“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”: chỉ một câu lục bát mà nhiều thế hệ người Việt thuộc lòng, dù không nhớ đã học ở đâu. Nguyễn Bính (1918 – 1966), tên khai sinh Nguyễn Trọng Bính, là nhà thơ của Tương tư, Chân quê, Lỡ bước sang ngang, gương mặt “quê mùa” nhất của phong trào Thơ mới, người mười năm sống ở Nam Bộ kháng chiến và mất đúng chiều 29 Tết năm Ất Tỵ.
Đứa trẻ mồ côi mẹ ở làng Thiện Vịnh

| Tên khai sinh | Nguyễn Trọng Bính |
| Năm sinh – năm mất | 1918 (Thi nhân Việt Nam ghi 1919) – 20/1/1966, tức 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ |
| Quê quán | Làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (sau là Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; nay thuộc tỉnh Ninh Bình |
| Thể loại | Thơ (chủ yếu lục bát), truyện thơ, kịch thơ, chèo, văn xuôi |
| Tác phẩm tiêu biểu | Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Mười hai bến nước (1942), Gửi người vợ miền Nam (1955), Đêm sao sáng (1962) |
| Giải thưởng | Giải khuyến khích thơ Tự Lực văn đoàn (1937); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, đợt II, 2000) |
| Trong SGK | Mưa xuân (Ngữ văn 9 KNTT), Mưa xuân II (Ngữ văn 8 CTST), Chân quê (Ngữ văn 11 CTST), Xuân về (Ngữ văn 10 CTST) |
Mẹ ông mất khi ông mới khoảng ba tháng tuổi; cha là một nhà Nho nghèo. Một số tài liệu ghi ông “mồ côi cha mẹ từ sớm” và “năm 10 tuổi theo anh lên Hà Nội kiếm sống”; theo Văn nghệ Ninh Bình và Wikipedia thì ông chỉ mồ côi mẹ, còn chuyện lên Hà Nội năm mười tuổi thì chúng tôi chưa thấy nguồn nào ghi. Ông không đi học trường, chỉ học chữ ở nhà với cha và cậu. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam và Bảo tàng Văn học Việt Nam cùng ghi ông làm thơ từ năm 13 tuổi. Người anh cả, nhà văn Trúc Đường, là người dìu dắt ông vào văn chương.
Tâm hồn tôi và giải khuyến khích năm 1937
Giữa thập niên 1930, ông theo Trúc Đường ra Hà Nội, chơi thân với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, rồi Tô Hoài, Vũ Hoàng Chương (theo loạt bài “Nguyễn Bính – thi sĩ giang hồ” của Trần Đình Thu). Năm 1937, tập bản thảo Tâm hồn tôi được giải khuyến khích trong cuộc thi thơ của Tự Lực văn đoàn; dữ kiện này có trong chính lời giới thiệu của Hoài Thanh và được Bảo tàng Văn học, báo Đại Đoàn Kết nhắc lại. Phải đến năm 1940 tập thơ mới được in, cùng năm với Lỡ bước sang ngang.
Từ 1940 đến 1942, các tập thơ của ông ra liên tiếp: Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước, Mây Tần (1942). Bảo tàng Văn học và Báo Văn hóa cùng tính tổng cộng ông để lại 14 tập thơ, chưa kể truyện thơ, kịch thơ, chèo và văn xuôi.
Chân quê, Tương tư và lục bát của người nhà quê
Chân quê viết năm 1936: cô gái đi tỉnh về, khăn nhung quần lĩnh, áo cài khuy bấm, và chàng trai chỉ mong em giữ nguyên “quê mùa”. Bài thơ thành tuyên ngôn của cả hồn thơ ông, đến mức “nhà thơ chân quê” là cách người ta gọi ông nhiều nhất. Bảo tàng Văn học kể năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đọc bài này tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc.
Tương tư, in trong Lỡ bước sang ngang, mở đầu bằng hai câu mà ai cũng nhớ:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Lục bát của ông gần ca dao tới mức có những câu người ta tưởng của dân gian. Nhà thơ Nguyễn Duy, trong bài “Nguyễn Bính trong tôi” in ở Nguyễn Bính toàn tập, gọi đó là thứ thi pháp “trời cho”, tự nhiên như hơi thở. Phân tích kỹ hơn về giọng thơ này có ở bài phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính.
Hoài Thanh và “người nhà quê” trong mỗi chúng ta
Chương viết về Nguyễn Bính trong Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh ghi tháng 8 năm 1941) là một trong những đoạn được dẫn nhiều nhất của cuốn sách. Ở tiểu luận mở đầu sách, chữ dành cho ông là “quê mùa”, đứng cạnh “rộng mở” của Thế Lữ và “ảo não” của Huy Cận. Trong chương riêng, Hoài Thanh trách những người chê thơ ông mà bỏ sót điều quý nhất, cái mà ông gọi là “hồn xưa của đất nước”, rồi viết:
Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta.
Hoài Thanh cũng không khen hết. Ông thấy khó chịu khi giữa những câu giống hệt ca dao, Nguyễn Bính chen vào đôi chữ quá mới, ví như bước vào ngôi chùa mà thấy đèn điện trên bàn thờ. Lời khen chê ấy, sau hơn tám mươi năm, vẫn là chỗ người đọc bắt đầu khi tìm hiểu thơ ông.
Trên mạng, ông thường được giới thiệu là người “được mệnh danh là Thi sĩ của tình quê”, có nơi còn dẫn kèm một câu gán cho “Hoài Thành” về “thơ Nguyễn Duy”. Chưa tìm thấy xuất xứ của cụm “thi sĩ của tình quê”; Bảo tàng Văn học dùng chữ “thi sĩ của làng quê”, còn báo chí quen gọi ông là “nhà thơ chân quê”. Câu kia thực ra là nhận xét “hồn xưa của đất nước” của Hoài Thanh về Nguyễn Bính, bị chép sai cả tên người lẫn tên nhà thơ.
Mười năm phương Nam: Rạch Giá, Khu Tám và Gửi người vợ miền Nam
Đầu thập niên 1940, ông đi Huế, rồi vào Sài Gòn. Năm ông vào Nam các nguồn ghi khác nhau, 1943 (Wikipedia, phần tiểu sử trong SGK) hoặc 1945 (Bảo tàng Văn học). Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông ở lại Nam Bộ, làm việc ở Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Giá, có thời là Phó chủ nhiệm Việt Minh tỉnh, rồi về cơ quan văn nghệ Khu Tám. Những năm này ông viết thơ kháng chiến như Ông lão mài gươm (1947).
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Nỗi nhớ miền Nam và người ở lại đọng trong tập Gửi người vợ miền Nam (1955), về sau nằm trong cụm tác phẩm được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000 cùng Lỡ bước sang ngang, Đêm sao sáng, Nước giếng thơi (TTXVN, Bảo tàng Văn học). Con gái ông, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, là người sưu tầm, biên soạn bộ Nguyễn Bính toàn tập.
Báo Trăm hoa và những năm ở Nam Định
Năm 1956, ông chủ trương tờ Trăm hoa, một tờ báo tư nhân do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, thay người anh Trúc Đường. Báo ra được ít lâu thì đình bản. Khoảng năm 1958, ông về Nam Định, làm ở phòng sáng tác của Ty Văn hóa (sau là Ty Văn hóa Nam Hà). Thơ ông những năm này hiền hơn, mộc hơn: Tiếng trống đêm xuân (1958), Đêm sao sáng (1962), cùng mấy vở chèo như Cô Son. Bài Mưa xuân (II) mà học sinh lớp 8 học hiện nay cũng viết năm 1958.
Chiều 29 Tết Ất Tỵ ở Lý Nhân
Cuối năm 1965, ông đã yếu, từng thổ huyết. Theo lời nhà văn Vũ Bão (báo Nông nghiệp và Môi trường, Wikipedia cùng dẫn), những ngày giáp Tết ông đạp xe về nhà một người bạn yêu thơ là lương y Đỗ Văn Hứa (bút hiệu Tân Thanh) ở thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, Hà Nam, nơi gần chỗ Ty Văn hóa Nam Hà sơ tán. Chiều 29 tháng Chạp, ngày cuối cùng của năm Ất Tỵ (20/1/1966), ông gục xuống sau bữa cơm và mất trước giao thừa. Văn nghệ Ninh Bình ghi ngày 21/1, nhưng đó đã là mồng Một Tết Bính Ngọ.
Ba mươi tư năm sau, năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Một số trang ghi đó là “Giải thưởng Nhà nước” hoặc năm 2001; quyết định thực tế ký ngày 1/9/2000. Năm 2018, nhân 100 năm ngày sinh, bưu điện phát hành tem kỷ niệm Nguyễn Bính.
Mưa xuân, Chân quê, Xuân về: thơ Nguyễn Bính trong sách giáo khoa mới
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Mưa xuân (“Em là con gái trong khung cửi”, 1936) | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 7 (Hồn thơ muôn điệu); Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 – Bài 4 (tự đánh giá) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Mưa xuân (II) (1958) | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 2, đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Chân quê | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 4, đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Xuân về | Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8, đọc mở rộng | Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Tương tư | Ngữ văn 11 (chương trình 2006), tập 2, đọc thêm | Soạn bài · Phân tích, cảm nhận |
Hai bài cùng tên Mưa xuân rất dễ nhầm: bài ở sách lớp 9 là bài viết năm 1936 về cô gái dệt cửi đêm hội chèo, còn bài lớp 8 là Mưa xuân (II) viết năm 1958. Ngoài các bài trong sách, có thể đọc thêm Người hàng xóm, Ghen và nhiều bài khác trong tuyển tập thơ Nguyễn Bính.
Xem thêm: