Soạn bài Bản sắc là hành trang giúp em chuẩn bị và trả lời đầy đủ các câu hỏi ở trang 93 – 96, Bài 8 (Văn bản nghị luận), sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập hai. Bài viết ngắn của Nguyễn Sĩ Dũng đặt ra một câu hỏi rất thời sự: trong thời đại toàn cầu hóa, làm sao để người Việt hội nhập sâu với thế giới mà vẫn giữ được mình.
Tìm hiểu chung về văn bản Bản sắc là hành trang
Trước khi làm bài, em cần nắm thông tin về tác giả, xuất xứ và hệ thống luận điểm của văn bản.

Tác giả Nguyễn Sĩ Dũng
Sinh năm 1955, Nguyễn Sĩ Dũng quê ở Thanh Chương, Nghệ An. Ông là tiến sĩ, từng giữ cương vị Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, được biết đến như một chuyên gia về lập pháp, chính sách công và là cây bút bình luận xã hội quen thuộc trên báo chí. Các bài viết của ông thường ngắn gọn, lập luận sắc sảo, hay dùng hình ảnh so sánh dễ hiểu. Một số cuốn sách tiêu biểu: Những nghịch lí của thời gian, Thế sự – một góc nhìn.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: SGK ghi nguồn Những nghịch lí của thời gian, NXB Thời đại, Hà Nội, 2011.
- Thể loại: nghị luận xã hội, bàn về một vấn đề văn hóa – tư tưởng.
- Luận đề: giữ gìn bản sắc dân tộc là điều kiện để tồn tại và phát triển trong quá trình hội nhập.
- Bố cục: ba phần, được đánh số (1), (2), (3) trong văn bản.
- Phần (1): đoạn mở đầu, dùng hình ảnh sông và biển để nói về bản chất của hội nhập.
- Phần (2): phần chính, nêu câu hỏi làm sao hội nhập mà không tan biến, giải thích bản sắc là gì và vì sao hội nhập với giữ gìn bản sắc có thể song hành, thậm chí bản sắc còn là lợi thế.
- Phần (3): câu kết, khái quát thành phương châm sống của cả dân tộc.
Nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: văn bản khẳng định bản sắc là thứ giữ cho một cộng đồng còn hiện diện giữa thế giới; hội nhập không đồng nghĩa với đánh mất mình, trái lại, biết giữ bản sắc thì càng hội nhập càng có lợi thế.
- Nghệ thuật: bố cục ngắn gọn, mạch lạc; luận điểm rõ, lí lẽ chặt chẽ; dùng hình ảnh so sánh giàu sức gợi (sông – biển, chiếc xe Lếch-xớt – cây ô liu); dẫn chứng gần gũi, quen thuộc với người Việt.
Soạn bài Bản sắc là hành trang – Chuẩn bị (trang 93)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại Kiến thức ngữ văn về văn bản nghị luận, đọc trước bài viết và tìm hiểu thêm một số tài liệu liên quan.
Câu 1: Tìm hiểu thêm những bài viết về bản sắc dân tộc và yêu cầu hội nhập quốc tế
Trả lời:
Em có thể tìm đọc các bài báo, bài phát biểu, nghị quyết về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hoặc các bài viết về việc giữ gìn tiếng Việt, áo dài, ẩm thực, lễ hội trong thời kì mở cửa. Khi đọc, hãy ghi lại hai ý chính: bản sắc gồm những yếu tố nào; hội nhập mang lại cơ hội gì và đặt ra nguy cơ gì. Những ghi chép ấy giúp em hiểu văn bản trong SGK sâu hơn và có dẫn chứng khi trả lời câu hỏi.
Câu 2: Suy nghĩ về ý nghĩa của vấn đề mà văn bản nêu lên
Từ những hiểu biết và trải nghiệm cá nhân, em hãy suy nghĩ về ý nghĩa của vấn đề mà văn bản nghị luận trên đã nêu lên.
Trả lời:
Vấn đề giữ bản sắc khi hội nhập rất gần với đời sống của học sinh hôm nay. Mỗi ngày chúng ta tiếp xúc với phim ảnh, âm nhạc, thời trang, mạng xã hội của nhiều nước. Nếu chỉ chạy theo cái mới, người trẻ dễ coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, phong tục, lối sống của cha ông. Ngược lại, nếu đóng cửa, ta lại tụt hậu. Vì vậy, văn bản giống một lời nhắc: hãy mở lòng học hỏi thế giới, nhưng phải biết mình là ai.
Soạn bài Bản sắc là hành trang – Câu hỏi trong khi đọc (trang 94 – 95)
Năm câu hỏi bên lề bám theo các đoạn của văn bản, giúp em nắm lập luận của từng đoạn khi đang đọc.
Câu 1: Tỉ lệ các con số nói lên điều gì? (trang 94)
Trả lời:
Tác giả đặt hơn 80 triệu người Việt bên cạnh hơn 6 000 triệu người trên thế giới. Phép so sánh cho thấy dân tộc ta chỉ chiếm một phần rất nhỏ của nhân loại, nên nguy cơ bị lẫn đi, mờ nhạt đi trong quá trình toàn cầu hóa là có thật. Các con số làm vấn đề trở nên cụ thể, cấp thiết, dẫn người đọc tới câu hỏi trung tâm: làm sao để vẫn được nhận ra giữa một thế giới rộng lớn như vậy.
Câu 2: Câu nêu cách hiểu khái quát về bản sắc dân tộc và tác dụng của các câu còn lại (trang 94)
Câu nào nêu cách hiểu khái quát về bản sắc dân tộc? Những câu còn lại trong đoạn văn có tác dụng gì?
Trả lời:
- Câu khái quát: câu mở đầu đoạn, bắt đầu bằng “Bản sắc là tất cả những gì đặc trưng cho dân tộc Việt Nam”. Vế sau của câu nói rõ thêm: bản sắc là mọi điều khiến người Việt khác biệt với các dân tộc khác trên thế giới.
- Các câu còn lại: cụ thể hóa định nghĩa ấy bằng những biểu hiện: tiếng Việt, các thành tựu văn hóa, các giá trị tinh thần. Nhờ có các câu này, khái niệm trừu tượng trở nên dễ hình dung và có sức thuyết phục. Đoạn văn vì thế được tổ chức theo lối diễn dịch.
Câu 3: Tác giả mượn hình ảnh chiếc xe Lếch-xớt và cây ô liu để nói về điều gì? (trang 95)
Trả lời:
Hai hình ảnh là hai biểu tượng đối lập. Chiếc xe Lếch-xớt (Lexus) tượng trưng cho sự hiện đại, cho những chuẩn mực chung mà toàn cầu hóa mang lại. Còn cây ô liu thì gợi tới cái riêng, cho truyền thống, cội rễ của mỗi dân tộc. Qua cặp hình ảnh này, tác giả nói về quan hệ giữa hội nhập và giữ gìn bản sắc: hai yếu tố tưởng như loại trừ nhau, nhưng thực ra có thể nâng đỡ nhau.
Câu 4: Hai đoạn cuối phần (2) khẳng định thêm điều gì về bản sắc văn hóa? (trang 95)
Trả lời:
- Có bản sắc, ta cạnh tranh tốt hơn, vì nó tạo nên nét độc đáo, sức hút riêng. Chẳng hạn Hồ Gươm, phố cổ Hà Nội, những gánh hàng hoa là thứ chỉ có ở Việt Nam nên thu hút du khách quốc tế.
- Bản sắc còn làm tăng giá trị cho hàng hóa, dịch vụ trong nước, khiến chúng đặc biệt và hấp dẫn hơn với cả người mua trong nước lẫn nước ngoài.
Như vậy, bản sắc không chỉ cần giữ vì lí do tình cảm mà còn mang lại lợi ích thiết thực.
Câu 5: Kết bài, tác giả muốn nhấn mạnh điều gì? (trang 95)
Trả lời:
Câu kết nhấn mạnh hai vế phải đi cùng nhau: đón nhận những tinh hoa của thế giới và gìn giữ cái riêng của dân tộc. Tác giả nâng việc giữ bản sắc từ một phương châm hành động lên thành bản năng sinh tồn, nghĩa là điều tự nhiên, thiết yếu như việc giữ mạng sống của một cộng đồng. Đó cũng là cách nói khác của tinh thần hòa nhập mà không hòa tan.
