Soạn bài Vụ cải trang bất thành (trích Sơ-lốc Hôm của A-thơ Cô-nan Đoi-lơ) giúp em chuẩn bị bài và trả lời đầy đủ các câu hỏi trong khi đọc cùng 6 câu hỏi cuối bài ở Bài 6, sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập 2 (trang 10 – 17). Lời giải bám vào văn bản trong sách, chú trọng tình huống vụ án, các manh mối và cách thám tử Hôm lần ra sự thật.
Chuẩn bị đọc truyện trinh thám Vụ cải trang bất thành
Trước khi đọc, em xem lại phần Kiến thức ngữ văn về truyện trinh thám: tình huống làm nảy sinh vụ án, nhân vật thám tử, các chi tiết bước ngoặt, ngôi kể và điểm nhìn. Sau đó đọc trọn văn bản, chú ý cả đoạn tóm lược in nghiêng ở đầu.

Câu 1: Nhan đề gợi cho em điều gì? (trang 10 – 11)
Nhan đề của văn bản gợi cho em nghĩ đến điều gì? Tìm hiểu thêm về nhà văn Cô-nan Đoi-lơ và bộ truyện Sơ-lốc Hôm.
Trả lời:
Về nhan đề: “Cải trang” là đổi hình dạng, trang phục để người khác không nhận ra mình; “bất thành” là không thành công. Nhan đề vì thế gợi ra một vụ việc có kẻ giả làm người khác nhằm che giấu một mưu đồ, nhưng cuối cùng bị phát hiện. Đọc nhan đề, em đoán thám tử Hôm sẽ vạch mặt một kẻ giả danh.
Về tác giả và tác phẩm:
- A-thơ Cô-nan Đoi-lơ (1859 – 1930) là nhà văn Xcốt-len, vốn học và hành nghề y trước khi trở thành nhà văn.
- Năm 1887, ông cho ra đời nhân vật thám tử Sơ-lốc Hôm cùng người bạn là bác sĩ Oát-xơn trong tiểu thuyết Cuộc điều tra màu đỏ. Sau đó, Hôm xuất hiện trong 56 truyện ngắn và 4 tiểu thuyết.
- Sơ-lốc Hôm nổi tiếng với tài quan sát chi tiết nhỏ, suy luận logic và hiểu biết rộng về khoa học. Bộ truyện được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và trở thành hình mẫu của truyện trinh thám.
Đọc hiểu: trả lời câu hỏi trong khi đọc Vụ cải trang bất thành
Các câu hỏi bên lề giúp em theo dõi mạch điều tra. Hãy trả lời ngắn, dựa sát vào từng đoạn.
Câu 1: Kĩ năng của thám tử Hôm thể hiện qua lời nói (trang 12)
Những kĩ năng nào của thám tử Hôm đã được thể hiện gián tiếp qua lời nói của chính nhân vật này?
Trả lời:
Khi trò chuyện với Oát-xơn, Hôm trách bạn chưa biết “nơi cần quan sát” và đã bỏ qua tay áo, móng tay cái, dây giày của cô gái. Lời nói ấy cho thấy ông có:
- Kĩ năng quan sát tỉ mỉ, biết chọn đúng chi tiết đáng chú ý.
- Kĩ năng ghi nhớ và đối chiếu: ông so vụ này với những trường hợp tương tự trong án tập mình sưu tầm.
- Kĩ năng phân tích, suy luận để rút ra kết luận về con người từ những dấu vết nhỏ.
Câu 2: Điều Hôm phát hiện ở Me-ri (trang 12)
Bằng quan sát, Hôm đã phát hiện ra điều gì đáng chú ý ở Me-ri?
Trả lời:
Hôm thấy găng tay phải của Me-ri thủng ở ngón trỏ, mực tím còn vương trên cả hai chiếc găng lẫn đầu ngón tay. Từ đó ông suy ra cô đã viết vội một điều gì đó sau khi đã mặc chỉnh tề để ra khỏi nhà, có lẽ ngay sáng hôm ấy, vì vết mực còn rất mới.
Câu 3: Điều bất thường trong mẩu thông báo (trang 13)
Hôm đã nhận ra điều gì bất thường trong mẩu thông báo?
Trả lời:
Bản thân mẩu tin tìm người rất chung chung, không chỉ ra được manh mối nào. Điều bất thường nằm ở những lá thư của Ên-giô: không những nội dung mà cả chữ kí cũng được đánh máy, chỉ có tên “Hót-mơ Ên-giô” ở cuối trang; thư có ghi ngày nhưng không ghi số nhà, chỉ nhắc chung chung tới phố Li-đân-hôn. Một người đang yêu mà không chịu kí tay, không để lại chỗ ở là điều đáng ngờ. Hôm coi chi tiết chữ kí này là yếu tố quyết định.
Câu 4: Chi tiết chiếc máy chữ giải thích việc làm nào của Hôm (trang 14)
Chi tiết về chiếc máy chữ đã giải thích việc làm nào của thám tử Hôm ở phần 1?
Trả lời:
Nó giải thích vì sao ở phần 1, Hôm viết thư gửi cha dượng của Me-ri, mời ông ta đến gặp lúc sáu giờ tối hôm sau. Ông cần có trong tay một lá thư đánh máy của chính ông Uyn-đi-banh để so với những lá thư của “Ên-giô”. Quả nhiên, lá hồi âm của hắn mang đúng những vết nhòe, vết hụt đặc trưng của chiếc máy chữ đã đánh các lá thư kia.
Câu 5: Gã đàn ông mà Hôm nhắc đến là ai? (trang 15)
Gã đàn ông mà Hôm nhắc đến ở đây là ai?
Trả lời:
Đó chính là ông Giêm Uyn-đi-banh, cha dượng của Me-ri. Hôm cố ý kể về hắn ở ngôi thứ ba, như kể chuyện một người xa lạ, ngay trước mặt hắn.
Câu 6: Quỷ kế bị Hôm vạch trần (trang 15)
Hôm đã vạch trần quỷ kế nào của gã đàn ông?
Trả lời:
Hắn cưới một góa phụ lớn tuổi hơn mình để hưởng tài sản, lại muốn giữ luôn khoản lãi từ tiền thừa kế của cô con riêng. Sợ Me-ri lấy chồng thì mất khoản thu một trăm bảng mỗi năm, hắn được vợ tiếp tay, lại biết cô gái bị cận rất nặng, nên cải trang thành Hót-mơ Ên-giô: đeo kính màu che mắt, gắn râu tóc giả, nói giọng thì thầm. Bằng cách đóng vai người yêu, hắn gạt đi mọi chàng trai khác đến với Me-ri.
Câu 7: Những thủ đoạn tiếp theo của Uyn-đi-banh (trang 16)
Hôm đã tiếp tục chỉ ra những thủ đoạn nào của Uyn-đi-banh?
Trả lời:
- Bịa ra những chuyến công cán sang Pháp để có cớ vắng nhà khi “Ên-giô” xuất hiện.
- Bắt Me-ri đặt tay lên Kinh Thánh thề chung thủy với Ên-giô dù có biến cố gì, để cô bị ràng buộc bởi lời hứa hôn.
- Đưa hai mẹ con tới nhà thờ rồi lẻn ra bằng cửa bên kia của cỗ xe, để cô gái tin vị hôn phu gặp chuyện chẳng lành mà chờ đợi anh ta, ở vậy thêm chừng mười năm.
Câu 8: Câu văn cho thấy thái độ của Hôm với kẻ xấu (trang 16)
Chú ý những câu văn cho thấy rõ thái độ của Hôm đối với kẻ xấu.
Trả lời:
Thái độ khinh bỉ, căm ghét của Hôm thể hiện ở nhiều chỗ:
- Ông gọi hành động của hắn là “độc ác, ích kỉ và vô lương tâm”.
- Khi mở cửa, ông khẳng định không có ai đáng bị trừng phạt hơn hắn, và nếu Me-ri có anh trai hay bạn trai thì hắn đã chẳng yên thân.
- Khi hắn đã chạy mất, Hôm còn rủa: “Đồ vô lại!” và đoán rằng rồi sẽ có ngày kẻ này phải trả giá trước pháp luật vì những tội ác lớn hơn.
Trả lời câu hỏi cuối bài Vụ cải trang bất thành (trang 17)
Sáu câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em khái quát tình huống, manh mối, nhân vật, ngôi kể và vấn đề mà truyện đặt ra.
Câu 1: Tình huống nảy sinh vụ án
Dựa vào phần lược trích ở đầu văn bản, hãy xác định tình huống nảy sinh vụ án.
Trả lời:
Vụ án nảy sinh từ một đám cưới dang dở. Sáng ngày làm lễ, Ên-giô đến đón Me-ri và mẹ cô, mời hai người lên một xe ngựa còn mình lên một xe khác đỗ gần đó vì sợ chật. Khi xe tới nhà thờ, không thấy chàng bước xuống; người đánh xe quả quyết đã thấy khách bước vào xe. Chú rể biến mất không để lại tin tức, Me-ri phải tìm đến thám tử Hôm.
Câu 2: Chi tiết bước ngoặt để khám phá sự thật
Xác định những chi tiết quan trọng, có ý nghĩa bước ngoặt để khám phá ra sự thật trong câu chuyện được kể.
Trả lời:
- Những lá thư của Ên-giô đều đánh máy, cả chữ kí, không địa chỉ. Chi tiết này khiến Hôm nghi người viết sợ bị nhận ra nét chữ, tức là một người quen của Me-ri.
- Các chi tiết dung mạo trong mẩu tin: kính màu, ria râu rậm, giọng nói yếu ớt. Tất cả đều là thứ có thể dùng để che giấu khuôn mặt và giọng thật.
- Lá thư hồi âm đánh máy của ông Uyn-đi-banh: chữ e có vết nhòe, chữ r hụt đuôi cùng mười bốn đặc điểm khác, giống hệt thư của Ên-giô. Đây là bằng chứng then chốt chứng minh hai người là một.
