Cước chú là lời chú thích đặt ở chân trang, nối với một chỗ trong chính văn bằng một con số hay kí hiệu nhỏ, dùng để giải nghĩa từ khó, ghi nguồn tài liệu hoặc nói thêm một ý phụ. Tiếng Anh gọi là footnote. Học sinh gặp thuật ngữ này khi học cách trích dẫn và viết báo cáo nghiên cứu ở lớp 10, cũng như khi đọc sách dịch có ghi chú của người dịch.
| Khái niệm | Lời chú thích ghi ở cuối trang (đôi khi ở cuối tài liệu), gắn với một chỗ trong văn bản |
| Gốc từ | Hán Việt: cước (chân) + chú (giải thích), tức lời giải ở chân trang |
| Thuộc | Cách trình bày văn bản; phương tiện trích dẫn, chú giải |
| Dấu hiệu nhận biết | Số hoặc kí hiệu nhỏ đặt cao sau từ ngữ; cùng số ấy ở chân trang kèm lời giải |

Cước chú: lời giải nằm ở chân trang
Từ điển tiếng Việt xếp cước chú là danh từ, ghi chú là từ cũ, nghĩa là lời chú thích thường ghi ở cuối trang hoặc ở cuối tài liệu. Ví dụ quen nhất là câu dặn trong sách: xem cước chú ở cuối trang.
Tên gọi của nó nói đúng vị trí. Chữ cước (腳) là cái chân, rộng ra là phần dưới của một vật, như chân tường, chân núi; chữ chú (註) là giải thích cho rõ nghĩa, như trong chú giải, chú thích. Lời giải đứng ở chân trang nên gọi là cước chú. Từ điển Hán Việt còn ghi cụm 注腳 với nghĩa lời chú thích ghi ở dưới.
Trong chương trình Ngữ văn mới, sách Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức có bài thực hành tiếng Việt về sử dụng trích dẫn, cước chú và cách đánh dấu phần bị tỉnh lược. Kĩ năng này đi liền với kiểu bài viết báo cáo nghiên cứu, có hướng dẫn và bài mẫu ở trang cách làm báo cáo nghiên cứu cho học sinh lớp 10. Phần tiếng Việt của cả học kì được hệ thống lại ở bài ôn tập cuối kì một Ngữ văn 10 sách Kết nối.
Nhìn trang giấy, nhận ra cước chú bằng mấy dấu hiệu?
Một cước chú hoàn chỉnh gồm hai phần nằm ở hai chỗ trên cùng một trang. Dấu hiệu dễ thấy:
- Chỉ số trong chính văn: ngay sau từ ngữ hay câu cần chú thích có một con số nhỏ đặt cao (¹, ², ³) hoặc kí hiệu như dấu sao (*).
- Đường kẻ ngăn: ở cuối trang có một đường kẻ ngắn tách phần chú thích khỏi chính văn.
- Lời chú cùng số: dưới đường kẻ là lời giải, mở đầu bằng đúng con số hoặc kí hiệu đã đặt trong chính văn.
- Cỡ chữ nhỏ hơn: lời cước chú thường in nhỏ hơn chữ của bài để người đọc biết đây là phần phụ.
Số cước chú có thể đánh liên tục từ đầu đến cuối tài liệu hoặc đánh lại từ 1 ở mỗi trang, mỗi chương; quan trọng là thống nhất. Trong Microsoft Word, đặt con trỏ sau chữ cần chú thích rồi chọn References → Insert Footnote (hoặc tổ hợp Alt + Ctrl + F), máy sẽ tự đánh số và đưa con trỏ xuống chân trang. LibreOffice Writer có mục Chèn → Cước chú và kết chú với chức năng tương tự.
Ba việc mà một cước chú thường làm
Xét theo mục đích, cước chú có thể chia thành ba nhóm:
- Cước chú giải nghĩa: giải thích từ cổ, từ địa phương, thuật ngữ, điển cố, tên người, tên đất mà người đọc có thể chưa biết. Văn bản cổ và văn bản dịch dùng loại này nhiều nhất.
- Cước chú dẫn nguồn: ghi xuất xứ của một câu trích, một số liệu: tên tác giả, tên tài liệu, nhà xuất bản, năm xuất bản, số trang. Đây là loại học sinh cần nhất khi viết báo cáo nghiên cứu.
- Cước chú bổ sung: nói thêm một ý phụ, một lưu ý, hoặc ghi chú của người dịch, người biên tập. Sách dịch thường ghi cuối lời chú là (N.D.), nghĩa là “người dịch”, để phân biệt với chú thích của chính tác giả.
Dù thuộc nhóm nào, cước chú cũng tuân theo một nguyên tắc: ý chính phải nằm trong bài; cước chú chỉ là phần đỡ thêm, bỏ đi thì bài vẫn đọc hiểu được.
Cước chú trong Truyện Kiều, báo cáo và sách dịch
Giải một hình ảnh cổ trong Truyện Kiều
Câu mở đầu đoạn tả cảnh ngày xuân của Nguyễn Du: Ngày xuân con én đưa thoi. Các bản Truyện Kiều có chú giải thường thêm lời chú cho hình ảnh “con én đưa thoi”: chim én bay qua lại như con thoi trên khung cửi, ý nói thời gian trôi rất nhanh. Tác dụng: người đọc hiện đại ít thấy khung cửi dệt vải, cước chú giúp họ nắm được hình ảnh mà không phải ngắt mạch đọc thơ.
Giải thích thuật ngữ trong một báo cáo nghiên cứu
Một đoạn báo cáo về cồng chiêng Tây Nguyên có thể viết: Nhiều buôn còn giữ bộ chiêng núm¹ truyền từ đời ông bà. Chân trang ghi: ¹ Chiêng núm: loại chiêng có núm nhô lên ở giữa mặt. Tác dụng: bạn đọc chưa biết thì có chỗ tra ngay, bạn đọc đã biết thì đọc lướt qua, câu văn chính vẫn gọn.
Ghi nguồn cho một câu trích
Khi trích nhận định của một nhà nghiên cứu trong báo cáo, người viết đặt chỉ số sau dấu ngoặc kép đóng, rồi ở chân trang ghi theo trình tự: ² Tên tác giả, Tên tài liệu, Nhà xuất bản, năm xuất bản, trang. Tác dụng: chứng tỏ người viết trung thực, tôn trọng quyền tác giả, và người đọc kiểm lại được câu trích.
Ghi chú của người dịch
Trong một cuốn tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh: Ông ta nói giọng Cockney³ đặc sệt. Cước chú: ³ Giọng của người lao động vùng phía đông London (N.D.). Tác dụng: người dịch không thể chuyển một giọng địa phương sang tiếng Việt, nên dùng cước chú để bạn đọc hiểu tầng nghĩa mà nguyên tác ngầm gửi.
Cước chú, kết chú, trích dẫn: đừng lẫn với nhau
| Khái niệm | Nằm ở đâu | Dùng để |
|---|---|---|
| Cước chú | Chân trang có chỗ đánh dấu | Giải nghĩa, dẫn nguồn, bổ sung ý phụ |
| Kết chú | Cuối chương hoặc cuối tài liệu | Như cước chú, nhưng gom về một chỗ |
| Chú thích trong ngoặc | Ngay trong câu, đặt trong ngoặc đơn | Giải thích rất ngắn, không cần chân trang |
| Trích dẫn | Trong chính văn, trong ngoặc kép | Đưa lời, ý của người khác vào bài |
| Tài liệu tham khảo | Danh mục cuối bài | Liệt kê toàn bộ tài liệu đã dùng |
| Phụ lục | Sau phần chính của tài liệu | Chứa bảng biểu, số liệu, văn bản kèm theo |
Hay nhầm nhất là cước chú với kết chú: hai loại có cùng chức năng, chỉ khác chỗ đặt. Phần mềm soạn thảo cũng đánh số riêng cho từng loại. Còn danh mục tài liệu tham khảo không thay được cước chú dẫn nguồn, vì danh mục chỉ cho biết bài đã dùng những sách nào, không chỉ ra câu nào lấy từ trang nào. Ý nghĩa của hai thành phần cuối bảng có ở bài giải nghĩa phần phụ lục trong tài liệu và bài chữ tham khảo và cách dùng.
