Mở bài Tự tình là đoạn dẫn vào bài nghị luận về bài thơ Nôm Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương, văn bản học ở Bài 3 sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (tập 1) và Bài 2 sách Ngữ văn 10 Cánh diều (tập 1). Mở bài cần gọi đúng tên nữ sĩ, gợi được nỗi buồn tủi lẫn sự phẫn uất trước duyên phận lỡ làng, rồi dẫn thẳng vào vấn đề đề bài hỏi. Dưới đây là 14 mẫu mở bài Tự tình 2 đã viết hoàn chỉnh, từ trực tiếp ngắn gọn đến nâng cao, kèm mẫu theo từng dạng đề.

Cách viết mở bài Tự tình
- Giới thiệu Hồ Xuân Hương bằng một nét nổi bật: nữ sĩ sống khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, được Xuân Diệu gọi là Bà chúa thơ Nôm, thơ thường viết về số phận những người đàn bà.
- Nêu xuất xứ khi cần: trong ba bài Tự tình, đây là bài số hai, viết bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.
- Câu chốt phải bám đề: đề hỏi cả bài thì nêu tâm trạng buồn tủi, phẫn uất và khát vọng hạnh phúc; đề hỏi bốn câu đầu hay bốn câu cuối thì chỉ nhắc phần đó.
- Nếu trích thơ, chỉ chọn một dòng và chép đúng bản trong sách giáo khoa, chẳng hạn “Trơ cái hồng nhan với nước non”.
- Chuyện đời tư của nữ sĩ phần lớn đến từ giai thoại và tộc phả, nên nhắc ngắn gọn, dè dặt, đừng biến mở bài thành một đoạn tiểu sử.
Mở bài trực tiếp Tự tình
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ nổi bật nhất thời trung đại, người được Xuân Diệu gọi là “Bà chúa thơ Nôm”. Tự tình (bài 2) là lời tự bạch của bà trong một đêm khuya không ngủ: vừa xót xa cho duyên phận dở dang, vừa uất ức không chịu cúi đầu trước số phận.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, vấn đề
Hồ Xuân Hương sống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, là con gái nhà nho Hồ Phi Diễn, quê ở Nghệ An. Thơ Nôm của bà nổi tiếng với giọng điệu táo bạo, ngôn ngữ dân dã và tấm lòng luôn hướng về người phụ nữ. Trong số những sáng tác ấy, chùm Tự tình gồm ba bài là lúc nữ sĩ quay ngòi bút về phía chính mình. Tự tình (bài 2) được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, ghi lại tâm trạng của một người đàn bà thức trắng giữa đêm, đối diện với tuổi xuân đang qua mà hạnh phúc vẫn chưa tới. Qua tám câu thơ, ta nhận ra cả nỗi buồn tủi, sự phẫn uất lẫn khát vọng được sống trọn vẹn của Hồ Xuân Hương.
Mở bài gián tiếp Tự tình
Mẫu 3 – từ thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Dưới lễ giáo phong kiến, người phụ nữ hiếm khi được tự chọn lấy đời mình. Họ lấy chồng theo sắp đặt, có người phải về làm vợ lẽ, và phải giấu nỗi buồn sau những khuôn phép tam tòng. Văn chương thời ấy có không ít trang viết thương cảm cho họ, nhưng phần nhiều do nam giới cầm bút. Hồ Xuân Hương thì khác: bà là người phụ nữ tự lên tiếng về nỗi đau của chính mình. Tự tình (bài 2) là một tiếng nói như thế, vừa ngậm ngùi cho mối duyên lỡ dở, vừa chứa một sức phản kháng ngấm ngầm hiếm thấy trong thơ trung đại.
Mẫu 4 – từ danh xưng “Bà chúa thơ Nôm”
Không phải ngẫu nhiên Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm”. Ở thời chữ Hán còn được coi là thứ chữ của văn chương chính thống, bà lại chọn tiếng nói của người bình dân, đưa vào thơ những từ ngữ mộc mạc, những cách nói của ca dao, tục ngữ và làm cho chúng sắc sảo lạ thường. Tài năng ấy không chỉ hiện ra trong những bài thơ vịnh vật tinh nghịch mà còn ở những dòng trữ tình đầy tâm sự. Tự tình (bài 2) là minh chứng rõ nhất: chỉ với tám câu thơ Nôm giản dị, nữ sĩ đã nói được nỗi cô đơn, nỗi xót xa thân phận lẫn mong ước được hạnh phúc của mình.
Mẫu 5 – từ hai giọng thơ của Hồ Xuân Hương
Đọc thơ Hồ Xuân Hương, người ta thường nhớ trước hết một giọng cười: cười cái đạo mạo giả dối của những kẻ tự xưng quân tử, cười thói hống hách của kẻ có quyền. Nhưng phía sau tiếng cười tinh quái ấy có lúc lại là một giọng khác, trầm và buồn hơn, giọng của người đàn bà lặng lẽ đếm từng canh khuya. Tự tình (bài 2) thuộc về giọng thơ thứ hai. Ở đây không còn sự trào lộng, chỉ còn những tâm sự được nói ra bằng tất cả sự chân thành. Thế nhưng ngay trong nỗi buồn, cá tính mạnh mẽ của nữ sĩ vẫn lộ ra qua những hình ảnh rêu mọc xiên, đá nhọn đâm lên đầy phẫn uất.
Mẫu 6 – từ cuộc đời tình duyên lận đận
Theo những gì tộc phả và giai thoại còn ghi lại, đường tình duyên của Hồ Xuân Hương rất lận đận. Bà hai lần lấy chồng thì cả hai lần đều làm lẽ: lần đầu với một người có biệt hiệu Tổng Cóc, lần sau với ông phủ Vĩnh Tường, nhưng cuộc hôn nhân thứ hai chỉ kéo dài hơn hai năm thì người chồng qua đời. Một người phụ nữ tài sắc, giàu sức sống mà phải chia sẻ chồng với người khác như vậy, hẳn đã có nhiều đêm thao thức không biết tỏ cùng ai. Tự tình (bài 2) ra đời từ những nỗi niềm ấy. Bài thơ là lời tự kể đầy chua xót về phận lẽ mọn, đồng thời cho thấy ý chí không cam chịu của người viết.
Mẫu 7 – so sánh với Bánh trôi nước
Trong thơ Hồ Xuân Hương, người phụ nữ thường hiện lên qua những hình ảnh rất đời thường. Ở bài Bánh trôi nước, đó là chiếc bánh nhỏ trắng tròn, chìm nổi theo tay kẻ nặn mà vẫn giữ được tấm lòng son. Nếu bài thơ ấy nói về thân phận phụ nữ nói chung bằng lối ẩn dụ kín đáo, thì Tự tình (bài 2) để chính người phụ nữ cất tiếng xưng mình. Không còn mượn vật để nói người, nữ sĩ đối diện trực tiếp với nỗi cô đơn trong đêm, với tuổi xuân trôi qua và mảnh tình bị chia nhỏ. Đặt hai bài cạnh nhau, ta thấy rõ hơn ý thức về bản thân mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương.
Mẫu 8 – từ tiếng nói cá nhân trong văn học trung đại
Thơ văn thời trung đại vốn đề cao cái chung, ít chỗ cho con người cá nhân bày tỏ nỗi riêng. Vậy mà cùng giai đoạn ấy vẫn có những nhà thơ nữ để lại dấu ấn rất riêng. Bà Huyện Thanh Quan buồn một nỗi buồn trang nghiêm, hoài cổ, đứng trước cảnh Thăng Long đổi thay mà ngậm ngùi. Hồ Xuân Hương lại buồn bằng nỗi buồn của chính đời mình, cụ thể và nóng hổi. Tự tình (bài 2) là bài thơ tiêu biểu cho tiếng nói cá nhân ấy: người viết dám nói thẳng về cảnh lẽ mọn, về tuổi xuân lỡ làng, và cả nỗi bất bình trước số phận mà xã hội áp đặt lên người phụ nữ.
Mẫu 9 – từ hình ảnh tiếng trống canh
Có những trang thơ bắt đầu bằng một âm thanh, và âm thanh ấy theo người đọc mãi. Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương bắt đầu như thế: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”. Tiếng trống vọng từ xa nhưng nhịp lại gấp, như thời gian đang thúc giục, như lòng người đang rối bời. Giữa cái tĩnh mịch của đêm, nhân vật trữ tình thức một mình, nghe từng canh trôi qua và nghĩ về duyên phận của chính mình. Từ âm thanh ấy, bài thơ mở ra cả một thế giới nội tâm buồn tủi, uất ức mà vẫn mong được hạnh phúc của một người đàn bà tài hoa mà bạc phận.
Mẫu 10 – từ hình ảnh vầng trăng khuyết
Trăng là hình ảnh quen thuộc của thơ xưa, thường gắn với vẻ đẹp tròn đầy hay niềm đoàn viên. Nhưng vầng trăng trong Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương lại là một vầng trăng đã xế mà vẫn chưa tròn: “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. Hình ảnh ấy vừa là cảnh thực của một đêm sắp tàn, vừa gợi tuổi xuân đã sang chiều mà hạnh phúc vẫn còn thiếu hụt. Chỉ một câu thơ, nữ sĩ đã gói vào đó cả số phận của mình. Bài thơ vì thế là lời tự tình đầy xót xa của một người phụ nữ khao khát được yêu thương trọn vẹn.
