Chiều xuống, chú bò ra bờ sông, nhìn bóng mình dưới nước mà tưởng gặp người quen, cất tiếng chào “anh bạn”; bóng vỡ tan, chú cứ ngoái tìm và ậm ò gọi mãi. Phạm Hổ (1926 – 2007) là nhà thơ, nhà văn viết cho thiếu nhi, tác giả của chú bò lơ ngơ ấy trong bài Chú bò tìm bạn, của bộ truyện Chuyện hoa chuyện quả và những bài thơ bốn chữ như Đàn gà mới nở mà học sinh lớp 2 vẫn đọc. Ông được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I năm 2001.
Cũng của tác giả này, bạn có thể đọc bài Trăng sáng (Phạm Hổ), in trong tập thơ thiếu nhi Chú bò tìm bạn.
Hồ Huy, Phạm Hổ: vài dòng lý lịch

| Tên thường dùng | Phạm Hổ; bút danh khác: Hồ Huy |
| Năm sinh – năm mất | 28/11/1926 – 4/5/2007 (mất tại Hà Nội) |
| Quê quán | Xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) |
| Gia đình | Xuất thân nhà Nho học; vợ là bà Hà Huy Tuyết, giảng viên văn học phương Tây |
| Thể loại | Thơ thiếu nhi, truyện sự tích, kịch cho thiếu nhi, thơ và truyện ngắn cho người lớn; vẽ tranh, dịch thuật |
| Tác phẩm tiêu biểu | Chú bò tìm bạn, Chuyện hoa chuyện quả, Ngựa thần từ đâu tới, Nàng tiên nhỏ thành ốc, Ra khơi, Tuyển tập Phạm Hổ |
| Giải thưởng | Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt I, 2001) và nhiều giải văn học thiếu nhi |
| Trong SGK | Đàn gà mới nở (Tiếng Việt 2 Cánh diều); bài đọc, bài tập chép ở các tiết ôn tập Tiếng Việt 1, 3, 5 |
Ông tuổi Dần, và theo lời kể của bạn văn, cái tên Hổ được đặt vì ông cầm tinh con hổ. Người quen lại hay đùa rằng tên thì dữ mà tính hiền như thỏ. Nhiều tiểu sử ghi ông là em nhà văn Phạm Văn Ký (người định cư ở Pháp) và anh nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, tác giả Trăng tàn trên hè phố; ba anh em cùng gốc An Nhơn.
Về ngày mất, Bảo tàng Văn học Việt Nam và báo Nhân Dân thống nhất là 4/5/2007; bản tin của Tuổi Trẻ in lại trên Dân trí lại viết ông đi vào “rạng sáng 5/5”, sau ba năm đau ốm.
Từ tòa xứ Quy Nhơn đến báo Văn nghệ
Phạm Hổ học tiểu học ở Quy Nhơn, học trung học ở Huế và đỗ bằng Thành chung năm 1943. Theo nhà văn Lê Lam Sơn, ông viết từ rất sớm: tác phẩm in đầu tay là truyện ngắn Học trò nghèo trên báo Đồng Tháp, còn bài thơ đầu đời về đóa hoa hồng thì ông làm từ hồi học lớp ba, hơn bốn mươi năm sau mới viết lại thành một bài thơ thiếu nhi.
Cách mạng tháng Tám nổ ra khi ông đang làm thư ký công nhật ở tòa xứ Quy Nhơn. Ông chuyển sang làm tuyên truyền văn hóa cứu quốc ở thành phố, rồi sinh hoạt trong Chi hội Văn nghệ cứu quốc Bình Định do nhà thơ Trần Mai Ninh phụ trách. Bút ký Vén mắt về phong trào xóa nạn mù chữ của ông in trên tạp chí Tiên phong của Hội Văn hóa cứu quốc. Kháng chiến chống Pháp, ông còn là Ủy viên Ban Chấp hành Hội họa Liên khu V; năm 1950 được cử ra Việt Bắc dự lớp học văn nghệ trung ương.
Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Những việc ông làm ở Hà Nội trải qua mấy cơ quan văn nghệ chính của miền Bắc:
| Thời gian | Công việc |
|---|---|
| 1957 | Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam; cùng Võ Quảng và một số người khác gây dựng Nhà xuất bản Kim Đồng |
| Sau khoảng ba năm ở Kim Đồng | Chuyển sang Nhà xuất bản Văn học, rồi về báo Văn nghệ, làm Phó Tổng biên tập thứ nhất |
| Từ 1983 | Phó trưởng ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Văn học thiếu nhi của Hội |
| 1994 | Nghỉ hưu |
| 4/5/2007 | Qua đời tại Hà Nội, thọ 80 tuổi |
Những bài thơ nho nhỏ cho tuổi lên năm
Thơ thiếu nhi của Phạm Hổ nhắm vào lứa rất nhỏ: nhà thơ Vũ Duy Thông, theo dẫn của TS Lê Nhật Ký, cho rằng thơ ông thiên về bạn đọc từ năm đến tám tuổi. Vì thế câu thơ thường chỉ ba, bốn hoặc năm chữ, bài ngắn, vần chắc, đọc lên là trẻ thuộc. Ông tự gọi những bài như vậy là “những bài thơ nho nhỏ”, và đặt chúng ngang hàng với hòn bi, quả quýt, chú gà con chạy lon ton: những thứ trẻ con cầm được, chơi được.
