Soạn bài Ngôi mộ cổ (Phạm Cao Củng) giúp em trả lời câu hỏi chuẩn bị đọc, câu hỏi trong khi đọc và 5 câu hỏi Suy ngẫm và phản hồi ở Bài 7 (Hành trình khám phá sự thật), sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập 2 (trang 40 – 43). Lời giải tập trung vào cách thám tử Kỳ Phát giải mã bài thơ, đặc điểm nhân vật thám tử, lời kể và ngôi kể.
Chuẩn bị đọc truyện Ngôi mộ cổ
Trước khi đọc đoạn trích, em đọc kĩ phần tóm tắt truyện Kho tàng họ Đặng in ở đầu văn bản: bốn chiếc đĩa cổ, những câu thơ Nôm khắc dưới đáy đĩa và cuộc tranh giành giữa các ngành con cháu họ Đặng.

Câu 1: Dự đoán nội dung đoạn trích (trang 40)
Dựa vào phần tóm tắt truyện, hãy dự đoán nội dung của đoạn trích.
Trả lời:
Phần tóm tắt cho biết Kỳ Phát đã có đủ bốn chiếc đĩa và ghép được bài thơ chỉ đường tới kho báu. Vì vậy, em dự đoán đoạn trích sẽ kể chặng cuối của cuộc phiêu lưu: Kỳ Phát cùng anh em họ Đặng đến khu mộ tổ, giải nghĩa từng câu thơ để tìm vị trí kho báu; có thể Bá Vy, người đang giữ bí mật hoặc muốn chiếm kho báu, sẽ xuất hiện gây nguy hiểm.
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu hỏi trong khi đọc giúp em chú ý hành động khác thường của nhân vật thám tử.
Câu 1: Dụng ý của Kỳ Phát khi đọc to bài thơ (trang 41)
Dụng ý của Kỳ Phát khi đọc to bài thơ này là gì?
Trả lời:
Bề ngoài, Kỳ Phát làm như ngẫu hứng: uống rượu ngắm trăng thì phải có thơ. Thực chất, chàng đọc to để:
- Nhắc lại cho ba anh em họ Đặng toàn bộ lời chỉ dẫn, chuẩn bị cho việc giải mã ngay tại hiện trường; đúng mười hai giờ là lúc trăng ở vị trí cần thiết.
- Gợi mở để mọi người cùng suy nghĩ, như Liên Ty lập tức nhận ra “Văn Lý” là bãi bể Văn Lý.
- Tạo không khí thoải mái, bớt căng thẳng trước một cuộc tìm kiếm nguy hiểm.
Suy ngẫm và phản hồi (trang 43)
Năm câu hỏi sau khi đọc giúp em khái quát nội dung và nhận ra đặc trưng của truyện trinh thám.
Câu 1: Nội dung bao quát của văn bản
Đọc phần tóm tắt tác phẩm Kho tàng họ Đặng và nêu nội dung bao quát của văn bản Ngôi mộ cổ.
Trả lời:
Văn bản kể lại chặng cuối trong hành trình tìm kho báu: đêm trăng ở khu mộ họ Đặng tại Văn Lý, thám tử Kỳ Phát giải mã bài thơ bát cú ghép từ bốn chiếc đĩa cổ, tìm ra lối vào đường hầm; trong hầm, Bá Vy bị chính phát súng của mình làm sập hầm mà chết; Kỳ Phát đưa mọi người cùng kho báu trở về an toàn.
Câu 2: Chi tiết giúp Kỳ Phát phán đoán hướng tìm kho báu
Chi tiết nào trong văn bản Ngôi mộ cổ có tác dụng giúp Kỳ Phát phán đoán hướng tìm kho báu?
Trả lời:
Đó là các câu thơ trong bài thơ bát cú ghép từ bốn chiếc đĩa cổ. Kỳ Phát đối chiếu từng câu với cảnh thật:
- “Đến Văn Lý”: địa điểm là bãi bể Văn Lý, nơi có khu mộ họ Đặng.
- “Bẩy bước nên thơ đứng ngắm cây”: đứng cách gốc cây bảy bước mà nhìn lên (chàng liên tưởng điển tích Tào Tử Kiến làm thơ trong bảy bước).
- “Nguyệt lão giấu mình xoay tả hữu”: đúng nửa đêm, chỗ mặt trăng khuất sau thân cây có hai cành đâm ra hai bên.
- “Công hầu mở mặt chạy đông tây”: hai cành ấy là cành phía đông và cành phía tây; chàng thả chùm chìa khóa từ đầu mỗi cành để đánh dấu hai điểm dưới đất.
- Các câu tiếp theo chỉ số bước về phía đông, “một trăm giây” về phía tây (tính bằng đồng hồ), căng một sợi dây thẳng rồi đo khoảng cách để tìm ra miệng hầm.
Ngoài ra, chi tiết người Âu Mác-cô Pô-lô từng bày cách giấu của cho ông tổ họ Đặng giúp Kỳ Phát hiểu chữ “giây” là đơn vị đo thời gian chứ không phải sợi dây.
Câu 3: Kỳ Phát mang đặc điểm của nhân vật trinh thám
Nhân vật Kỳ Phát thể hiện những đặc điểm nào của nhân vật trong truyện trinh thám? Lấy dẫn chứng từ văn bản để làm rõ ý kiến của em.
Trả lời:
| Đặc điểm | Dẫn chứng |
|---|---|
| Thông minh, suy luận chặt chẽ | Giải nghĩa lần lượt từng câu thơ, nối các dữ kiện (trăng, cây, cành, hướng, số bước) thành lộ trình tới kho báu. |
| Hiểu biết rộng | Biết điển tích Tào Tử Kiến bảy bước thành thơ; biết chuyện Mác-cô Pô-lô và cách người Âu đo bằng thời gian. |
| Quan sát tinh tường, chuẩn bị chu đáo | Luôn xem đồng hồ chờ đúng mười hai giờ; mang sẵn chùm chìa khóa, sợi dây, thước cuộn; chỉ cho mọi người chỗ trăng khuất sau thân cây. |
| Nhanh nhẹn, dũng cảm, quyết đoán | Leo cây thoăn thoắt; mạnh bạo xuống hầm trước; nhận ra dấu chân của bọn Bá Vy mà vẫn trấn an mọi người. |
| Bình tĩnh, hóm hỉnh | Biến việc tìm kho báu thành buổi uống rượu ngâm thơ, đùa vui với ba anh em họ Đặng. |
Câu 4: Lời người kể chuyện, lời nhân vật và việc đọc to bài thơ
Đọc đoạn thuật lại đối thoại giữa Kỳ Phát với ba anh em nhà họ Đặng về bí mật của bốn chiếc đĩa cổ và thực hiện các yêu cầu: a. Nêu ví dụ về lời người kể chuyện, lời nhân vật và cho biết vì sao tác giả cần dùng cả hai loại lời; b. Cho biết tác dụng của việc Kỳ Phát đọc to bài thơ thất ngôn bát cú.
Trả lời:
a.
- Lời người kể chuyện: những câu thuật lại việc Kỳ Phát bỗng lên tiếng, hắng giọng ngâm bài thơ, đứng dậy bước bảy bước, chạy lại gốc cây cởi áo rồi leo lên, Liên Ty đếm bước về phía đông.
- Lời nhân vật: Kỳ Phát đề nghị đọc thơ cho vui, đùa “Mà có cả chị Nguyệt và cây nữa!”, hỏi mọi người đứng ngắm cây có thấy gì không; Liên Ty nhận xét mặt trăng bị lấp sau thân cây; Liên Ty băn khoăn “một trăm giây” là gì.
- Vì sao cần cả hai: lời người kể giúp người đọc hình dung hành động, không gian, trình tự sự việc; lời nhân vật thể hiện trực tiếp suy nghĩ, cách suy luận và tính cách (Kỳ Phát tự tin, hóm hỉnh; Liên Ty chăm chú, còn lúng túng). Sự phối hợp làm câu chuyện vừa mạch lạc vừa sinh động, như đang diễn ra trước mắt.
b. Việc đọc to bài thơ giúp cung cấp cho người đọc và các nhân vật toàn bộ lời chỉ dẫn, đặt ra câu đố để cả truyện xoay quanh; tạo không khí vừa thơ mộng vừa bí ẩn; đồng thời cho thấy sự chủ động, tự tin và óc tổ chức của Kỳ Phát.
Câu 5: Ngôi kể và ưu thế so với Chiếc mũ miện dát đá be-rô
Xác định ngôi kể trong văn bản. Cho biết việc sử dụng ngôi kể đó có ưu thế gì so với ngôi kể khác (có thể so sánh với văn bản Chiếc mũ miện dát đá be-rô).
Trả lời:
- Ngôi mộ cổ được kể theo ngôi thứ ba, người kể giấu mình.
- Ưu thế: người kể có thể quan sát cùng lúc nhiều nhân vật (Kỳ Phát trên cây, Liên Ty dưới đất), kể linh hoạt về không gian, thời gian; miêu tả hành động của thám tử một cách khách quan, khiến người đọc như tận mắt chứng kiến quá trình giải mã.
- So sánh: Chiếc mũ miện dát đá be-rô kể theo ngôi thứ nhất qua lời Oát-sân, một nhân chứng. Ngôi kể ấy chân thực, giữ bí mật tốt vì Oát-sân không biết trước lời giải, nhưng bị giới hạn trong những gì ông thấy và nghe. Ngôi thứ ba trong Ngôi mộ cổ bao quát hơn, có thể chuyển nhanh từ cảnh này sang cảnh khác, phù hợp với một cuộc phiêu lưu có nhiều hành động.
Kết luận
Soạn bài Ngôi mộ cổ, em cần nắm nội dung bao quát, cách Kỳ Phát giải mã từng câu thơ, những đặc điểm của nhân vật thám tử, tác dụng của việc kết hợp lời kể với lời nhân vật và ưu thế của ngôi kể thứ ba. So sánh với Chiếc mũ miện dát đá be-rô sẽ giúp em thấy rõ sự đa dạng của truyện trinh thám.
Xem thêm:
- Ngôi mộ cổ (Phạm Cao Củng): tác giả, tác phẩm, bố cục
- Chiếc mũ miện dát đá be-rô: tác giả, tác phẩm
- Mục lục soạn văn 9 Chân trời sáng tạo