Thực hành nhận biết và ghi cước chú
Câu 1: Trong câu “Bà con trong buôn mời khách uống rượu cần¹ bên bếp lửa”, con số nhỏ ¹ cho biết điều gì? Em sẽ tìm lời giải ở đâu?
Đáp án: Số ¹ là chỉ số cước chú, báo rằng từ “rượu cần” có lời chú thích. Lời chú nằm ở chân trang, dưới đường kẻ ngắn, mở đầu bằng cùng số ¹.
Câu 2: Xếp các cước chú sau vào nhóm giải nghĩa, dẫn nguồn hay bổ sung: (a) “Thoi: dụng cụ dệt vải, hình thuôn hai đầu”; (b) “Tên tác giả, Tên sách, NXB, năm, tr. 47”; (c) “Bản gốc ghi tên nhân vật khác, ở đây dịch theo tên thường dùng (N.D.)”.
Đáp án: (a) giải nghĩa từ ngữ; (b) dẫn nguồn; (c) bổ sung, cụ thể là ghi chú của người dịch.
Câu 3: Một bạn viết báo cáo có trích câu nói của nhà nghiên cứu nhưng chỉ ghi tên sách vào danh mục tài liệu tham khảo cuối bài. Như vậy đã đủ chưa? Vì sao?
Đáp án: Chưa đủ. Danh mục tài liệu tham khảo chỉ liệt kê sách đã dùng; với câu trích nguyên văn, cần thêm cước chú ngay tại chỗ, ghi tác giả, tên tài liệu, nhà xuất bản, năm và số trang để người đọc kiểm lại được.
Câu 4: Câu “Ngày xuân con én đưa thoi” nên chú thích cho cụm từ nào? Hãy viết lời cước chú ngắn cho cụm từ đó.
Đáp án: Nên chú thích cụm “con én đưa thoi”. Lời cước chú gợi ý: Con én đưa thoi: chim én bay qua lại nhanh như con thoi dệt vải; ý nói ngày tháng trôi qua rất nhanh.
Cước chú khi làm bài và khi soạn văn bản
Cước chú tiếng Anh là gì?
Là footnote, nghĩa đen “ghi chú ở chân”. Ghi chú gom về cuối chương hoặc cuối sách gọi là endnote, tiếng Việt gọi là kết chú.
Cước chú và chú thích khác nhau thế nào?
Chú thích là khái niệm rộng, chỉ mọi lời giải thích thêm cho văn bản, đặt ở đâu cũng được. Cước chú là một kiểu chú thích, đặt ở chân trang và nối với chính văn bằng số hoặc kí hiệu.
Cách ghi cước chú dẫn nguồn theo thứ tự nào?
Cách phổ biến là: tên tác giả, tên tài liệu (in nghiêng), nhà xuất bản, năm xuất bản, số trang. Nguồn trên mạng thì ghi thêm đường dẫn và ngày truy cập. Mỗi trường, mỗi giáo viên có thể yêu cầu một chuẩn riêng, nên cần hỏi trước khi nộp bài.
Có nên dùng thật nhiều cước chú cho bài thêm học thuật không?
Không nên. Cước chú chỉ đặt ở chỗ người đọc thật sự cần giải thích hay cần biết nguồn; một trang dày đặc số nhỏ khiến bài khó đọc và che mất ý chính.