Soạn bài Bản sắc là hành trang – Câu hỏi sau khi đọc (trang 96)
Sáu câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em hiểu nhan đề, chỉ ra hệ thống ý, phân tích lí lẽ, thái độ của tác giả và liên hệ bản thân.
Câu 1: Ý nghĩa nhan đề và vấn đề được bàn luận (trang 96)
Em hiểu như thế nào về nhan đề Bản sắc là hành trang? Nhan đề này cho em biết vấn đề tác giả bàn luận trong văn bản là gì? Vấn đề ấy có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập?
Trả lời:
- Cách hiểu nhan đề: hành trang là những thứ người ta mang theo khi lên đường. Khi ví bản sắc với hành trang, người viết muốn nói: khi dân tộc bước ra thế giới, thứ cần mang theo và không được đánh rơi chính là những nét riêng làm nên mình. Bản sắc không phải gánh nặng níu chân mà là vốn liếng giúp ta đi xa.
- Vấn đề bàn luận: mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc dân tộc.
- Ý nghĩa: toàn cầu hóa tạo ra ngày càng nhiều chuẩn mực chung, khiến cái riêng có nguy cơ bị thu hẹp. Đặt vấn đề như vậy giúp mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, ý thức rằng muốn hội nhập thành công thì phải giữ được gốc rễ.
Câu 2: Ý chính của ba phần trong bài viết (trang 96)
Hãy nêu ý chính được trình bày ở ba phần của bài viết theo gợi ý sau (Phần 1: Làm thế nào để hòa nhập mà không bị hòa tan; Phần 2: …; Phần 3: …).
Trả lời:
| Phần | Ý chính |
|---|---|
| Phần 1 | Làm thế nào để hòa nhập mà không bị hòa tan: hội nhập là gắn kết với thế giới như sông đổ ra biển, chứ không phải biến mất trong biển. |
| Phần 2 | Bản sắc quyết định việc cộng đồng còn hay mất; bản sắc gồm những gì; hội nhập và giữ gìn bản sắc có thể hỗ trợ nhau; bản sắc còn là lợi thế cạnh tranh và làm tăng giá trị hàng hóa, dịch vụ. |
| Phần 3 | Kết luận: vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại vừa giữ bản sắc dân tộc là phương châm hành động và là bản năng sinh tồn của chúng ta. |
Câu 3: Biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn bản và bổ sung (trang 96)
Phân tích những biểu hiện của bản sắc dân tộc Việt Nam được tác giả nêu lên trong văn bản. Em có thể bổ sung những biểu hiện nào khác của bản sắc dân tộc?
Trả lời:
- Ngôn ngữ: tiếng Việt do ông cha để lại, là tài sản chung của các cộng đồng dân tộc trên đất nước ta. Đây là biểu hiện đầu tiên vì ngôn ngữ lưu giữ cách nghĩ, cách cảm của cả dân tộc.
- Thành tựu văn hóa vật thể: trống đồng, tượng chùa Tây Phương – những sản phẩm thể hiện tài hoa của người Việt xưa.
- Văn hóa tinh thần, nghệ thuật: dân ca cùng văn học, nghệ thuật, mà đỉnh cao là Truyện Kiều.
- Hệ thống giá trị: tình yêu quê hương, đời sống tâm linh giàu có, thể hiện qua tục thờ cúng ông bà tổ tiên.
- Các nghề, cảnh quan đặc trưng: múa rối nước, dệt thổ cẩm, khu phố cổ và Hồ Gươm của Hà Nội, gánh hàng hoa trên phố.
Bổ sung: tà áo dài; ẩm thực như phở, bánh chưng, nước mắm; các di sản như nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đờn ca tài tử Nam Bộ; tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lòng hiếu học, sự cần cù, lối ứng xử trọng tình nghĩa.
Câu 4: Mối quan hệ hiện đại – truyền thống, cái riêng – cái chung qua ví dụ chiếc xe Lếch-xớt và cây ô liu (trang 96)
Trả lời:
- Mặt đối lập: toàn cầu hóa đưa vào đời sống vô số chuẩn mực chung về kĩ thuật, công nghệ, thương mại, đầu tư. Khi phần chung tăng lên, phần riêng có thể bị lấn át. Đó là nguy cơ có thật mà tác giả không né tránh.
- Mặt thống nhất: hiện đại và truyền thống không nhất thiết triệt tiêu nhau. Cái hiện đại có thể tạo điều kiện để bảo tồn cái truyền thống (hội nhập giúp múa rối nước, dệt thổ cẩm có thị trường để phát triển). Cái truyền thống lại làm đẹp, làm giàu thêm cho cái hiện đại (nhà hàng, khách sạn sang trọng hấp dẫn khách nước ngoài hơn khi có hồn văn hóa Việt).
- Kết luận: cái chung và cái riêng cần được dung hòa; hội nhập càng sâu thì càng cần giữ cái riêng, và chính cái riêng làm cho sự hội nhập có giá trị.
Câu 5: Thái độ của tác giả đối với vấn đề bản sắc và hội nhập (trang 96)
Tác giả có thái độ như thế nào đối với vấn đề bản sắc và hội nhập toàn cầu hóa? Dẫn ra một số câu văn, đoạn văn trong văn bản thể hiện rõ thái độ ấy.
Trả lời:
Người viết giữ thái độ khách quan, tỉnh táo và lạc quan. Ông không bài xích toàn cầu hóa, cũng không xem nhẹ nguy cơ mất bản sắc; ông tin rằng nếu biết cách thì hai mặt ấy hỗ trợ nhau. Thái độ ấy thể hiện ở các chỗ:
- Thừa nhận nguy cơ: tác giả gọi việc cái chung tăng lên còn cái riêng giảm đi là một nguy cơ có thật.
- Khẳng định khả năng dung hòa: chiếc xe và cây ô liu “không nhất thiết bao giờ cũng phải xung đột và triệt tiêu lẫn nhau”.
- Dẫn chứng thực tế: không hội nhập thì múa rối nước, thổ cẩm khó phát triển; thiếu hồn văn hóa Việt thì khách sạn, nhà hàng cao cấp kém hấp dẫn.
- Đánh giá cao bản sắc khi coi nó là lợi thế lúc cạnh tranh.
Câu 6: Hiểu câu kết của bài viết và ý nghĩa với bản thân (trang 96)
Em hiểu như thế nào về câu kết của bài viết: “Giữ gìn bản sắc của dân tộc không chỉ là phương châm hành động, mà còn là bản năng tồn tại của chúng ta.”? Vấn đề đặt ra trong văn bản trên có ý nghĩa gì với cá nhân em?
Trả lời:
- Cách hiểu: phương châm hành động là nguyên tắc ta chủ động đặt ra và làm theo; bản năng tồn tại là thứ gắn liền với sự sống còn, tự nhiên như hơi thở. Câu kết cho thấy giữ bản sắc không phải khẩu hiệu hay lựa chọn tùy thích, mà là điều kiện để dân tộc còn là chính mình. Một dân tộc đánh mất bản sắc thì dù giàu có vẫn coi như đã tan biến.
- Ý nghĩa với em: em hiểu rằng học ngoại ngữ, dùng công nghệ, yêu thích văn hóa nước ngoài không có gì sai, nhưng cần song song giữ gìn tiếng Việt trong sáng, tôn trọng phong tục, tìm hiểu lịch sử, văn hóa quê hương. Những việc nhỏ như viết đúng chính tả, mặc áo dài trong ngày lễ, giới thiệu món ăn Việt với bạn bè quốc tế cũng là cách mang bản sắc theo mình trên hành trình trưởng thành.
Kết luận
Bài viết của Nguyễn Sĩ Dũng ngắn mà chặt chẽ, giúp em hiểu bản sắc dân tộc là hành trang không thể thiếu khi Việt Nam bước ra thế giới. Khi soạn bài, em cần nắm bố cục ba phần, định nghĩa và biểu hiện của bản sắc, ý nghĩa cặp biểu tượng xe Lếch-xớt – cây ô liu và thông điệp hòa nhập mà không hòa tan.
Xem thêm: