Phân tích truyện Dế chọi của Bồ Tùng Linh là đề bài quen thuộc khi học Bài 1 “Thế giới kì ảo” sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, và cũng hữu ích khi đọc mở rộng ở Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo hay Ngữ văn 9 Cánh diều. Truyện ngắn gọn nhưng chứa cả một bi kịch gia đình, một bức tranh quan trường và nghệ thuật kể chuyện kì ảo đặc sắc của Liêu Trai chí dị.
Dưới đây là dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu với độ dài, góc nhìn khác nhau: bài ngắn gọn, bài đầy đủ, bài tập trung vào nhân vật Thành, bài phân tích yếu tố kì ảo – hiện thực và bài dành cho học sinh giỏi. Các câu trích dẫn được giữ ngắn vì bản dịch của Cao Tự Thanh còn trong thời hạn bảo hộ; em nên đối chiếu thêm với văn bản trong SGK. Bản dịch ấy là văn bản 2 của Bài 1 (trang 18–22), có lời giải từng câu hỏi trong bài soạn Dế chọi sách Kết nối tri thức.

Dàn ý phân tích truyện Dế chọi
1. Mở bài
– Giới thiệu Bồ Tùng Linh (1640–1715), nhà văn đời Thanh, tác giả tập truyện Liêu Trai chí dị.
– Giới thiệu Dế chọi: truyện truyền kì kể về gia đình lí chính Thành điêu đứng rồi đổi đời chỉ vì một con dế, qua đó phê phán vua quan và thương xót người lương thiện.
2. Thân bài
a. Bối cảnh và nguyên nhân sâu xa của bi kịch
+ Đời Tuyên Đức nhà Minh, trong cung chuộng chọi dế, bắt dân gian dâng nộp hằng năm.
+ Quan huyện muốn lấy lòng cấp trên, quan tỉnh bắt nộp thường xuyên; lệnh truyền từ trên xuống, cuối cùng đè lên người dân; lí dịch nhân đó sách nhiễu, nhiều nhà khuynh gia bại sản.
⇒ Thú vui nhỏ của vua trở thành tai họa lớn của dân; bộ máy quan lại chỉ biết chiều lòng bề trên.
b. Nhân vật Thành trước khi có dế
+ Học trò nghèo thi mãi không đỗ, tính chất phác, bị ép làm lí chính; chưa đầy năm gia sản cạn kiệt.
+ Không nỡ sách nhiễu dân, tự đi bắt dế, bị đánh trăm trượng, chỉ nghĩ đến cái chết.
⇒ Người lương thiện bị xô đẩy vào đường cùng; nhân cách tốt không giúp được anh mà còn khiến anh khổ hơn.
c. Chuỗi biến cố khi tìm được rồi mất dế
+ Bức vẽ của bà đồng, con ếch dẫn đường giúp Thành bắt được dế to khỏe: niềm vui hiếm hoi, cả nhà nâng niu con dế hơn của báu.
+ Đứa con chín tuổi làm dế chết, sợ hãi bỏ đi, được tìm thấy dưới giếng; sống lại nhưng “thần thái ngây ngốc như người gỗ”.
+ Thành nhìn lồng dế rỗng mà đau hơn cả lo cho con ⇒ chi tiết đau xót: con người bị con dế chi phối đến mức đảo lộn tình cảm tự nhiên.
d. Con dế kì lạ và sự đổi đời
+ Con dế nhỏ màu tía thắng dế “giải xác thanh”, thắng cả con gà; vào cung thắng mọi loại dế lạ, biết múa theo tiếng đàn.
+ Vua thưởng tuần phủ, tuần phủ tâu thưởng tri huyện, tri huyện cho Thành miễn sai dịch, đỗ tú tài; nhà Thành giàu sang.
+ Hơn năm sau đứa con tỉnh lại, kể mình đã hóa dế ⇒ sự đổi đời được trả giá bằng linh hồn đứa trẻ.
e. Lời bàn của Dị Sử thị
+ “Họ Thành vì sâu mọt mà nghèo, nhờ dế chọi mà giàu”: nghèo hay giàu đều do con dế ⇒ mỉa mai sự phi lí của xã hội.
+ Quan trên cũng được hưởng phúc nhờ con dế ⇒ châm biếm cảnh “một người được, cả họ nhờ”.
f. Đặc sắc nghệ thuật
+ Yếu tố kì ảo đan xen hiện thực, kì ảo làm nổi bật hiện thực.
+ Cốt truyện nhiều biến cố, đảo chiều liên tục; miêu tả tâm lí qua hành động; lời bình cuối truyện đặc trưng truyền kì.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện.
– Liên hệ: bài học về trách nhiệm của người cầm quyền và sự trân trọng con người.
Phân tích truyện Dế chọi – mẫu 1 (ngắn gọn)
Trong kho tàng truyện kì ảo phương Đông, Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh nổi tiếng bởi cách mượn chuyện ma quái để nói chuyện đời. Dế chọi là một truyện tiêu biểu: không có hồ li hay yêu quái, chỉ có một con dế nhỏ, vậy mà nó đủ sức làm rung chuyển cả một gia đình và phơi bày bộ mặt của cả một triều đình.
Câu chuyện bắt đầu từ một thú vui trong cung: vua chuộng chọi dế nên bắt dân dâng nộp. Lệnh ấy đi qua quan tỉnh, quan huyện, lí trưởng rồi rơi xuống đầu người dân, mỗi cấp lại thêm một lớp sách nhiễu. Thành – một anh học trò hiền lành bị ép làm lí chính – là nạn nhân điển hình. Vì không nỡ bắt dân đóng góp, anh tự đi tìm dế, rồi bị đánh đến nỗi chỉ còn nghĩ đến cái chết. Chi tiết ấy cho thấy trong xã hội ấy, lòng tốt không được đền đáp mà còn bị trừng phạt.
Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi đứa con trai lỡ làm chết con dế quý, sợ hãi mà gieo mình xuống giếng. Đứa trẻ được cứu sống nhưng mê man như người gỗ, còn người cha lại đau đớn nhìn chiếc lồng trống. Con dế quan trọng đến mức lấn át cả tình phụ tử – đó là tiếng kêu xót xa nhất của truyện.
Rồi phép lạ xảy ra: một con dế nhỏ màu tía xuất hiện, chọi thắng mọi đối thủ, thắng cả con gà, được dâng lên vua và khiến vua vui lòng. Từ vua, tuần phủ đến tri huyện đều được thưởng, nhà Thành cũng giàu sang. Chỉ khi đứa con tỉnh lại, người đọc mới biết con dế ấy chính là hồn đứa trẻ. Cái kết “có hậu” thật ra đầy cay đắng, vì hạnh phúc của gia đình được đổi bằng chính linh hồn một đứa bé.
Bằng lối kể giàu biến cố, kết hợp khéo léo giữa kì ảo và hiện thực, cùng lời bàn mỉa mai ở cuối truyện, Dế chọi vừa lên án thói xa hoa của vua chúa, sự bợ đỡ của quan lại, vừa bày tỏ niềm thương cảm với những con người nhỏ bé. Truyện ngắn mà sức tố cáo không hề nhỏ.
Phân tích truyện Dế chọi – mẫu 2 (đầy đủ)
Bồ Tùng Linh sống lận đận gần trọn đời: đỗ tú tài từ trẻ nhưng thi mãi không đỗ, phải đi dạy học kiếm sống. Có lẽ vì thế mà ông hiểu rõ hơn ai hết nỗi khổ của kẻ sĩ nghèo và người dân dưới chế độ phong kiến. Những hiểu biết ấy kết tinh trong Liêu Trai chí dị, tập truyện gần 500 thiên mượn chuyện kì lạ để nói chuyện đời. Dế chọi là một trong những truyện giàu sức tố cáo nhất của tập sách.
Mở đầu truyện, tác giả không vội giới thiệu nhân vật mà dựng lên bối cảnh: đời Tuyên Đức nhà Minh, trong cung chuộng chọi dế, hằng năm bắt dân nộp. Dế vốn không phải sản vật của Thiểm Tây, nhưng một viên quan huyện muốn lấy lòng cấp trên đã dâng một con; quan tỉnh thấy hay liền bắt nộp thường xuyên. Chỉ vài câu mà người đọc thấy rõ cả một dây chuyền quyền lực: vua ham vui, quan tỉnh cầu công, quan huyện cầu thưởng, lí dịch cầu lợi. Mắt xích cuối cùng, chịu mọi gánh nặng, là người dân. Có nhà khuynh gia bại sản chỉ vì một con côn trùng bé nhỏ. Sự đối lập giữa cái nhỏ bé của con dế và cái lớn lao của tai họa đã báo trước tính chất phi lí của câu chuyện.
Trên nền bối cảnh ấy, nhân vật Thành hiện lên như một nạn nhân tiêu biểu. Anh là học trò thi mãi không đỗ, tính tình chất phác, không biết luồn lọt nên bị bọn lí dịch gian giảo đẩy vào chức lí chính – một chức vụ chẳng ai muốn vì phải đứng giữa quan và dân. Chưa đầy một năm, chút gia sản đã cạn. Đến kì nộp dế, Thành không nỡ bổ bắt dân làng, cũng không có tiền để bù, đành tự mình sáng đi tối về tìm bắt. Anh bới đất lật đá khắp nơi mà chỉ được vài con nhỏ yếu, bị quan đánh trăm trượng, nằm liệt giường chỉ nghĩ đến việc tự tử. Ở đây, cái thiện không những không được đền đáp mà còn đẩy con người vào đường cùng – một nghịch lí đau lòng của xã hội phong kiến.
Đúng lúc tuyệt vọng nhất, yếu tố kì ảo xuất hiện. Vợ Thành đi xem bói, nhận được bức vẽ có điện gác, núi đá, con dế và con ếch. Thành ngẫm nghĩ, nhận ra cảnh sau gác Đại Phật phía đông thôn, gượng dậy chống gậy đi tìm và bắt được một con dế to khỏe. Đoạn văn từ “Thành giở đi giở lại” đến lúc anh cất dế vào chậu chờ kì hạn nộp quan được kể chậm rãi, tỉ mỉ, cho thấy nỗi mong mỏi, hồi hộp rồi vui sướng tột cùng của nhân vật. Niềm vui ấy càng lớn thì cú rơi sau đó càng đau.
Đứa con trai chín tuổi tò mò mở chậu, con dế nhảy ra, chụp được thì dế đã gãy chân vỡ bụng. Người mẹ tái mặt vì sợ, đứa bé khóc lóc bỏ đi, rồi được tìm thấy dưới giếng. Thành từ giận chuyển sang thương, vợ chồng lặng lẽ nhìn nhau trong căn nhà tranh không khói lửa. Đứa trẻ được cứu sống nhưng “thần thái ngây ngốc như người gỗ, cứ ngủ mê mệt”. Chi tiết khiến người đọc nhói lòng nhất là Thành nhìn chiếc lồng dế trống không mà nghẹn lời, không còn nghĩ gì tới con nữa. Không phải anh vô tình; chính cái lệ nộp dế đã bóp méo tình cảm tự nhiên của người cha. Bồ Tùng Linh không cần lời bình luận, chỉ một chi tiết đã đủ để tố cáo.
Phần sau của truyện là chuỗi phép lạ. Một con dế nhỏ, ngắn, màu tía xuất hiện; ban đầu Thành coi thường, nhưng nó thắng con dế “giải xác thanh” của gã thiếu niên trong thôn, rồi khi bị gà mổ còn nhảy lên mào gà cắn chặt. Được dâng lên tri huyện, tuần phủ rồi vào cung, nó thắng mọi loại dế lạ, nghe tiếng đàn sáo lại nhảy múa theo nhịp. Vua vui lòng thưởng tuần phủ; tuần phủ tâu thưởng tri huyện; tri huyện cho Thành miễn sai dịch, dặn học quan cho Thành đỗ tú tài. Chỉ vài năm, nhà Thành ruộng vườn trăm khoảnh, lầu gác nguy nga. Đọc đến đây người đọc bật cười chua chát: con đường tiến thân mà Thành bao năm đèn sách không mở được, một con dế lại mở ra dễ dàng. Và khi đứa con tỉnh lại kể mình đã hóa dế, niềm vui đổi đời bỗng trĩu nặng: hạnh phúc của gia đình được mua bằng linh hồn một đứa trẻ.
Truyện khép lại bằng lời bàn của Dị Sử thị – cách Bồ Tùng Linh trực tiếp bày tỏ thái độ. Câu “Họ Thành vì sâu mọt mà nghèo, nhờ dế chọi mà giàu” tóm gọn toàn bộ sự phi lí: nghèo vì dế, giàu cũng vì dế. Lời bàn còn nhắc việc cả tuần phủ, tri huyện được hưởng ơn nhờ con dế, mỉa mai cảnh một người được, kẻ xung quanh cùng hưởng lây.
Về nghệ thuật, truyện hấp dẫn nhờ cốt truyện nhiều biến cố, hi vọng và tuyệt vọng nối nhau liên tục; nhờ sự đan cài nhuần nhuyễn giữa kì ảo và hiện thực, trong đó yếu tố kì ảo không làm câu chuyện xa rời đời thật mà càng làm hiện thực thêm sắc nét. Giọng kể điềm tĩnh, ít bình luận, để sự việc tự lên tiếng; lời bàn cuối truyện mang đậm đặc trưng thể loại truyền kì.
Dế chọi vì thế vừa là bản cáo trạng về thói ăn chơi của vua chúa và sự bợ đỡ của quan lại, vừa là lời cảm thông sâu sắc với những con người lương thiện nhỏ bé. Hơn ba trăm năm đã qua, câu chuyện về một con dế vẫn khiến người đọc suy nghĩ về cái giá của quyền lực khi nó không đặt con người vào trung tâm.
Phân tích truyện Dế chọi – mẫu 3 (qua nhân vật Thành)
Có những nhân vật văn học không làm nên chiến công nào, cũng chẳng có cá tính nổi bật, nhưng số phận của họ lại soi rõ cả một thời đại. Thành trong Dế chọi của Bồ Tùng Linh là một nhân vật như thế. Qua những thăng trầm của anh, tác giả cho thấy con người nhỏ bé bị cuốn đi như thế nào trong vòng xoáy của quyền lực.
Thành trước hết là một người lương thiện. Anh dự khoa Đồng tử mãi không đỗ, tính chất phác, ít lời – những phẩm chất lẽ ra đáng quý nhưng trong môi trường quan trường lại thành điểm yếu. Bọn lí dịch gian giảo lợi dụng sự hiền lành ấy để ép anh làm lí chính, cái chức phải gánh mọi yêu sách của cấp trên. Khi lệnh nộp dế đến, người khác có thể ép dân đóng góp để bù, còn Thành thì không nỡ. Anh chọn cách tự mình chịu khổ: cầm ống trúc, lồng tơ đi khắp bãi hoang, tường đổ tìm dế. Chi tiết ấy cho thấy một tấm lòng biết thương người, biết giữ mình.
Nhưng lòng tốt không cứu được Thành. Hơn mười ngày không nộp đủ dế, anh bị đánh trăm trượng, nằm liệt giường, chỉ muốn chết. Người vợ phải khuyên anh đừng tìm đến cái chết mà hãy tự đi tìm. Từ một anh học trò có chí khoa cử, Thành bị biến thành kẻ lê lết đi bắt côn trùng – sự sa sút ấy là lời tố cáo đầu tiên của truyện.
Tiếp đó, nhân vật được đặt vào một chuỗi thử thách tâm lí. Khi cầm bức vẽ của bà đồng, Thành suy nghĩ, đoán định rồi gượng dậy chống gậy đi tìm; khi bắt được dế to khỏe, anh vui mừng như được báu vật, chăm sóc nó chu đáo. Niềm vui ấy mong manh biết bao: chỉ một phút tò mò của đứa con, con dế chết, đứa trẻ gặp nạn dưới giếng. Thành giận dữ tìm con, rồi đổi giận thành thương, gào khóc như muốn tắt hơi. Thế nhưng khi đứa con thoi thóp sống lại, anh vẫn không yên lòng vì chiếc lồng trống. Tác giả không trách Thành; ông để người đọc thấy nỗi sợ hãi trước quan trên đã len vào tận tình cảm cha con, khiến người cha không còn được thương con trọn vẹn.
Rồi vận may đến cũng bất ngờ như tai họa. Con dế nhỏ màu tía khiến Thành lúc đầu xấu hổ, không dám cho chọi, nhưng rồi nó thắng hết đối thủ. Từ đây Thành gần như đứng ngoài câu chuyện: con dế đi lên tri huyện, tuần phủ, vào cung; vinh quang dội ngược từ trên xuống, Thành được miễn sai dịch, được “cho” đỗ tú tài, được giàu sang. Con đường thành danh anh theo đuổi bằng đèn sách suốt bao năm không tới, một con dế lại mang đến trong chớp mắt. Sự đổi đời ấy không đến từ tài năng hay đức độ mà từ ý thích của nhà vua – đó là mỉa mai lớn nhất.
Điều đáng suy ngẫm là cái giá của sự giàu sang. Hơn một năm sau, đứa con tỉnh lại và kể rằng mình đã hóa thành dế. Hóa ra hạnh phúc của Thành được đánh đổi bằng linh hồn con trẻ. Nhìn lại, suốt câu chuyện Thành chưa từng thực sự làm chủ số phận mình: nghèo vì dế, khổ vì dế, giàu cũng vì dế.
Qua nhân vật Thành, Bồ Tùng Linh vừa bày tỏ niềm thương cảm với người lương thiện, vừa lên án một xã hội mà ở đó giá trị con người bị đặt thấp hơn một món đồ chơi của vua chúa. Nhân vật ít lời, ít hành động lớn, nhưng để lại trong lòng người đọc một nỗi day dứt lâu dài.
Phân tích truyện Dế chọi – mẫu 4 (yếu tố kì ảo và hiện thực)
Đặc trưng của truyện truyền kì là sự đan cài giữa cõi thực và cõi ảo. Ở Dế chọi, Bồ Tùng Linh sử dụng đặc trưng ấy rất tinh tế: phần hiện thực làm nên sức nặng tố cáo, còn phần kì ảo vừa tạo sức hấp dẫn, vừa làm cho hiện thực thêm nhức nhối.
Trước hết, cái nền của truyện hoàn toàn là hiện thực. Bối cảnh được ghi rõ: đời Tuyên Đức nhà Minh, huyện Hoa Âm, tỉnh Thiểm Tây. Tục lệ dâng dế cho vua, việc quan huyện muốn lấy lòng cấp trên, bọn lí dịch mượn lệ để vơ vét, những gia đình tán gia bại sản… đều là những điều có thể xảy ra trong bất kì triều đại phong kiến nào. Số phận Thành – học trò nghèo bị ép làm lí chính, bị đánh trăm trượng, gia sản kiệt quệ – cũng là số phận chung của nhiều người dân lương thiện. Những chi tiết đời thường như căn nhà tranh không khói lửa, vợ chồng lặng lẽ nhìn nhau, đứa trẻ sợ bố mắng đến mức bỏ đi, khiến câu chuyện gần gũi, chân thực.
Trên nền hiện thực ấy, các chi tiết kì ảo lần lượt xuất hiện. Bà đồng gù lưng ném ra bức vẽ chỉ đúng chỗ có dế; con ếch nhảy ra như dẫn đường cho Thành; đứa trẻ chết đuối được cứu sống nhưng như mất hồn; con dế nhỏ màu tía thắng cả con gà, vào cung thì múa theo tiếng đàn; cuối cùng đứa con tỉnh lại kể mình đã hóa thành dế. Những chi tiết này được kể bằng giọng bình thản như kể chuyện thật, khiến người đọc chấp nhận chúng một cách tự nhiên.
Điều đáng nói là yếu tố kì ảo không làm câu chuyện thoát li đời sống mà trái lại, càng soi rõ hiện thực. Thứ nhất, kì ảo là lối thoát duy nhất của người lương thiện: con đường bình thường đã đóng kín, Thành chỉ có thể được cứu nhờ bói toán và phép lạ. Điều đó ngầm nói rằng trong xã hội ấy, người dân không thể tự cứu mình bằng sức lao động và đức độ. Thứ hai, chi tiết hồn đứa trẻ hóa dế là đỉnh điểm của sự tố cáo: để gia đình thoát nạn, một đứa bé phải lìa bỏ thân xác, biến thành món đồ chơi cho vua chúa. Hiện thực được đẩy đến tận cùng phi lí nhờ một chi tiết hoang đường. Thứ ba, những phép lạ của con dế – thắng gà, múa theo nhạc – làm cho niềm vui của nhà vua càng lớn, và vì thế sự thăng thưởng dây chuyền từ tuần phủ, tri huyện xuống Thành càng lố bịch.
Ngoài ra, yếu tố kì ảo còn góp phần thể hiện tinh thần nhân đạo. Việc đứa trẻ cuối cùng được tỉnh lại, gia đình Thành được bù đắp là mong ước công bằng của tác giả dành cho người tốt. Nhưng niềm an ủi ấy vẫn mang vị đắng, bởi nó đến từ ý thích thất thường của nhà vua chứ không phải từ lẽ phải.
Như vậy, trong Dế chọi, kì ảo và hiện thực không tách rời mà nâng đỡ nhau. Hiện thực làm nền cho kì ảo trở nên đáng tin; kì ảo làm cho hiện thực bộc lộ bản chất. Đó cũng là bí quyết làm nên sức sống của Liêu Trai chí dị suốt hơn ba thế kỉ.
Phân tích truyện Dế chọi – mẫu 5 (học sinh giỏi)
Người ta thường nói văn chương lớn không cần những sự kiện lớn. Để viết về sự mục nát của cả một bộ máy cai trị, Bồ Tùng Linh không kể chuyện triều chính hay chiến tranh, ông chỉ kể chuyện một con dế. Chính từ vật nhỏ bé ấy, Dế chọi mở ra một cái nhìn sắc lạnh về quyền lực và một nỗi xót thương sâu thẳm dành cho con người.
Nhìn vào cấu trúc truyện, có thể thấy tác giả tổ chức câu chuyện theo hình một chiếc vòng tròn. Điểm khởi đầu là ý thích của nhà vua ở trên cao; lệnh ấy đi xuống qua quan tỉnh, quan huyện, lí dịch rồi rơi vào gia đình Thành. Ở điểm thấp nhất của vòng tròn là bi kịch: người cha bị đánh, đứa con gặp nạn, con dế chết. Sau đó con dế kì lạ lại đi ngược lên, qua tri huyện, tuần phủ, vào cung; ân thưởng của vua lại chảy xuống theo đúng con đường ấy. Vòng tròn khép lại, mọi cấp bậc đều được lợi, chỉ có một thứ đã mất vĩnh viễn: tuổi thơ và linh hồn của đứa trẻ trong hơn một năm hóa kiếp làm dế. Cấu trúc này cho thấy tác giả không chỉ phê phán một cá nhân mà phê phán cả một cơ chế, nơi quyền lực vận hành theo sở thích của người đứng đầu và sự xu nịnh của kẻ bề dưới.
Trong cơ chế ấy, con người bị “vật hóa”, còn con vật lại được “nhân hóa”. Thành bị coi như công cụ để thu dế; bị đánh trăm trượng, anh không được xem là con người có nỗi đau. Đứa con chín tuổi phải hóa thân thành con dế mới có giá trị trong mắt quan trên. Ngược lại, con dế được đựng trong lồng vàng, được dâng sớ tâu rõ cái hay, được vua yêu thích. Sự đảo ngược giá trị ấy là tiếng cười chua chát nhất của truyện. Khi Thành nhìn chiếc lồng rỗng mà không còn nghĩ tới đứa con vừa được cứu sống, người đọc hiểu rằng sự vật hóa đã thấm đến cả tình cảm gia đình – nỗi sợ hãi trước cường quyền khiến người cha đặt con dế lên trên con mình.
Đặc sắc của Bồ Tùng Linh là để yếu tố kì ảo gánh vác ý nghĩa hiện thực. Chi tiết hồn đứa trẻ hóa dế có thể đọc theo hai tầng. Ở tầng bề mặt, đó là phép lạ cứu gia đình, thể hiện ước mơ công bằng của nhân dân. Ở tầng sâu, đó là một ẩn dụ rùng rợn: đứa trẻ – biểu tượng của sự hồn nhiên, của tương lai – bị buộc phải trở thành món đồ chơi để làm vui lòng vua chúa. Không có lời kết tội nào mạnh hơn hình ảnh một linh hồn trẻ thơ nhảy múa theo tiếng đàn trong cung cấm. Nhờ vậy, cái kết tưởng như có hậu mang dư vị bi thương: cả nhà giàu sang, nhưng sự giàu sang ấy được xây trên nỗi đau không lời.
Nghệ thuật kể chuyện cũng góp phần lớn vào sức thuyết phục của truyện. Người kể giữ giọng điềm tĩnh, ít can thiệp, song thỉnh thoảng lại nhập vào điểm nhìn của Thành, như đoạn “Thành giở đi giở lại” bức vẽ, để người đọc cùng hồi hộp với nhân vật. Nhịp truyện liên tục đảo chiều: tuyệt vọng – hi vọng – tai họa – phép lạ – vinh hiển, khiến người đọc không thể rời mắt. Các chi tiết được chọn lọc kĩ: con ếch dẫn đường, con gà bị dế cắn mào, tiếng dế gáy ngoài cửa buổi sớm… vừa sinh động vừa giàu hàm ý.
Cuối truyện, lời bàn của Dị Sử thị như một nét bút chốt lại toàn bộ tác phẩm. Câu “Họ Thành vì sâu mọt mà nghèo, nhờ dế chọi mà giàu” đặt hai vế đối xứng để phơi bày sự phi lí: cùng một nguyên nhân mà dẫn đến hai kết quả trái ngược, và cả hai đều không do con người quyết định. Việc tác giả nhắc đến cảnh quan trên cũng được hưởng phúc nhờ con dế, rồi dẫn câu ngạn ngữ về chuyện một người đắc đạo cả nhà cùng hưởng, là cách mỉa mai kín đáo mà thâm thúy thói ăn theo, bám víu của quan trường.
Đặt Dế chọi bên cạnh Chuyện người con gái Nam Xương cùng bài học, ta thấy truyện truyền kì phương Đông có một điểm chung: yếu tố kì ảo không nhằm dẫn người đọc trốn khỏi cuộc đời, mà để nói về cuộc đời một cách thấm thía hơn. Vũ Nương phải về thủy cung mới giải được oan; đứa con của Thành phải hóa dế mới cứu được gia đình. Hai số phận, hai nền văn học, cùng một tiếng nói nhân đạo.
Ba thế kỉ đã trôi qua, lệ nộp dế không còn, nhưng câu hỏi mà Bồ Tùng Linh đặt ra vẫn còn nguyên giá trị: khi quyền lực chỉ phục vụ thú vui của số ít, con người sẽ bị đẩy xuống thấp đến mức nào? Dế chọi trả lời bằng một con dế, và chính vì thế, câu trả lời càng khó quên.
Kết luận
Khi phân tích Dế chọi, em nên bám vào ba trục: bối cảnh và cơ chế quan lại gây ra bi kịch; số phận nhân vật Thành và đứa con; vai trò của yếu tố kì ảo cùng lời bàn cuối truyện. Tùy yêu cầu đề, em có thể chọn mẫu ngắn gọn để luyện đoạn văn hoặc mẫu học sinh giỏi để tham khảo cách lập luận.
Xem thêm:
- Soạn bài Dế chọi (Bồ Tùng Linh) – Ngữ văn 9
- Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương
- Phân tích các yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương
- Phân tích bài thơ Sơn Tinh – Thủy Tinh (Nguyễn Nhược Pháp)