Đọc kỹ thì thấy mấy lối viết ông dùng đi dùng lại:
- Hỏi – đáp: cua con hỏi mẹ vì sao cô lúa thôi hát, bướm em hỏi chị vì sao hoa hồng khóc; câu trả lời vừa có tình vừa cài một hiểu biết nhỏ (giọt nước trên cánh hoa gọi là sương).
- Định nghĩa bằng thơ: bài Nước lần lượt gọi tên biển, hồ, suối, mưa theo cách nước chuyển động.
- Đồ vật biết tính nết: cái đinh treo xong bức ảnh thì “nhô đầu” nhìn quanh, cái chổi thích buộc thắt lưng mà cả đời không đi dép.
- Trò chơi dân gian: báo Nhân Dân khi đưa tin ông mất nhắc việc ông dựng lại các trò chồng nụ chồng hoa, dung dăng dung dẻ, nu na nu nống trong thơ.
Lê Nhật Ký còn thuật lại rằng năm 1982, tại hội thảo về thơ thiếu nhi nhân 25 năm Nhà xuất bản Kim Đồng, ông đọc tham luận cho rằng thơ cho nhi đồng phải có thiên nhiên, phải vui, phải biến hóa nhạc điệu, và người viết cho trẻ con đồng thời là một nhà giáo. Những bài thơ ngắn trên trang tuyển tập thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi, như Xe chữa cháy, Bắp cải xanh hay Củ cà rốt, cho thấy rõ quan niệm ấy.
Bò, rế, chảo cũng là bạn: chủ đề tình bạn
Nếu phải chọn một chữ cho thơ thiếu nhi của Phạm Hổ thì đó là chữ “bạn”. Tên các tập thơ đã nói lên điều này: Chú bò tìm bạn, Bạn trong vườn, Những người bạn im lặng, Những người bạn ồn ào. Theo bài nghiên cứu của Lê Nhật Ký, chính nhà thơ từng nói trong hơn mười tập thơ viết cho các em đã có sáu tập dành cho tình bạn.
Điều lạ là trong thế giới ấy con người ít xuất hiện. Bạn bè là con chó với con mèo chơi ú tim, là cái rế ngồi chờ chảo và nồi nấu xong, là rong và cá, hoa và bướm, ngỗng và vịt. Lối đặt tên “A và B” lặp lại nhiều lần, như một cách nói rằng hai thứ đứng cạnh nhau thì thành đôi bạn.
Theo Lê Nhật Ký, Chú bò tìm bạn được viết năm 1952, khi nhà thơ nhìn đàn bò chiều chiều ra sông uống nước:
Mặt trời rúc bụi tre
Buổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nước
Thấy bóng mình, ngỡ ai
Tập thơ cùng tên được tặng thưởng loại A trong cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi của Trung ương Đoàn năm 1957–1958, và về sau được coi là bài tiêu biểu nhất cho giọng thơ của ông. Một số trang gọi ông là “nhà thơ của tình bạn” như một danh xưng chính thức; chúng tôi không tìm thấy nguồn nào ghi nhận danh xưng ấy, chỉ có các bài nghiên cứu nói tình bạn là chủ đề nổi bật trong thơ ông.
Chuyện hoa chuyện quả, ngựa thần và nàng tiên ốc
Văn xuôi cho thiếu nhi của Phạm Hổ phần lớn là truyện sự tích: vì sao có cây chuối, quả na, bông hoa này hoa kia. Bộ Chuyện hoa chuyện quả in thành nhiều tập trong khoảng 1974–1994. Truyện Sự tích cây chuối trong bộ này, kể chuyện người con út Tiêu Ly nghĩ ra một giống cây để nuôi con và được Thần Cây trao giải nhất, nay nằm trong đề đánh giá giữa học kì II của Tiếng Việt 5 Chân trời sáng tạo.
Bên cạnh đó là tập truyện Ngựa thần từ đâu tới (1986), tập truyện cổ tích Cất nhà giữa hồ (1995), bộ ba vở kịch Nàng tiên nhỏ thành ốc (in năm 1980) và vở Mỵ Châu – Trọng Thủy (Kim Đồng, 1993). Ông viết cả kịch bản phim hoạt hình. Báo Tuổi Trẻ khi đưa tin ông mất tổng kết sự nghiệp ấy bằng con số 25 tập thơ, 35 tập truyện và 10 kịch bản sân khấu, phim hoạt hình. Theo báo Nhân Dân, nhiều tác phẩm cho thiếu nhi của ông đã được dịch, in ở Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Hungary.
Một Phạm Hổ khác: thơ, truyện cho người lớn và tranh vẽ
Ít người để ý rằng Phạm Hổ bước vào văn đàn bằng thơ cho người lớn. Tập Những ngày xưa thân ái ra đời giữa thập niên 1950 (các nguồn ghi 1956, 1957 hoặc 1958), tiếp theo là Ra khơi (1960), truyện thơ Trong đêm khuya miền Nam (1964), Mỗi ngày đêm đất nước (1965), Đi xa (1973) và Những ô cửa, những ngả đường. Văn xuôi có tập truyện ngắn Vườn xoan, cuốn Tình thương (Bảo tàng Văn học ghi là tiểu thuyết in năm 1974) và tập Cây bánh tét của người cô, lấy tên theo truyện ngắn về người cô nghèo ở Bình Định và chiếc bánh tét ngày Tết.
Về già, ông viết nhiều thơ hai câu, kiểu câu thơ ngắn chứa một ý nghĩ về giấc mơ, về đất và hoa, về chuyện đi xa rồi mới thấy nơi xa nhất là chính mình. Một bài trên báo Công an Nhân dân năm 2012 kể nhà văn Lê Phương Liên, khi biên tập tập truyện của ông, đã phải vào tận Quy Nhơn chỉ vì đọc truyện Gió biển Qui Nhơn.
Ông còn là họa sĩ. Bộ sưu tập của ông có hàng trăm bức ký họa, tranh phấn màu, bột màu, khắc gỗ, từng được triển lãm ở Hà Nội và một số nơi khác. Năm 1999, Tuyển tập Phạm Hổ ra đời, hai năm trước khi ông nhận Giải thưởng Nhà nước.
Giải thưởng và những trại viết cho thiếu nhi
| Năm | Giải thưởng | Tác phẩm |
|---|---|---|
| 1957–1958 | Tặng thưởng loại A, cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi (Trung ương Đoàn) | Chú bò tìm bạn (thơ) |
| 1967–1968 | Tặng thưởng loại A, cùng cuộc vận động | Chú vịt bông (thơ) |
| 1985 | Giải chính thức về thơ, Hội đồng Văn học thiếu nhi Hội Nhà văn | Những người bạn im lặng |
| 1986 | Giải về kịch viết cho thiếu nhi (Trung ương Đoàn và Hội Nghệ sĩ Sân khấu) | Nàng tiên nhỏ thành ốc |
| 2001 | Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, đợt I | Cụm tác phẩm |
Những năm làm Chủ tịch Hội đồng Văn học thiếu nhi, ông hay mở trại sáng tác cho người viết thiếu nhi. Nhà văn Lê Lam Sơn kể về trại viết năm 1991 của Hội Nhà văn: ông đọc góp ý từng bản thảo, xin xe cho trại viên phía Nam đi thăm di tích Hà Nội, liên hệ để cả trại được xem múa rối. Tác giả bài viết ấy cũng nhớ những buổi ông đạp xe từ khu tập thể Bách Khoa đến Nhà văn hóa Thiếu nhi Hà Nội để nói chuyện với lớp năng khiếu văn.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa có bài Phạm Hổ – Người ở xứ thần tiên trên báo Quân đội nhân dân sau khi ông mất; báo Công an Nhân dân nhắc lại nhận xét của Khoa rằng ông không có khả năng nghĩ xấu về người khác. Theo báo Nhân Dân, Phạm Hổ thường tâm sự rằng nếu được sống thêm một kiếp, ông vẫn chọn làm thơ, viết văn và vẽ tranh cho các em.
Đàn gà mới nở và Sự tích cây chuối: Phạm Hổ trong SGK Tiếng Việt
Phạm Hổ không có văn bản trong sách Ngữ văn trung học, nhưng có mặt đều đặn ở sách Tiếng Việt tiểu học, đúng với lứa tuổi ông viết cho. Ngoài bài đọc chính, thơ ông hay được chọn làm ngữ liệu cho bài tập chính tả, dấu câu ở các tiết ôn tập.
| Văn bản | Sách – vị trí | Bài giải trên Văn VN |
|---|---|---|
| Đàn gà mới nở (thơ bốn chữ) | Tiếng Việt 2 Cánh diều, tập 2, Bài 19, bài đọc 1 (trang 3–6); bài này cũng có trong sách Tiếng Việt 2 chương trình cũ | Đàn gà mới nở lớp 2 |
| Ngủ rồi (thơ 4 dòng) | Tiếng Việt 1 Cánh diều, tập 2, ôn tập giữa học kì II, bài tập chép (trang 81) | Ôn tập giữa học kì 2 Tiếng Việt 1 |
| Lúa và gió (theo Phạm Hổ) | Tiếng Việt 3 Kết nối tri thức, ôn tập giữa học kì II (bài tập dấu câu) | Ôn tập giữa học kì 2 Tiếng Việt 3 |
| Sự tích cây chuối (theo Phạm Hổ) | Tiếng Việt 5 Chân trời sáng tạo, đánh giá giữa học kì II (trang 83–84) | Ôn tập giữa học kì 2 Tiếng Việt 5 |
Bài Đàn gà mới nở có năm khổ, mỗi dòng bốn chữ, tả gà con như những hòn tơ nhỏ và gà mẹ xòe cánh che con khi diều quạ bay qua. Một bài thơ khác cũng viết về gà con của ông, Đàn gà con, kể chuyện mười quả trứng tròn nở thành mười chú gà con.