Mở bài Tự tình theo từng dạng đề
Mẫu 11 – đề phân tích bốn câu thơ đầu
Hồ Xuân Hương, nữ sĩ được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”, có chùm ba bài Tự tình để giãi bày nỗi lòng riêng. Ở bài thứ hai, ngay từ bốn câu đầu, người đọc đã gặp một người phụ nữ ngồi một mình giữa đêm, lắng nghe tiếng trống từ xa vọng lại và tìm đến chén rượu cho vơi bớt nỗi buồn. Nhưng rượu chẳng giúp quên được gì: say rồi lại tỉnh, còn vầng trăng thì vẫn khuyết. Phần mở đầu ấy của Tự tình (bài 2) đã khắc họa nỗi cô đơn, nỗi bẽ bàng về thân phận và cảm giác bế tắc của nhân vật trữ tình.
Mẫu 12 – đề phân tích bốn câu thơ cuối
Nếu bốn câu đầu Tự tình (bài 2) là nỗi buồn lặng lẽ trong đêm, thì bốn câu cuối là lúc tâm trạng của Hồ Xuân Hương bùng lên rồi lại chùng xuống. Ở hai câu luận, cảnh vật như mang sức phản kháng của chính con người: từng đám rêu xiên lên mặt đất, mấy hòn đá nhọn xé toạc chân mây. Thế rồi đến hai câu kết, mọi thứ lại trở về với nỗi ngán ngẩm khi xuân cứ đi rồi đến, còn tình duyên chỉ là một mảnh nhỏ phải chia cho người khác. Bốn câu thơ cuối cho thấy cả sự phẫn uất, ý muốn vượt thoát lẫn bi kịch không lối ra của người phụ nữ phải làm lẽ.
Mẫu 13 – đề phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình
Thơ trung đại thường dùng để nói chí, ít khi để con người bày tỏ những cảm xúc riêng tư một cách trực tiếp. Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương là một ngoại lệ đáng chú ý. Ngay nhan đề đã cho biết đây là lời tự giãi bày tình cảm, và người đang bộc bạch trong bài cũng chính là tác giả. Tâm trạng ấy đi qua nhiều cung bậc: cô đơn trong tiếng trống canh, bẽ bàng khi nhìn lại “cái hồng nhan”, phẫn uất qua hình ảnh rêu và đá, rồi chán chường khi nghĩ về tuổi xuân. Đi theo diễn biến ấy, ta hiểu sâu hơn cả bi kịch lẫn bản lĩnh của nữ sĩ.
Mở bài Tự tình nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – từ quy luật của thời gian và tuổi xuân
Thiên nhiên có một vòng tuần hoàn không bao giờ dứt: đông qua thì xuân tới, hoa tàn rồi hoa lại nở. Con người thì không được như vậy. Tuổi xuân của mỗi người chỉ đến một lần, đi qua rồi thì không cách nào gọi lại. Với phụ nữ thời phong kiến, nỗi lo ấy càng day dứt, bởi lỡ thì cũng có nghĩa là khó tìm được một mái ấm trọn vẹn. Hồ Xuân Hương đã nói về nghịch lí ấy bằng một câu thơ ngắn mà nặng trĩu: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”. Tự tình (bài 2) vì thế không chỉ là tiếng than của riêng nữ sĩ mà còn là nỗi ám ảnh của bao người phụ nữ trước thời gian và số phận. Đi vào bài thơ, ta sẽ gặp một tâm hồn vừa đau đớn vừa cứng cỏi, không chịu buông xuôi trước nghịch cảnh.
Nên chọn mẫu mở bài Tự tình nào?
Mở bài Tự tình (bài 2) hay là mở bài gọi đúng tên Hồ Xuân Hương, nói được nét riêng của bài thơ và chốt trúng vấn đề đề bài yêu cầu. Khi làm bài kiểm tra lớp 9, lớp 10 mà thời gian eo hẹp, em nên dùng mẫu trực tiếp; nếu muốn bài văn có dấu ấn, hãy chọn mẫu đi từ tiếng trống canh, vầng trăng khuyết hoặc từ thân phận người phụ nữ xưa. Đừng chép nguyên văn, hãy viết lại bằng giọng của mình và chuẩn bị phần kết tương xứng.
Xem thêm:
- Phân tích Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương
- Soạn bài Tự tình (bài 2) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Tự tình (trang 47, 48) – Ngữ văn 10 Cánh diều
- Tự tình (bài 2) – Hồ Xuân Hương: tác giả, bố cục, nội dung
- Tóm tắt tiểu sử Hồ Xuân Hương
- Kết bài Tự tình (bài 2) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, mở rộng, theo đề