- Phản ứng của vị khách: giật nảy mình, đánh rơi găng tay, rồi tái mặt khi bị khóa cửa, càng khẳng định suy luận của Hôm.
Câu 3: Nhân vật và nhân vật chính
Văn bản trên có những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính? Dựa vào đâu có thể xác định được điều đó?
Trả lời:
- Nhân vật xuất hiện trực tiếp: thám tử Hôm, bác sĩ Oát-xơn (người kể), ông Giêm Uyn-đi-banh. Nhân vật được nhắc đến: Me-ri Sơ-thơ-len, mẹ cô, “Hót-mơ Ên-giô”.
- Nhân vật chính là thám tử Hôm.
- Căn cứ: Hôm là người dẫn dắt toàn bộ quá trình điều tra, từ quan sát, đặt giả thuyết, tìm chứng cứ đến vạch trần thủ phạm; mọi sự kiện đều xoay quanh hành động và suy luận của ông; lời thoại của ông chiếm phần lớn văn bản. Đó cũng là đặc điểm của nhân vật chính trong truyện trinh thám.
Câu 4: Cách Hôm tìm ra chân tướng và năng lực của nhân vật
Trong văn bản, thám tử Hôm đã tìm ra chân tướng của vụ việc như thế nào? Qua đó, em thấy được những năng lực nào của nhân vật Hôm?
Trả lời:
Quá trình tìm ra sự thật:
- Nghe câu chuyện của Me-ri, quan sát cô gái và đọc kĩ mẩu tin tìm người.
- Nhận ra điểm bất thường ở những lá thư đánh máy, từ đó hình thành giả thuyết người yêu và người cha dượng có liên quan.
- Viết hai lá thư: một gửi công ty ở phố Li-đân-hôn, một mời ông Uyn-đi-banh đến, để có thư đánh máy của hắn.
- So sánh các đặc điểm của máy chữ, đưa chứng cứ ra trước mặt hắn, khóa cửa để hắn không thể chạy, rồi thuật lại toàn bộ mưu đồ.
Năng lực của Hôm: quan sát tinh tường; suy luận logic, đi từ chi tiết nhỏ đến kết luận lớn; hiểu biết chuyên sâu (ông từng nghiên cứu máy chữ và quan hệ của nó với tội phạm); bình tĩnh, chủ động dẫn dắt cuộc đối chất; hiểu tâm lí con người.
Câu 5: Người kể chuyện và tác dụng của ngôi kể
Người kể chuyện trong văn bản trên là ai? Theo em, sự lựa chọn ngôi kể đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung câu chuyện và thái độ của tác giả?
Trả lời:
- Người kể là bác sĩ Oát-xơn, xưng “tôi”, kể theo ngôi thứ nhất.
- Tác dụng với nội dung: Oát-xơn là người chứng kiến nhưng không biết trước lời giải, nên người đọc cũng chỉ biết những gì ông biết. Nhờ vậy bí ẩn được giữ đến phút chót, sự hồi hộp tăng dần và lời giải của Hôm càng bất ngờ. Những câu hỏi dồn dập của Oát-xơn tạo cơ hội để Hôm giải thích suy luận một cách tự nhiên.
- Tác dụng với thái độ: qua cái nhìn ngưỡng mộ của người bạn, tài năng của Hôm được tôn lên; những chi tiết miêu tả kẻ gian (mặt trắng nhợt, liếc ngang liếc dọc như chuột trong bẫy) thể hiện rõ thái độ khinh ghét của tác giả với cái xấu.
Câu 6: Vấn đề cuộc sống mà văn bản đặt ra
Văn bản Vụ cải trang bất thành đặt ra những vấn đề gì trong cuộc sống?
Trả lời:
- Lòng tham tiền bạc có thể khiến con người chà đạp lên tình thân, lừa dối cả người trong gia đình mình.
- Sự cả tin, thiếu hiểu biết dễ biến con người thành nạn nhân; mỗi người cần tỉnh táo trước những mối quan hệ có dấu hiệu bất thường.
- Có những hành vi pháp luật chưa xử lí được nhưng vẫn đáng bị xã hội lên án; đạo đức và lương tâm là thước đo không thể thiếu.
- Trí tuệ và lòng chính trực là vũ khí để bảo vệ người yếu thế, như cách Hôm đứng về phía cô gái bị lừa.
Kết luận
Soạn bài Vụ cải trang bất thành cần nắm được tình huống truyện, chuỗi manh mối từ chữ kí đánh máy đến đặc điểm của chiếc máy chữ, năng lực của thám tử Hôm và tác dụng của việc để Oát-xơn kể chuyện. Đó cũng là những đặc trưng cơ bản của truyện trinh thám mà em sẽ gặp lại ở các văn bản khác.
Xem thêm:
- Vụ cải trang bất thành: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương
- Mục lục soạn văn 9 Cánh diều