, rồi tri phủ Thường Tín; năm 1803 ông được cử lên ải Nam Quan đón sứ nhà Thanh. Từ đó đường quan khá thuận: Đông các đại học sĩ (1805 theo gia phả, 1806 theo chính sử), giám khảo thi Hương ở Hải Dương năm 1807, Cai bạ Quảng Bình năm 1809. Bộ Đại Nam thực lục, theo Wikipedia tiếng Anh dẫn, khen ông giỏi thơ, càng giỏi quốc âm, nhưng cũng ghi ông rụt rè mỗi khi vào chầu.
Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và làm Chánh sứ sang nhà Thanh, đến năm 1814 mới về. Sau đó ông làm Hữu tham tri bộ Lễ (1814 hoặc 1815), chức cao nhất trong đời. Năm 1820, vua Minh Mạng cử ông làm Chánh sứ lần nữa, nhưng ông mắc bệnh, được cho là dịch tả, và mất ở Huế ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, trước khi đoàn sứ lên đường. Năm 1824, hài cốt ông được đưa về táng ở Tiên Điền.
Chuyến đi sứ năm 1813 và 249 bài thơ chữ Hán
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du còn lại 249 bài, theo bản sưu tầm của Lê Thước và Trương Chính (1965), chia làm ba tập:
| Tập thơ | Số bài | Thời gian, hoàn cảnh |
|---|---|---|
| Thanh Hiên thi tập | 78 | Khoảng 1786 – 1804, những năm gió bụi và ở quê |
| Nam trung tạp ngâm | 40 | 1805 – 1812, khi làm quan ở Huế và Quảng Bình (phía nam quê nhà) |
| Bắc hành tạp lục | 131 | Chuyến đi sứ 1813 – 1814 |
Bắc hành tạp lục có những bài thơ về các nhân vật Trung Hoa (Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Tiểu Thanh) và cảnh khổ của người nghèo dọc đường. Trên đường đi, qua Thăng Long, ông gặp lại một người đánh đàn từng nghe thời trẻ, nay đã già, và viết Long thành cầm giả ca. Bài Độc Tiểu Thanh ký kết bằng hai câu:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Dịch nghĩa: Không biết hơn ba trăm năm sau, trong thiên hạ ai là người khóc Tố Như? Bản phiên âm, dịch thơ đầy đủ có ở bài Độc Tiểu Thanh kí; các bài chữ Hán khác được tập hợp trong tuyển tập thơ Nguyễn Du.
Từ Kim Vân Kiều truyện đến Đoạn trường tân thanh
Truyện Kiều, tên gốc Đoạn trường tân thanh (tiếng kêu mới đứt ruột), là truyện thơ Nôm lục bát dài 3.254 câu, mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc, cuối đời Minh). Câu chuyện mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều được Nguyễn Du kể lại bằng tiếng Việt, mở đầu bằng hai câu ai cũng thuộc:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Tác phẩm viết năm nào vẫn còn tranh luận. Một thuyết dựa vào chính sử, cho rằng ông viết sau chuyến đi sứ. Năm 1943, Đào Duy Anh tìm thấy ghi chép của một người đã đọc Truyện Kiều của “quan Đông Các”, từ đó nhiều nhà nghiên cứu như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Tài Cẩn đẩy thời điểm sáng tác về trước năm 1813, có người cho là trước cả 1802. Wikipedia dẫn Từ điển văn học (bộ mới) nhận định thuyết viết trước khi đi sứ được nhiều người chấp nhận hơn.
Năm 1820, người ký tên Mộng Liên Đường chủ nhân viết lời tựa cho Truyện Kiều, cho rằng tác giả “nếu không có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy” (bản dịch Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim). Hơn một thế kỷ sau, năm 1924, Phạm Quỳnh nói câu nổi tiếng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”, mở ra cuộc tranh luận kéo dài với Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Chế Lan Viên gói tất cả trong một câu thơ, bài Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?: Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn.
Ngoài Truyện Kiều, ông viết Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh) 184 câu song thất lục bát, và theo Wikipedia còn có Thác lời trai phường nón, Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ. Cảm hứng thương người và nghệ thuật tả người, tả cảnh trong thơ ông được phân tích riêng ở bài phong cách sáng tác của Nguyễn Du. Cần nói thêm: Nguyễn Du không phải người mở đầu thơ Nôm. Trước Truyện Kiều gần bốn thế kỷ đã có Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; điều ông làm được là đưa truyện thơ lục bát lên đến độ chín.
Truyện Kiều và Độc Tiểu Thanh ký trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, 11
Ở chương trình 2018, cả ba bộ sách đều có một bài học riêng về Nguyễn Du ở lớp 11, và đều trích Truyện Kiều ở lớp 9:
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Kim – Kiều gặp gỡ | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 1, Bài 3 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Kiều ở lầu Ngưng Bích | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (thực hành đọc), Cánh diều (thực hành đọc hiểu) | Tác giả, tác phẩm · Phân tích · Mở bài |
| Thúy Kiều báo ân, báo oán | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 1, Bài 5 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt |
| Cảnh ngày xuân | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1, Bài 2 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm |
| Trao duyên | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (tập 2, Bài 6), Chân trời sáng tạo (tập 2, Bài 7), Cánh diều (tập 1, Bài 2) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích · Mở bài |
| Độc Tiểu Thanh ký | Ngữ văn 11, cả ba bộ sách | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Chí khí anh hùng / Anh hùng tiếng đã gọi rằng | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (thực hành đọc), Cánh diều (thực hành đọc hiểu) | Soạn bài · Mở bài |
| Mộng đắc thái liên | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (thực hành đọc) | Soạn bài |
| Thúy Kiều hầu rượu Hoạn Thư – Thúc Sinh | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo (đọc mở rộng) | Soạn bài |
| Bài học về tác gia | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức; Cánh diều | Soạn bài Tác gia Nguyễn Du · Nguyễn Du – Cuộc đời và sự nghiệp |
Học sinh bộ sách cũ còn nhớ Chị em Thúy Kiều ở lớp 9. Muốn ôn nhanh những câu Kiều hay dùng làm dẫn chứng, xem năm mươi câu Kiều hay nhất.
Năm 1965, năm 2015 và chuyện “Danh nhân văn hóa thế giới”
Nhiều bài viết gộp làm một, cho rằng UNESCO vinh danh Nguyễn Du nhân 200 năm ngày sinh vào năm 2013. Thực ra đó là hai sự kiện khác nhau, cách nhau gần nửa thế kỷ:
- 1965: Hội đồng Hòa bình thế giới (không phải UNESCO) quyết nghị kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, cùng đợt với một số danh nhân thế giới khác.
- 2013: Đại hội đồng UNESCO khóa 37 thông qua nghị quyết tham gia kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du; lễ kỷ niệm tổ chức năm 2015. Báo Tiền Phong kể hồ sơ của Việt Nam suýt lỡ hạn, phải gửi bằng thư điện tử vào đêm cuối cùng.
Cũng theo Tiền Phong, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam lưu ý UNESCO không có danh hiệu chính thức nào tên là “Danh nhân văn hóa thế giới”; tổ chức này chỉ xét tham gia kỷ niệm năm sinh, năm mất của các nhân vật. Cách gọi ấy vẫn được dùng rộng rãi để chỉ những người như Nguyễn Du.
Ở Tiên Điền hôm nay, Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du là Di tích quốc gia đặc biệt, lưu giữ hơn 2.200 tư liệu, hiện vật; lễ giỗ ông tổ chức hằng năm vào ngày 10 tháng 8 âm lịch, bên cạnh phần mộ. Truyện Kiều đã được dịch ra hơn hai mươi thứ tiếng, và hơn hai trăm năm sau câu hỏi trong Độc Tiểu Thanh ký, người khóc Tố Như vẫn còn rất đông.
Xem thêm: